|
Phần I: Biến động kinh tế
Đông Á và vị trí của Việt Nam
Chương 3: Thách thức của kinh tế
Trung Quốc
3.1. Sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc
Như mọi người đều biết, sau quyết định cải cách
vào cuối năm 1978, kinh tế Trung Quốc phát triển rất nhanh. Từ đầu
thập niên năm 1980 đến 1996, kinh tế Trung Quốc lúc nào cũng tăng
trưởng trên dưới 10% (có năm lên đến 15%), trừ hai năm 1989 và 1990
là thời kỳ kinh tế bị ảnh hưởng bởi sự kiện Thiên An Môn (1989). Sau
cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á (1997-98), tốc độ tăng trưởng
của hầu hết các nước trong khu vực giảm nhanh nhưng Trung Quốc vẫn
duy tŕ trong khoảng 7-9% cho đến bây giờ (Biểu đồ 3.1). Như Biểu đồ
3.1 cho thấy, trừ hai năm 1989 và 1990, tăng trưởng của Trung Quốc
lúc nào cũng cao hơn Việt Nam mặc dù kinh tế nước ta phát triển khá
nhanh từ đầu thập niên 1990. Ngoài tốc độ tăng trưởng nhanh và kéo
dài trong một thời gian dài, quá tŕnh phát triển của kinh tế Trung
Quốc c̣n có các đặc điểm đáng chú ư sau:
Thứ nhất, kinh tế Trung Quốc ngày càng hướng
ngoại, mức độ phụ thuộc vào thị trường nước ngoài tăng rất nhanh.
Như Biểu đồ 3.1 cho thấy, tỷ lệ của xuất khẩu trong tổng sản phẩm
trong nước (GDP) vào nửa đầu thập niên 1980 chỉ mới là 6-7% nhưng
hiện nay đă lên tới gần 30%. Đây là con số đáng ngạc nhiên đối với
một nền kinh tế lớn như Trung Quốc.
Thứ hai, xuất khẩu của Trung Quốc ngày càng
nghiêng hẳn về hàng công nghiệp. Năm 1980, hàng công nghiệp chiếm
48% tổng xuất khẩu nhưng 10 năm sau tăng lên 78% và gần đây (2003)
đă lên tới 92%. Hàng xuất khẩu công nghiệp của Trung Quốc hiện nay
rất đa dạng, từ những mặt hàng có hàm lượng lao động giản đơn như
may mặc, giày dép, dụng cụ lữ hành, đồ chơi trẻ em, tạp hoá, v.v.,
đến những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao như các loại máy móc.
Đồ điện, điện tử gia dụng, đồng hồ, máy tính cá nhân, xe máy và các
loại máy móc khác chiếm tới 43% tổng xuất khẩu năm 2003
(1).

Trung Quốc đă nhanh chóng trỗi dậy thành một
cường quốc kinh tế, chiếm vị trí hàng đầu thế giới trong sản xuất và
ngoại thương. Năm 2004, GDP của Trung Quốc đạt 1.649 tỷ USD, xếp thứ
bảy trên thế giới. Với đà phát triển hiện nay, chỉ vài năm nữa Trung
Quốc sẽ vượt Italia, Pháp và Anh để lên hàng thứ tư (sau Mỹ, Nhật và
Đức). Kim ngạch xuất và nhập khẩu của Trung Quốc năm 2004 đă lên tới
1.155 tỷ USD, lần đầu tiên vượt Nhật Bản trở thành cường quốc ngoại
thương thứ ba (năm 2000 xếp thứ tám) trên thế giới (sau Mỹ và Đức).
Từ cuối thập niên 1990, dư luận quốc tế đă nói đến Trung Quốc như là
một "công xưởng thế giới" (world factory). Thật vậy, điều tra của
báo Nikkei, tờ nhật báo kinh tế lớn nhất ở Nhật Bản, cho thấy vào
năm 2000, Trung Quốc chiếm 40% tổng lượng sản xuất máy điều hoà
không khí của thế giới, 24% tivi màu, 22% VTR, 11% máy tính cá nhân
(desktop PC), 10% điện thoại di động, v.v.. Xu thế đầu tư tại Trung
Quốc sau đó cho thấy thị phần của Trung Quốc hiện nay c̣n cao hơn.
Ngành xe hơi chẳng hạn, vào năm 2000 Trung Quốc xếp thứ tám trong
những nước sản xuất nhiều nhất thế giới nhưng đến năm 2004 đă tiến
lên hàng thứ tư.
Trừ những ngành có hàm lượng công nghệ cao và
việc sản xuất cũng như quản lư chất lượng đ̣i hỏi kinh nghiệm và
tŕnh độ của cả một hệ thống sản xuất và quản lư nhiều tầng lớp,
điển h́nh là ngành xe hơi, hiện nay, trong các ngành công nghiệp sản
xuất sản phẩm tiêu thụ cuối cùng, Trung Quốc đă dần dần thay thế
Nhật Bản với tư cách là nước sản xuất đứng đầu thế giới. Nhật Bản
ngày càng chuyển các cơ sở sản xuất các ngành này sang Trung Quốc,
thay vào đó là xuất khẩu sang Trung Quốc các sản phẩm trung gian,
các linh kiện, bộ phận điện tử cao cấp
(2).
Tại sao kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh như
vậy? Có thể kể ra ở đây hai nguyên nhân và là hai yếu tố quan trọng
mà Việt Nam có thể tham khảo cho chiến lược công nghiệp hoá:
Một là Trung Quốc tiến nhanh vào cơ chế thị
trường, nhất là trong lĩnh vực sản xuất. Tuy việc cải cách doanh
nghiệp nhà nước không tiến triển nhanh nhưng thay vào đó, doanh
nghiệp ngoài nhà nước được tạo điều kiện về cơ chế để phát triển
nhanh, có thể nói là rất ngoạn mục. Đặc biệt, các doanh nghiệp hương
trấn (town village enterprises, TVEs) đóng vai tṛ đầu tàu trong
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước này
(3). Vào những năm đầu trong quá
tŕnh cải cách của Trung Quốc, TVEs chỉ chiếm dưới 10% lực lượng lao
động có việc làm ở nông thôn, nhưng đến giữa thập niên 1990 tỷ lệ đó
đă tăng lên gần 30%. Tỷ lệ của TVEs trong tổng giá trị sản xuất công
nghiệp của Trung Quốc đă tăng từ 10% năm 1980 lên tới 58% năm 1997
(Lin and Yao 2001, tr. 146). Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài như sẽ nói dưới đây, TVEs là một trong hai
đầu máy kéo lực lượng sản xuất của Trung Quốc theo hướng hiệu suất
hoá và tăng năng lực cạnh tranh, phản ảnh trong thành quả xuất khẩu
đă nói ở trên. Từ năm 1986 đến năm 1997, tỷ lệ của TVEs trong tổng
xuất khẩu của Trung Quốc đă tăng từ 9% lên đến 46% (Lin and Yao
2001, tr.147) (4). Tỷ lệ của
doanh nghiệp nhà nước trong tổng kim ngạch sản xuất công nghiệp đă
giảm từ 54,6% năm 1990 xuống 23,5% năm 2000
(5). Đây là một thành quả rất đáng ngạc nhiên (con
số của Việt Nam hiện nay là gần 40%).
Hai là vai tṛ của đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI). Trong những năm đầu sau khi Luật đầu tư nước ngoài được ban
hành (1979) và bốn khu kinh tế đặc biệt được thành lập (1980), hành
lang pháp lư và kinh tế vĩ mô chưa ổn định, phản ứng của các công ty
đa quốc gia c̣n yếu (6). Nhưng thay vào đó là sự
tích cực hưởng ứng của tư bản Hoa kiều ở Hồng Kông, Đài Loan và các
nước Đông Nam Á ngay từ giai đoạn đầu. Từ đầu thập niên 1990, FDI từ
Âu - Mỹ và Nhật Bản tăng nhanh, góp phần quan trọng vào việc thay
đổi cả chất và lượng của kinh tế Trung Quốc. Tỷ lệ của FDI trong
tổng vốn đầu tư cố định ở nước này tăng từ 4% năm 1991 lên tới 15%
năm 2002 (Yu 2004). Các công ty FDI vào năm 1991 mới đóng 5,7% vào
tổng kim ngạch sản xuất công nghiệp của Trung Quốc nhưng tỷ lệ này
đă tăng lên 27% vào năm 2000 (riêng tỷ lệ này vào năm 2000 tại tỉnh
Quảng Đông là 58%, Phúc Kiến 61%, Thiên Tân 46%, Thượng Hải 55% và
Bắc Kinh 45%) (7). Hiện
nay FDI chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của
Trung Quốc. Một nền kinh tế lớn như Trung Quốc mà vai tṛ của FDI
cao như vậy quả là rất đặc biệt.
3.2. Thách thức đối với ASEAN
Tuy kinh tế Trung Quốc lớn mạnh như vậy nhưng
không phải là không có vấn đề nan giải. Môi trường bị ô nhiễm, thiếu
năng lượng, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng và giữa các giai
tầng gây nên căng thẳng trong xă hội là những vấn đề đang nổi cộm.
Ngoài ra, gần đây một số nghi vấn được đưa ra xung quanh vấn đề thực
lực của kinh tế Trung Quốc. Đặc biệt có ư kiến cho rằng tŕnh độ
công nghiệp, công nghệ của Trung Quốc c̣n thua xa Nhật Bản và với cơ
chế hiện nay Trung Quốc khó có thể theo kịp Nhật Bản, Mỹ về tŕnh độ
và chất lượng phát triển. (8)
Ta không phủ nhận những vấn đề vừa nói nhưng
việc phân tích, đánh giá thành quả của kinh tế Trung Quốc không phải
là chủ đích của cuốn sách này.
Chương này chỉ tập trung phân tích những tác
động của kinh tế Trung Quốc đối với ASEAN, thể hiện ở các mặt như:
cạnh tranh tại các thị trường lớn trên thế giới, cạnh tranh tại thị
trường nội địa và cạnh tranh trong việc thu hút FDI.
Cạnh tranh tại các thị trường lớn
Sức mạnh công nghiệp của Trung Quốc đang tác
động đến các nước ASEAN đă có một tŕnh độ phát triển tương đối cao
như Thái Lan, Malaixia, Philíppin và Inđônêxia (dưới đây gọi chung
là ASEAN-4). Các nước này hiện nay đang đứng trước thách thức về sự
thâm nhập của Trung Quốc tại các thị trường lớn như Nhật Bản và Mỹ.
Như Bảng 3.1 cho thấy, từ năm 1992 đến 2003
(hoặc 2004), vị trí của ASEAN-4 tại thị trường Mỹ và Nhật Bản không
thay đổi đáng kể trong khi Trung Quốc tăng thị phần một cách rất
ngoạn mục. Tại thị trường Nhật Bản, hàng vải vóc, may mặc nhập khẩu
từ Trung Quốc chỉ có 4 tỷ yên vào năm 1990 nhưng đă tăng lên 1.800
tỷ yên vào năm 2000, làm cho tỷ lệ hàng Trung Quốc trong tổng nhập
khẩu của Nhật đối với các mặt hàng này tăng từ 0,2% lên tới 68%
trong thời gian đó. Vào năm 1990, Trung Quốc hầu như chưa xuất khẩu
đồ điện gia dụng sang Nhật nhưng đến năm 2000 đă chiếm gần 30% tổng
lượng nhập khẩu máy điều hoà không khí của nước này, thị phần tương
ứng của máy giặt là 30%, tivi và video là 25%. Về các mặt hàng nhiệt
điện gia dụng như bàn là, nồi cơm điện, v.v., từ năm 1990 đến năm
2000, thị phần của Trung Quốc trong tổng lượng nhập khẩu của Nhật
Bản cũng tăng nhanh. Trong nhập khẩu của Mỹ về các mặt hàng đồ điện
gia dụng, hiện nay Trung Quốc cũng chiếm một tỷ lệ rất lớn (xem thêm
chương 9).

Để dễ phân tích, ta chia hàng công nghiệp thành
năm nhóm. Nhóm A là những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu
là lao động giản đơn, như vải vóc, quần áo, giày dép, dụng cụ lữ
hành, dụng cụ du lịch, v.v.. Nhóm B là những ngành vừa có hàm lượng
lao động cao vừa dùng nhiều nguyên liệu nông lâm thuỷ sản như thực
phẩm gia công các loại, đồ uống, v.v.. Nhóm C là những ngành có hàm
lượng tư bản cao và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản như thép,
hoá dầu. Nhóm D là những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là
lao động lành nghề, lao động có kỹ năng cao với nhiều tŕnh độ khác
nhau, như đồ điện gia dụng, xe máy, máy bơm nước và các loại máy móc
khác, bộ phận điện tử, linh kiện điện tử, v.v.. Nhóm E là những
ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như máy tính, xe hơi,
máy công cụ, các linh kiện, bộ phận điện tử cao cấp, v.v..
Trên thị trường thế giới, so với ASEAN-4, Trung
Quốc đang cạnh tranh mạnh trong các mặt hàng thuộc nhóm A. Những
ngành thuộc nhóm B th́ ASEAN c̣n giữ được lợi thế so sánh. Về nhóm
C, cả Trung Quốc và ASEAN đều không xuất khẩu, chủ yếu sản xuất cho
thị trường trong nước và nh́n chung c̣n kém hiệu suất. Về nhóm E, cả
Trung Quốc và ASEAN c̣n yếu và đây là lĩnh vực đáng chú ư trong giai
đoạn tới, liên quan đến khả năng phát triển của các nước này. Nhóm D
là lĩnh vực đang diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa Trung Quốc và
ASEAN-4. Nh́n chung, ASEAN c̣n chiếm ưu thế, phần lớn là nhờ họ đă
tích cực tiếp nhận FDI của Nhật Bản từ nửa sau thập niên 1980, qua
đó củng cố được những cơ sở sản xuất và xuất khẩu. Tuy nhiên, Trung
Quốc cũng ngày càng củng cố vị trí trong lĩnh vực này. Chẳng hạn,
tại thị trường Nhật, từ năm 1991 đến năm 2000, trong tổng nhập khẩu
máy điều hoà không khí của nước này, thị phần của ASEAN giảm từ vị
trí áp đảo 84% xuống c̣n 35%, trong khi Trung Quốc tăng từ vị trí
không đáng kể (0,1%) đến 29%. Trong nhập khẩu máy giặt, ASEAN giảm
từ 38% xuống 30%, c̣n Trung Quốc từ số không (0%) tăng lên 33%.
Trong nhóm D, tại thị trường Nhật Bản, ASEAN c̣n giữ vị trí ưu thế
trong các mặt hàng như tivi màu, máy tính và phụ tùng máy tính cá
nhân, VCR, bộ vi xử lư (IC). Tại thị trường Mỹ, lợi thế so sánh về
từng mặt hàng và vị trí hiện nay của ASEAN và Trung Quốc cũng giống
như tại thị trường Nhật Bản.
Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO (tháng
11-2001), hàng công nghiệp Trung Quốc thâm nhập dễ dàng hơn vào thị
trường nước ngoài v́ các nước không c̣n đối xử phân biệt giữa hàng
Trung Quốc với hàng nhập khẩu từ nước khác. Đặc biệt là Mỹ, thị
trường lớn nhất của Trung Quốc (theo JETRO 2004, năm 2003 Mỹ chiếm
21% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này), ngay trước khi Trung
Quốc gia nhập WTO, vào tháng 9-2000, đă đồng ư cho Trung Quốc vĩnh
viễn hưởng quy chế tối huệ quốc (từ tháng 7-1998 gọi là quan hệ
thương mại b́nh thường - normal trade relations). Trung Quốc cũng đă
dễ dàng tiếp cận các thị trường EU và Nhật Bản
(9). Mặt khác, việc gia nhập WTO cũng đang tạo điều kiện
cho thị trường dịch vụ của Trung Quốc mở rộng cửa, nhất là dịch vụ
xuất nhập khẩu, có tác động tích cực đến việc xuất khẩu của nước này
v́ FDI của các công ty thương mại quốc tế có nhiều kinh nghiệm trên
thương trường và có mạng lưới thông tin rộng khắp trên thế giới, có
khả năng tăng nhiều trong lĩnh vực thương mại. Một thuận lợi nữa mà
Trung Quốc cũng đă có được là, với tư cách là thành viên của WTO, họ
có một vị thế ngang hàng với các nước khác trong các vụ tranh chấp
liên quan đến hoạt động xuất khẩu (ví dụ như gần đây, nhiều nước,
nhất là Mỹ, thường tố cáo Trung Quốc bán phá giá (dumping) khi hàng
xuất khẩu của nước này tăng mạnh). Nói chung, Trung Quốc sau năm
2001 đă có nhiều thuận lợi trong việc xuất khẩu vào thị trường thế
giới (10).
Trung Quốc tại thị trường ASEAN và ASEAN tại
thị trường Trung Quốc
Hàng công nghiệp Trung Quốc cạnh tranh tại thị
trường ASEAN như thế nào? Nh́n chung, Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu
sang ASEAN với tốc độ nhanh hơn các thị trường khác. Chẳng hạn, từ
năm 1992 đến năm 2002, xuất khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc
sang tất cả các thị trường trên thế giới tăng 4,4 lần, trong khi
xuất khẩu sang năm nước ASEAN (ASEAN-4 cộng với Xingapo) tăng bảy
lần. Hiện nay, tỷ lệ trong tổng xuất khẩu hàng công nghiệp của Trung
Quốc sang ASEAN c̣n nhỏ, mới chỉ gần 6% vào năm 2002, nhưng với đà
tăng trưởng hiện nay, ASEAN sẽ trở thành thị trường quan trọng của
Trung Quốc trong một tương lai không xa (11). Khảo sát t́nh h́nh tại
thị trường nội địa của ASEAN-4, ta thấy Trung Quốc chưa cạnh tranh
được với hàng sản xuất tại bản xứ thuộc các nhóm B, C, D và E, nhưng
cạnh tranh mạnh trong các mặt hàng thuộc nhóm A và từng bước xâm
nhập thị trường của nhóm D. Trong nhóm D, nhất là sản phẩm đồ điện
gia dụng, hàng nội địa ASEAN mà chủ yếu là do doanh nghiệp Nhật Bản
sản xuất (xem Chương 9) hiện nay vẫn giữ ưu thế. Tuy nhiên, theo
đánh giá của giới kinh doanh Nhật Bản tại Thái Lan và Malaixia,
trong 3-4 năm tới, nhăn hiệu Trung Quốc sẽ thâm nhập mạnh hơn v́
hiện nay hàng Trung Quốc ngày càng được đánh giá tốt về phẩm chất và
mẫu mă.
Với việc gia nhập WTO, Trung Quốc có cơ hội
tăng năng lực cạnh tranh hơn nữa trong những ngành thuộc nhóm A và
D, và sức ép Trung Quốc đối với ASEAN sẽ mạnh hơn
(12). Tuy vậy, mấy năm gần đây, các nước
ASEAN-4 đă đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc và
đang t́m cách thâm nhập vào thị trường này hơn nữa.
Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, thuế quan nhập
khẩu giảm nên hàng công nghiệp nước ngoài, kể cả ASEAN, thâm nhập dễ
dàng hơn trước. Theo cam kết với Mỹ trong quá tŕnh thương lượng để
Trung Quốc gia nhập WTO, thuế quan b́nh quân của tất cả hàng công
nghiệp phải giảm từ 24,6% năm 1997 xuống c̣n 9,4% vào năm 2005. Tất
nhiên, tuỳ theo ngành công nghiệp mà mức thuế hiện hành và mức thuế
dự kiến sau khi cắt giảm cũng khác. Máy tính và các loại máy móc
liên quan đến internet th́ mức thuế hiện hành (vào thời điểm năm
2002) là 13,3%, sẽ được cắt giảm toàn bộ và vào năm 2005 thuế suất
sẽ là 0%. Các sản phẩm mà Mỹ đặc biệt quan tâm như gỗ chế biến,
giấy, sản phẩm hoá học, máy móc liên quan đến y khoa,... phần lớn
phải giảm c̣n 7% vào năm 2003. Thuế suất trong ngành xe hơi hiện nay
rất cao, b́nh quân từ 80 đến 100%, sẽ cắt giảm dần và đến tháng
7-2006 sẽ c̣n 25%. Ngoài ra, Trung Quốc cũng phải từng bước băi bỏ
hàng rào phi thuế quan. Chẳng hạn, trong 115 mặt hàng công nghiệp
gồm vải vóc, may mặc, đồ điện gia dụng, xe hơi... Trung Quốc đă áp
dụng chính sách hạn chế số lượng nhập khẩu, nhưng để gia nhập WTO,
Trung Quốc phải dần dần băi bỏ hạn chế này sau một giai đoạn chuyển
tiếp từ hai đến tám năm, hầu hết là đến năm 2005 phải băi bỏ. Riêng
về xe hơi, cho đến thời điểm gia nhập WTO, Trung Quốc nhập khẩu mỗi
năm không quá hạn ngạch 6 tỷ USD, nhưng sau đó mỗi năm tăng từ 10
đến 15% và đến năm 2005 th́ chấm dứt chế độ hạn ngạch này
(13). Với cam kết này, thị trường Trung Quốc ngày càng rộng mở
đối với hàng công nghiệp nước ngoài.
Như sẽ phân tích chi tiết hơn trong Chương 6,
các nước ASEAN-4 đă thành công trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng
công nghiệp sang Trung Quốc. Nh́n chung, quan hệ thương mại giữa
ASEAN-4 với Trung Quốc là quan hệ thương mại hàng ngang (cùng xuất
và nhập khẩu hàng công nghiệp với nhau).
Cạnh tranh trong việc thu hút FDI
Từ giữa thập niên 1980, FDI chảy ào ạt vào
ASEAN-4, đặc biệt là Thái Lan và Malaixia. V́ cơ sở hạ tầng và nguồn
cung cấp nhân lực không tăng kịp nhu cầu, nên từ sau năm 1997, FDI
vào ASEAN có khuynh hướng giảm hoặc tăng chậm. Trong bối cảnh đó,
Trung Quốc, một thị trường lớn và là nguồn lao động phong phú, ngày
càng ổn định về kinh tế vĩ mô và hành lang pháp lư, đă thu hút dần
FDI từ hầu hết các nước tiên tiến và một số nước có người Hoa ở châu
Á.
Theo Biểu đồ 3.2, cho đến năm 1992, FDI ṛng
(14). chảy vào tám nước ASEAN (không kể
Xingapo và Brunây) nhiều hơn là vào Trung Quốc nhưng sau cuộc khủng
hoảng tiền tệ châu Á (1997), FDI vào ASEAN giảm liên tục, trong khi
đó FDI vào Trung Quốc tăng với tốc độ rất nhanh, tạo ra một khoảng
cách lớn giữa hai bên. Biểu đồ 3.2 v́ thống kê đă trừ đi FDI đi ra
và lợi nhuận chuyển ra nước ngoài nên không cho thấy rơ khuynh hướng
thu hút FDI. Trong Biểu đồ 3.2, FDI là vốn đăng kư nên cho thấy
khuynh hướng rơ hơn. Nhưng theo h́nh này, bức tranh từ năm 1998 trở
đi cũng không khác Biểu đồ 3.3 nhiều.
Về việc Trung Quốc thu hút FDI, việc gia nhập
WTO có hai tác động trái ngược. Một mặt, do hàng rào quan thuế và
hàng rào phi thuế quan sẽ bị băi bỏ hoặc hạ xuống mức thấp, nên
doanh nghiệp nước ngoài sẽ đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều
hơn trước. Những dự án FDI vào Trung Quốc nhằm mục đích tránh hàng
rào thuế và phi thuế đồng thời được bảo hộ tại thị trường nội địa sẽ
giảm đi và thay bằng xuất khẩu từ các căn cứ sản xuất ở ngoài Trung
Quốc. Mặt khác, do các quy chế liên quan đến hoạt động của các công
ty có vốn nước ngoài sẽ bị băi bỏ, nhất là các quy chế liên quan đến
hoạt động thương mại.(15) Chẳng hạn, nguyên tắc
cân bằng ngoại tệ (phải xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu), yêu cầu
phải mua nguyên liệu và sản phẩm trung gian tại bản xứ (gọi là local
content) sẽ không c̣n áp đặt trên công ty có vốn nước ngoài. Do t́nh
h́nh mới này, tháng 10-2000, Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đă sửa
đổi Luật công ty liên doanh với nước ngoài và Luật công ty vốn nước
ngoài. Ngoài ra, trước sức cạnh tranh ngày càng tăng của hàng nhập
khẩu, các công ty của Trung Quốc, nhất là các doanh nghiệp nhà nước,
sẽ phải đổi mới thiết bị, công nghệ, đổi mới cơ chế quản lư để tăng
sức cạnh tranh, và một trong những biện pháp là tích cực liên doanh
với doanh nghiệp nước ngoài. (16)

Đây cũng là yếu tố làm
tăng FDI. Tuy nhiên, dù có hai tác động trái ngược song
nh́n chung tổng lượng FDI có khuynh hướng tăng lên v́ hiệu quả thứ
hai mạnh hơn. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, ḍng chảy của FDI vào
nước này đă tăng mạnh. Vốn đăng kư FDI vào Trung Quốc đă tăng từ 69
tỷ USD vào năm 2001 lên 83 tỷ năm 2002, rồi 115 tỷ năm 2003 và 154
tỷ USD năm 2004.

FDI vào Trung Quốc ảnh hưởng trực tiếp đến
ASEAN như thế nào? FDI có mục đích sản xuất để cung cấp cho thị
trường trong nước th́ không ảnh hưởng đến FDI vào ASEAN. Tuy nhiên,
sẽ có sự cạnh tranh gay gắt giữa Trung Quốc và ASEAN trong việc thu
hút FDI có mục đích sản xuất để xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản và các
nước thứ ba khác. Ở Trung Quốc, một phần không nhỏ FDI hướng vào thị
trường nội địa, nhưng FDI hướng vào xuất khẩu cũng lớn và do đó sẽ
là áp lực mạnh đối với ASEAN v́ các lư do sau: Thứ nhất, FDI tại
Trung Quốc ngày càng giữ một vai tṛ quan trọng trong xuất khẩu của
nước này. Hiện nay, như đă đề cập, hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của
Trung Quốc là do hoạt động của các công ty có vốn nước ngoài. Dù cho
thị trường nội địa rộng lớn, Trung Quốc vẫn có ưu thế là căn cứ sản
xuất hàng công nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là những đặc khu kinh tế,
những khu phát triển ven biển. Do đó, không thể đánh giá thấp luồng
FDI vào Trung Quốc nhằm sản xuất cho thị trường các nước thứ ba.
Hiện nay, các mặt hàng máy móc, điện tử ngày càng chiếm vị trí quan
trọng trong ngoại thương của thế giới và các doanh nghiệp nước ngoài
ngày càng chọn Trung Quốc là căn cứ sản xuất các mặt hàng này. Trên
thực tế, các mặt hàng đó cũng ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong
tổng xuất khẩu của các công ty có vốn nước ngoài hoạt động tại Trung
Quốc (17). Thứ hai, như đă đề cập, dưới sức ép của hàng
nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp nhà nước phải tăng sức cạnh tranh bằng
cách hợp tác hơn với các doanh nghiệp nước ngoài dưới nhiều h́nh
thức. Thứ ba, như Biểu đồ 3.3 cho thấy, ḍng chảy FDI vào Trung Quốc
đă gấp năm lần so với ḍng chảy vào ASEAN, do đó cho dù trong tổng
FDI vào Trung Quốc, chỉ có 1/3 là hướng vào xuất khẩu, nhưng nó cũng
trở thành một lực lượng mạnh hơn toàn ḍng chảy FDI vào ASEAN.
Như vậy, trong thập niên 1990, ḍng chảy FDI
vào châu Á đă chuyển từ ASEAN sang Trung Quốc và khuynh hướng đó
càng mạnh hơn trong những năm đầu của thế kỷ XXI.
Đối sách của ASEAN
Như vậy, có thể thấy thách thức của Trung Quốc
đối với ASEAN là rất lớn. Để giảm ảnh hưởng của thách thức và tranh
thủ cơ hội trước thị trường mở rộng của Trung Quốc, nhiều nước ASEAN
đă đưa ra các chiến lược đối phó. Đặc biệt, chiến lược của Thái Lan
rất đáng chú ư. ễÛ đây ta không thể đi vào chi tiết về từng nước.
(18) Phương hướng chiến lược đối phó của ASEAN
nh́n chung có ba điểm sau:
Thứ nhất, trong những ngành có hàm lượng lao
động cao mà hiện nay cả Trung Quốc và ASEAN đang cạnh tranh tại thị
trường ở các nước thứ ba, ASEAN một mặt nhanh chóng tăng năng suất
lao động để giữ cho tiền lương năng suất
(19).ở mức thấp và mặt
khác, tăng hàm lượng tri thức trong sản phẩm tiiêu thụ cuối cùng để
tạo nên những mặt hàng có nét độc đáo. Chẳng hạn, tăng tính thời
trang trong hàng may mặc, nhấn mạnh sự quan trọng của kiểu dáng, sự
tiện dụng trong sản phẩm tạp hoá, đồ dùng trong nhà, trong văn
pḥng, v.v..
Thứ hai, nỗ lực chuyển dịch cơ cấu công nghiệp
nhanh chóng xác lập lợi thế so sánh trong những ngành liên quan đến
máy móc. Phạm vi các ngành này rất rộng và có thể chia làm hai nhóm
chính có vị trí ngày càng quan trọng trong ngoại thương và phân công
lao động quốc tế. Nhóm thứ nhất là các loại máy móc dùng trong gia
đ́nh và văn pḥng như công nghệ thông tin phần cứng (máy tính, điện
thoại di động, máy in, máy fax, linh kiện và bộ phận điện tử...), đồ
điện, điện tử gia dụng. Như đă phân tích, Trung Quốc và nhiều nước
ASEAN như Malaixia và Thái Lan cùng ở trong quá tŕnh tăng lợi thế
so sánh trong nhóm này. Chiến lược của ASEAN là tạo môi trường để
tiếp tục thu hút FDI. Nhóm thứ hai là các loại máy móc cao cấp có
hàm lượng công nghệ rất cao như xe hơi, máy công cụ, máy kỹ thuật
số, người máy... Các loại máy móc này Trung Quốc sẽ nhập khẩu nhiều,
nhưng trước mắt, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan... đang có lợi thế
và sẽ là những nơi xuất khẩu chính. Tuy nhiên, ASEAN cũng cố gắng
tạo điều kiện để các công ty đa quốc gia chọn làm căn cứ sản xuất
một số bộ phận của các loại máy móc đó.
Thứ ba, để thu hút FDI nhiều hơn, nhiều nước
ASEAN đang cố gắng cải thiện các điều kiện về mặt cung cấp của nền
kinh tế như lao động, cơ sở hạ tầng... Theo nhiều nhà đầu tư nước
ngoài, từ thập niên 1990, nhiều nước ASEAN thiếu hụt nghiêm trọng
đội ngũ lao động có kỹ năng cao gây trở ngại cho việc chuyển dịch cơ
cấu đầu tư của họ. Đặc biệt, trên thị trường lao động, lao động giản
đơn th́ dư thừa quá nhiều trong khi kỹ sư nhà máy và các chuyên viên
có tŕnh độ cao trong các ngành khoa học tự nhiên th́ cung không đủ
cầu nên tiền lương rất cao, khiến cho môi trường đầu tư tại ASEAN
kém hấp dẫn. Đặc biệt, đáng lưu ư là Trung Quốc đă đi trước nhiều
nước ASEAN trong việc giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn, cứ một triệu
dân th́ Trung Quốc có 350 kỹ sư hoặc nhà khoa học, trong khi Thái
Lan chỉ có 119 và Malaixia c̣n ít hơn (chỉ có 87)11. Theo Yusuf and
Evenett (2002), tr.43. . Theo điều tra của Trung tâm JETRO tại Băng
Cốc, hiện nay hằng năm Trung Quốc đào tạo 41 vạn sinh viên các ngành
khoa học tự nhiên như cơ khí, điện tử, vật lư và toán (nghĩa là
trung b́nh 3.000 dân có một sinh viên ngành này), trong khi Thái Lan
chỉ có 1 vạn (phải 6.000 dân mới có một sinh viên)
(20)
3.3. Thách thức đối với Việt Nam
Như sẽ phân tích trong Chương 6, khác với
ASEAN-4, quan hệ ngoại thương của Việt Nam với Trung Quốc là quan hệ
hàng dọc (vertical trade). Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc chủ
yếu là hàng công nghiệp trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc
chủ yếu là nguyên liệu, nông lâm thuỷ sản. Nguyên nhân của t́nh
trạng này là do Trung Quốc trong thời gian ngắn đă thành công trong
việc trở thành “công xưởng thế giới” trong khi tốc độ công nghiệp
hoá của ta chậm hơn và ít hiệu quả hơn (cơ cấu xuất khẩu hàng công
nghiệp chuyển dịch chậm v́ năng lực cạnh tranh c̣n giới hạn trong
một vài ngành có hàm lượng lao động giản đơn cao). Quan hệ ngoại
thương hàng dọc kéo dài cho đến nay chứng tỏ Việt Nam chưa tận dụng
được cơ hội thị trường do kinh tế Trung Quốc mang lại, ngược lại,
thách thức của Trung Quốc đối với quá tŕnh công nghiệp hoá của ta
sắp tới là rất lớn.
Ngoài yếu tố này, diễn tiến của t́nh h́nh khu
vực châu Á gần đây cho thấy thách thức từ Trung Quốc có thêm một nội
dung mới: Chiến lược của Trung Quốc đối với AFTA. Sau năm 2003, các
nước ASEAN-4 thực hiện những cam kết về giảm thuế đối với hàng nhập
khẩu từ các nước thành viên và như vậy, Trung Quốc sẽ bất lợi so với
các nước ASEAN trong việc xuất khẩu sang thị trường này. Để tránh
t́nh h́nh đó, nhiều công ty Trung Quốc đă bắt đầu tích cực đầu tư
sang các nước ASEAN để lách khỏi hàng rào thuế quan mà hàng sản xuất
tại Trung Quốc phải trực diện. Hiện nay, Việt Nam là một địa điểm
đầu tư quan trọng của Trung Quốc với mục đích này. Từ năm 1999, công
ty TCL của Trung Quốc đă sản xuất tivi màu tại Việt Nam, mục tiêu
đến năm 2004 sẽ chiếm 20% thị trường nội địa (năm 2000 là 4%) và
từng bước xuất khẩu sang các nước ASEAN khác11. Theo Maruya và
Ishikawa (2001). Hiện nay (tháng 8-2005) tôi chưa có số liệu để kiểm
chứng mục tiêu năm 2004 của TCL. . Trong chiến lược dài hạn, Trung
Quốc muốn kết hợp với ASEAN thành một thị trường thống nhất qua việc
kư kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Chương 6 sẽ phân tích.
Chương 6 sẽ cho thấy thách thức của Trung Quốc càng mạnh hơn. Nói
chung, thách thức từ sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc đối với Việt
Nam sẽ mạnh hơn nhiều so với các nước ASEAN khác.
Đối sách của Việt Nam là phải phát triển nhanh
hơn, hiệu quả hơn với chất lượng cao hơn Trung Quốc. Trong hơn 10
năm qua, kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ khá cao, nhưng như
Biểu đồ 3.1 cho thấy, trong 20 năm qua, hầu như lúc nào kinh tế
Trung Quốc cũng phát triển nhanh hơn Việt Nam nên hiện nay giữa ta
với Trung Quốc có một khoảng cách khá lớn. Bảng 3.2 cho thấy hiện
nay tổng thu nhập đầu người của Việt Nam mới bằng khoảng một nửa
Trung Quốc, một nước có số dân đông gấp 16 lần nước ta và bao gồm cả
một vùng phía Tây rộng lớn c̣n rất nghèo. Xét riêng về tŕnh độ công
nghiệp hoá, khoảng cách giữa hai nước cũng lớn. Kim ngạch xuất khẩu
hàng công nghiệp tính trên đầu người của Trung Quốc gấp 2,2 lần Việt
Nam hiện nay và các loại máy móc chỉ chiếm 8% trong tổng xuất khẩu
của Việt Nam (xem Bảng 2.4, Chương 2), trong khi con số tương ứng
của Trung Quốc là trên 40%.

Thử so sánh Việt Nam với riêng tỉnh Quảng Đông
của Trung Quốc, một tỉnh có nhiều điều kiện địa lư và dân số gần
giống nước ta, ta thấy sự cách biệt càng lớn hơn nhiều. Về dân số,
tỉnh Quảng Đông (73 triệu vào giữa năm 2003) và Việt Nam gần như
nhau. Cả hai cùng có bờ biển dài tiếp cận dễ dàng với thị trường và
công nghệ của vùng năng động tây Thái B́nh Dương. Bảng 3.2 cho thấy,
nếu tính trên đầu người, tỉnh Quảng Đông có mức tổng thu nhập b́nh
quân cao gấp 3,5 lần Việt Nam và kim ngạch xuất khẩu hàng công
nghiệp lớn gấp 20 lần nước ta. Ngoài ra, b́nh quân trong ba năm 1999
- 2001, mỗi người dân Trung Quốc tiếp nhận kim ngạch đầu tư nước
ngoài (FDI) nhiều gần gấp đôi người Việt Nam. Nếu tính theo vốn đăng
kư FDI năm 2004, kim ngạch trên đầu người của Trung Quốc là 120 USD,
gấp 4,3 lần Việt Nam (28 USD). Tính riêng tỉnh Quảng Đông, kim ngạch
tiếp nhận FDI đầu người (b́nh quân 1999-2001) gấp 7,6 lần Việt Nam.
V́ FDI hiện nay sẽ làm tăng công suất sản xuất và nhất là tăng sức
cạnh tranh trong tương lai nên t́nh h́nh hiện tại cho thấy ta sẽ
tiếp tục đi chậm hơn Trung Quốc rất nhiều.
Một điểm nữa đáng nêu ra ở đây là phát triển
của ta hiện nay kém hiệu suất v́ chưa phát huy lợi thế so sánh, và
c̣n dựa vào vốn đầu tư từ ngân sách và vốn vay ưu đăi từ nước ngoài.
Viện trợ nước ngoài tiếp tục tăng trong t́nh h́nh FDI mới bắt đầu
hồi phục sau một thời gian dài giảm sút là điều đáng lo ngại. Trong
lúc đó Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và hiệu suất cao hơn nhiều v́
dựa vào tư bản tư nhân và vốn đầu tư trực tiếp (FDI), phản ảnh trong
việc ngày càng xuất khẩu mạnh mẽ hàng công nghiệp. Nếu không có sự
chuyển hướng chiến lược và mạnh dạn cải cách, Việt Nam sẽ tụt hậu xa
hơn nữa.
TRẦN VĂN THỌ
(1) Số liệu
năm 2003 dựa theo JETRO Boueki Toshi Hakusho (Sách Trắng về thương
mại và đầu tư của JETRO), 2004. Số liệu năm 1980 và 1990 tính từ
thống kê thương mại Liên hợp quốc. .
(2) Theo Mino (2001), hiện tượng nầy xảy ra từ
khoảng 1995/1996, đánh dấu khả năng của TQ trong việc sản xuất với
giá thành rẽ và phẩm chất cao các sản phẩm tiêu thụ cuối cùng, đặc
biệt là đồ điện gia dụng.
(3) Về h́nh thức, phần lớn TVEs do chính quyền hương
trấn ở địa phương sỡ hữu, một loại sở hữu tập thể giống như hợp tác
xă, nhưng trên thực tế, các loại daonh nghiệp nầy hoạt động như
doanh nghiệp tư nhân. Các chính quyền địa phương cạnh tranh nhau để
kinh tế nơi ḿnh phát triển nên có nhiều biện pháp hỗ trợ TVEs, nhất
là giúp TVEs thoát khỏi các vướng mắc về pháp lư, về thủ tục hành
chánh. Sách, luận văn về TVEs có rất nhiều, nhưng Kato (2001) và Lin
and Yao (2001) là những luận văn tóm lược được các đặc tính quan
trọng nhất của TVEs.
(4) Chương 14 trong sách nầy có bàn về việc cải cách
ở nông thôn Trung Quốc, trong đó cho thấy thành quả của cải cách
trong nông nghiệp đă giúp cho TVEs đẩy nhanh quá tŕnh tich luỹ tư
bản.
(5) Năm 2000 theo số liệu của Kwan (2004), những năm
trước đó theo số liệu tính từ Niên giám thống kê Trung Quốc.
(6) Trong 4 năm đầu (1979-82) chỉ có 83 dự án được
cấp giấy phép, so với 1.412 dự án năm 1985. Con số dự án lên tới
12.987 năm 1991 và 41.081 năm 2003.
(7)Theo tư liệu trong RIM Vol 3 No. 8 năm 2003.
(8) Xem, chẳng hạn, Gilboy (2004). Kwan (2005).
(9) Từ năm 2002 Trung Quốc vượt Mỹ trở thành
nước có thị phần lớn nhất trong tổng nhập khẩu của Nhật.
(10) Xem thêm Đỗ TK (2005), một luận văn đánh giá
nhiều mặt của kinh tế Trung Quốc sau 4 năm gia nhập WTO.
(11) Các số liệu nầy được tính từ ma trận mậu dịch
ở Chương 4 (Biểu 4-2).
(12) Về chi tiết, xem Trần VT (2001b)
(13) Nội dung những cam kết của Trung Quốc sau khi
gia nhập WTO chủ yếu tham khảo từ Samejima et al. (2001) và Ebina et
al. (2000).
(14) FDI ṛng là vốn FDI vào (FDI inflows) đă
được thực hiện trừ đi vốn FDI ra (outflows) đă thực hiện và các
khoản tiền lời đầu tư do công ty đa quốc gia chuyển về nước.
(15) Gọi là TRIM (Trade-Related Investment
Measures).
(16) Từ đầu năm 2000, trước triển vọng gia
nhập WTO, nhiều địa phương TQ đă đặt kế hoạch liên doanh với nước
ngoài. Chẳng hạn liên doanh sản xuất xe hơi với Toyota, sản xuất
điện thoại di động với Motorola t ại Thiên Tân, liên doanh khai thác
chất bán dẫn với công ty Điện Mitsubishi tại Bắc kinh, liên doanh
sản xuất hoá chất với BASF (Đức) tại Nam Kinh,...được xúc tiến. Theo
Nikkei Shinbun, 21.4.2000 và 6.7.2000.
(17) Theo Jiang Xiaojuan (2001), tỉ trọng đó
tăng từ 44% năm 1996 lên 52% năm 1999.
(18) Về Thái Lan, xem Chương 5.
(19) Efficiency wage, tức tiền lương danh nghĩa
chia cho năng suất lao động.
(20) Nihon Keizai Shinbun, 31.5.2001. Xem
thêm Đỗ TK (2005) về thành quả gần đây của Trung Quốc trong việc xây
dựng nguồn nhân lực chất lượng cao.
(21) Theo Maruya và Ishikawa (2001). Hiện nay
(8/2005) tôi chưa có số liệu để kiểm chứng mục tiêu năm 2004 của
TCL.
< Xem Mục Lục>
®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com
|
|