|
Phần I: Biến động kinh tế
Đông Á và vị trí của Việt Nam
Chương 2: Làn sóng công nghiệp
Đông Á đầu thế kỷ XXI
Thương trường của Việt Nam đang mở rộng ra khắp
thế giới. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khuynh hướng này sẽ càng
mạnh hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước mắt, thách thức trực tiếp
và cũng là cơ hội đối với công nghiệp Việt Nam là ở khu vực Đông Á.
Tại đây, hai trào lưu đang nổi cộm và sẽ tác động đến sự phát triển
của công nghiệp Việt Nam, đó là sự biến động trong làn sóng công
nghiệp Đông Á và khuynh hướng tự do thương mại trong khu vực.
Hiểu đúng tính chất và tác động của hai trào
lưu này để định được phương hướng chiến lược cho công nghiệp hoá
trong giai đoạn tới là vấn đề tối quan trọng của kinh tế Việt Nam
hiện nay. Chương này tập trung phân tích trào lưu thứ nhất, về sự
biến động của làn sóng công nghiệp Đông Á, đặc biệt tìm hiểu xem sự
phân công lao động giữa các nước đã thay đổi ra sao và vị trí của
Việt Nam là ở đâu trong bản đồ công nghiệp hiện nay.
2.1. Việt Nam trong làn sóng công nghiệp
Đông Á: Mô hình đàn sếu bay xưa và nay
Mô hình đàn sếu bay trước thử thách mới
Trong mấy thập kỷ qua, phát triển công nghiệp
lan tỏa nhanh tại khu vực Đông Á, bắt đầu từ Nhật Bản sang Hàn Quốc,
Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo (gọi chung là nhóm NIEs) sau đó đến bốn
nước ASEAN phát triển trước (Malaixia, Thái Lan, Philíppin và
Inđônêxia, dưới đây gọi chung là ASEAN-4) rồi Trung Quốc, v.v.. Hiện
tượng này được diễn tả bằng mô hình đàn sếu bay (flying-geese
development pattern) với các nội dung có thể được tóm tắt như sau
(1) Do vùng Đông Á gồm nhiều nhóm nước có các giai đoạn phát
triển khác nhau, nên một ngành công nghiệp (tạm gọi là ngành A)
thường được bắt đầu phát triển tại Nhật Bản, sau đó chuyển sang NIEs
rồi ASEAN-4, sau nữa là đến Trung Quốc và tiếp theo có thể là Việt
Nam và các nước khác; các nước đi trước sau khi mất lợi thế so sánh
trong ngành A đã nỗ lực chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang những
ngành có giá trị gia tăng cao với trình độ công nghệ cao hơn (ngành
B rồi C, D, v.v.. khi B, C… cũng như A chuyển dần sang các nước khác).
Đây là hiện tượng đuổi bắt (catch-up) nhiều tầng trong quá trình
công nghiệp hoá ở Đông Á, tạo nên tính năng động của khu vực này.
Yếu tố đưa đến hiện tượng này là nỗ lực tích luỹ tư bản, công nghệ
tại các nước đi sau và quá trình đó được thúc đẩy bằng đầu tư trực
tiếp và các hình thái chuyển giao công nghệ khác từ các nước đi
trước.
Cho đến đầu thập niên 1990, hầu hết các nhà
nghiên cứu kinh tế đều cho rằng việc áp dụng mô hình đàn sếu bay để
giải thích sự lan toả của công nghiệp tại vùng Đông Á là có cơ sở.
Nhìn toàn cục, ta thấy có sự tiến triển nhanh trong việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của các nước theo hướng công nghiệp hoá, các nước đi
sau đuổi theo các nước đi trước, rút ngắn khoảng cách phát triển
công nghiệp. Chẳng hạn, Biểu đồ 2.1 cho thấy hiện tượng đuổi bắt ấy
trong lĩnh vực xuất khẩu. Hiện nay, tại hầu hết các nước Đông Á, 80%
kim ngạch xuất khẩu là hàng công nghiệp (NIEs, không vẽ trong hình,
đã đạt mức gần 100% từ thập niên 1980). Ngay cả tại Inđônêxia, một
nước trước đây chuyên xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt, tỷ trọng của công
nghiệp trong tổng xuất khẩu cũng đã đạt mức 60%.

Khảo sát sự phát triển của từng ngành công
nghiệp ta cũng thấy có hiện tượng đuổi bắt tương tự. Chẳng hạn,
trường hợp ngành dệt may, lợi thế so sánh chuyển từ Nhật Bản sang
NIEs vào đầu thập niên 1970, sang ASEAN-4 từ thập niên 1980 và từ
cuối thập niên đó chuyển sang Trung Quốc. Một thí dụ khác: cho đến
thập niên 1970 mới chỉ có Nhật Bản sản xuất tivi màu, nhưng ngành
này bắt đầu phát triển tại Hàn Quốc và Đài Loan từ cuối thập niên
1970, rồi tại Malaixia và Thái Lan từ cuối thập niên 1980, và Trung
Quốc trở thành nước sản xuất tivi màu nhiều nhất thế giới từ nửa sau
thập niên 1990. Do quá trình đuổi bắt này, lượng sản xuất tại Nhật
Bản giảm nhanh và phải nhập khẩu nhiều từ các nước Đông AÙ (Nhật sản
xuất 15 triệu chiếc tivi màu năm 1990 nhưng chỉ còn độ 3 triệu chiếc
vào năm 2000, trong thời gian đó nhập khẩu tăng từ 1 đến 9 triệu
chiếc).
Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990, với sự phát
triển mạnh mẽ của Trung Quốc, sự phát triển của công nghệ thông tin,
sự rút ngắn nhanh chóng khoảng cách công nghệ giữa các nước, nhiều
người đã đặt nghi vấn về tính thuyết phục của mô hình đàn sếu bay
(2). Từ các nghi vấn này, có thể nêu vài điểm quan
trọng nhìn từ góc độ Việt Nam: thứ nhất, với quy mô và tốc độ phát
triển của Trung Quốc, với vùng tây nam rộng lớn và chưa phát triển
của nước này, làn sóng công nghiệp có thể sẽ không lan toả tiếp
xuống các nước có trình độ phát triển thấp hơn như Việt Nam mà lan
rộng trong nội bộ Trung Quốc. Thứ hai, Trung Quốc xuất khẩu hầu như
tất cả các loại hàng công nghiệp, từ các ngành có hàm lượng lao động
cao đến các sản phẩm sử dụng nhiều tư bản và công nghệ cao, gây ra
sự bất ổn trong trật tự phân công lao động ở Đông Á; các nước đi sau
như Việt Nam khó chen chân vào cơ cấu phân công mới này, các nước
ASEAN, NIEs và cả Nhật Bản cũng đứng trước một thách thức lớn. Dưới
đây sẽ kiểm chứng các luận điểm này.
Khuynh hướng mới của làn sóng công nghiệp Đông
Á
Khảo sát những khuynh hướng, đặc tính của sự
phân công lao động hiện nay tại vùng Đông Á có thể thấy bức tranh
công nghiệp khu vực có những đặc tính sau:
Thứ nhất, khu vực này đang ngày càng trở thành
nhà máy sản xuất hàng công nghiệp của thế giới, đặc biệt là các loại
máy móc từ đồ điện gia dụng, xe hơi, xe máy, máy chụp hình... đến
các loại phần cứng của công nghệ thông tin như máy tính cá nhân,
điện thoại di động. Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên khi xem thị
phần của các nước này trong tổng lượng sản xuất của thế giới. Hiện
nay, Đông Á sản xuất khoảng 95% máy nghe nhạc DVD, 85% máy tính xách
tay, gần 100% ổ đĩa cứng máy tính, 70% máy cát xét (cassette), gần
80% máy phim đèn chiếu (VTR), 80% máy điều hoà không khí, 60% tivi
màu và 30% xe hơi của thế giới. Công nghiệp hoá tiến nhanh và cơ cấu
ngày càng hướng vào những ngành có giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, do tiền lương và phí tổn sản xuất giữa
các nước không đồng đều, trong khi đó chu kỳ công nghệ của các ngành
ngày càng rút ngắn nên cơ sở sản xuất chuyển dịch nhanh từ nước này
sang nước khác. Khi công nghệ vừa được khám phá và triển khai thì cơ
sở sản xuất được đặt tại nước có công nghệ hoặc những nơi có nguồn
nhân lực có trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật cao. Nhưng khi công
nghệ đã được tiêu chuẩn hoá thì cơ sở sản xuất di chuyển đến những
nơi mà nhân công lao động thấp, tài nguyên, vật liệu trung gian huy
động dễ dàng. Tại Đông Á, ta đã thấy các nhà máy trong nhiều ngành
công nghiệp đã di chuyển từ Nhật Bản sang các nền kinh tế công
nghiệp hoá mới như Hàn Quốc, Đài Loan, rồi sau đó chuyển sang ASEAN
và Trung Quốc. Nhiều nước giữ vị trí áp đảo trong một số ngành nào
đó, nhưng chỉ sau vài năm thị phần giảm nhanh vì các công ty đa quốc
gia di chuyển hoặc lập thêm các cơ sở sản xuất tại các nước khác
trong vùng. Chẳng hạn, năm 2000 Nhật Bản chiếm 73% thị phần thế giới
về máy chụp hình kỹ thuật số (digital camera) nhưng đến năm 2003 thị
phần giảm còn 55%. Năm 2000, Đài Loan sản xuất 55% máy tính cá nhân
loại nhỏ nhưng sang năm 2003, Trung Quốc trở thành nước sản xuất
hàng đầu với thị phần là 35%. Trong thời gian đó, trong ngành VTR,
Trung Quốc phải nhường vị trí hàng đầu thế giới cho Inđônêxia. Điểm
này cho thấy mô hình đàn sếu bay vẫn có thể áp dụng để khảo sát làn
sóng công nghiệp Đông Á, mặc dù quá trình được rút ngắn hơn so với
trước đây.
Thứ ba, sau vài thập niên phát triển, khoảng
cách công nghệ giữa các nước trong vùng Đông Á được rút ngắn. Điều
này được phản ánh trong hiện tượng các nước ASEAN và Trung Quốc,
những nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, ngày càng giành
được sự phân công sản xuất hoặc thực thi những công đoạn có giá trị
gia tăng cao trong toàn bộ chuỗi giá trị (value chain) của từng
ngành công nghiệp. Biểu đồ 2.2 biểu diễn chu trình sáng tạo giá trị
gia tăng của một ngành công nghiệp. Đặc biệt, trong các ngành sản
xuất máy móc như máy tính cá nhân, máy giặt, máy chụp hình, v.v.,
trước đây các nước ASEAN và Trung Quốc chủ yếu phụ trách công đoạn
lắp ráp, công đoạn giá trị gia tăng thấp nhất nhưng bây giờ họ đã
leo lên các tầng trên thượng nguồn của chuỗi giá trị, đặc biệt là
giai đoạn sản xuất bộ phận, linh kiện.
Thứ tư, do khuynh hướng công nghiệp hoá lan
rộng và đi vào chiều sâu nói trên, thương mại tại Đông Á cũng có một
số chuyển dịch quan trọng:
Như đã đề cập và minh hoạ trong Biểu đồ 2.1,
xuất khẩu của các nước hiện nay chủ yếu là hàng công nghiệp. Trong
công nghiệp, các nước Đông Á ngày càng có lợi thế so sánh trong các
ngành máy móc như đồ điện gia dụng và công nghệ thông tin. Các loại
máy móc này đã chiếm trên 60% trong tổng xuất khẩu của Malaixia, 45%
của Thái Lan, và 40% của Trung Quốc vào năm 2002. Con số tương ứng
của Philíppin là 75%, một con số đáng ngạc nhiên. Như sẽ thấy dưới
đây, thành quả xuất khẩu của Philíppin cũng đáng chú ý ở các mặt
khác nữa.

Do các nước đồng loạt tiến về thượng nguồn
trên chuỗi giá trị (di chuyển từ D lên C và B trong Biểu đồ 2.2), sự
phân công trong nội bộ các ngành sản xuất máy móc được tiến hành
nhanh chóng. Các nước Đông Á vừa xuất và nhập các linh kiện, bộ phận
liên quan đến các loại máy móc. Chẳng hạn, vào năm 2002, các bộ phận,
linh kiện điện tử và chất bán dẫn có kim ngạch xuất khẩu hàng đầu
tại Hàn Quốc, Xingapo, hàng thứ hai tại Nhật Bản và hàng thứ 10 tại
Trung Quốc, nhưng tại tất cả các nước này, trên 70% kim ngạch xuất
khẩu là hướng vào các nước Đông Á. Phụ tùng thiết bị cho các loại
máy móc dùng ở văn phòng có kim ngạch xuất khẩu hàng thứ tư tại Nhật
Bản, thứ sáu tại Hàn Quốc, thứ ba tại Trung Quốc và nhiều nước ASEAN
cũng có tỷ lệ xuất khẩu sang Đông Á rất cao. So sánh Bảng 2.1
và Bảng 2.2 ta thấy nhiều mặt hàng Trung Quốc và ASEAN xuất
khẩu nhiều nhất cũng là những mặt hàng họ nhập khẩu nhiều nhất, và
những mặt hàng đó có khuynh hướng xuất và nhập trong nội bộ vùng
Đông Á. Ngược lại, những mặt hàng mà các nước này chủ yếu xuất chứ
không nhập khẩu (ví dụ như dụng cụ thể thao, đồ chơi, giày dép, các
loại quần áo, thiết bị thu âm, đồ điện gia dụng, v.v.) thì tỷ lệ
buôn bán trong vùng thấp (vì chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Âu -
Mỹ).


Vị trí của Trung Quốc trên bản đồ ngoại thương
Đông Á khiến nhiều nước lo ngại, nhưng phân tích kỹ ta thấy các nước
khác vẫn có thể tìm ra lợi thế so sánh mới để duy trì, phát triển
một sự phân công lao động với nền kinh tế lớn mạnh này. Trong một
thời gian dài, kinh tế Trung Quốc phát triển với tốc độ cao (trung
bình 10%/năm, gần đây 7-8%/năm), chủ yếu là phát triển công nghiệp
và ngày càng hướng ngoại (tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng từ 7% năm
1980 lên 15% năm 1990 và lên tới gần 30% những năm gần đây). Hiện
nay, trên 90% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc là hàng công nghiệp
(Biểu đồ 2.1). Từ năm 2002, Trung Quốc là nước có thị phần lớn nhất
trong tổng nhập khẩu của Nhật Bản. Hiện nay Trung Quốc là nước xuất
khẩu lớn thứ ba trên thế giới. Những sự kiện này dễ gây ấn tượng
rằng Trung Quốc đã áp đảo các nước khác, và sự thực Trung Quốc đã có
gây khó khăn cho một số nước gần với Trung Quốc về trình độ phát
triển, về cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốc phát triển khiến
nước này trở thành một thị trường rộng lớn, tạo cơ hội cho nhiều
nước ở Đông Á đẩy mạnh xuất khẩu. Nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng
từ 110 tỷ năm 1995 lên tới 561 tỷ USD năm 2004. Và như Bảng 2.1 và
2.2 đã cho thấy, Trung Quốc vừa xuất và vừa nhập nhiều loại linh
kiện hay sản phẩm trung gian và những loại này chủ yếu xuất và nhập
giữa Trung Quốc với các nước trong vùng Đông Á. Dĩ nhiên thị trường
Trung Quốc không phải mang lại cơ hội đồng đều cho các nước ở trong
vùng mà cơ hội đó tuỳ thuộc vào năng lực cạnh tranh của các nước. Ta
có thể dùng ma trận mậu dịch (trade matrix) để khảo sát vấn đề này.
Bảng 2.3 là ma trận mậu dịch hàng công
nghiệp giữa các nước Đông Âu (có thêm “Thế giới” để chỉ tổng xuất
khẩu của các nước và thêm Mỹ là thị trường quan trọng của hầu hết
các nước Đông Á). Nhìn hàng ngang từ bên trái sang ta biết được kim
ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của từng nước Đông Á sang các nước
Đông Á khác, sang Mỹ và thế giới. Hàng trên là kim ngạch xuất khẩu
năm 1992, hàng dưới là năm 2002.

Ma trận này giúp ta biết được nước nào đã xuất
khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc nhiều nhất và trong khoảng 10
năm qua nước nào đã thành công trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang
thị trường lớn này. Bảng 2.3 cho thấy Nhật Bản là nước có thị phần
lớn nhất (38 tỷ năm 2002), tiếp theo là Hàn Quốc, sau đó là Xingapo.
Kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng đáng ngạc nhiên là
tốc độ thâm nhập của Hàn Quốc và nhiều nước ASEAN vào thị trường
Trung Quốc từ năm 1992 đến 2002. Trong thời gian đó, Hàn Quốc xuất
khẩu hàng công nghiệp sang thế giới tăng gấp đôi nhưng sang Trung
Quốc thì tăng gần 10 lần (hiện nay Hàn Quốc chiếm gần 10%, ngang
hàng với Mỹ, trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc. Các nước ASEAN
cũng chiếm khoảng 10%, Nhật Bản gần 20%). Xuất khẩu của Philíppin
tăng 15 lần, Thái Lan 24 lần, Malaixia 14 lần (Việt Nam cũng tăng
nhiều nhưng xuất phát từ một con số ban đầu quá nhỏ).
Như vậy, tuy một mặt đã trở thành nhà máy của
thế giới và xuất khẩu nhiều loại hàng công nghiệp, nhưng mặt khác
Trung Quốc cũng ngày càng trở thành thị trường tiêu thụ hàng công
nghiệp của các nước khác ở Đông Á. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho
thấy tuy đã bắt đầu tiến lên thượng nguồn trên chuỗi giá trị, song
Trung Quốc vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu nhiều bộ phận, linh kiện
và các sản phẩm trung gian khác, nhất là những mặt hàng có hàm lượng
công nghệ cao (3)
2.2. Vị trí của Việt Nam trong bản đồ công
nghiệp Đông Á
Bảng 2.4 cho thấy hàng công nghiệp hiện
nay chiếm khoảng 60% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam. Con số này
tương đang với Thái Lan vào giữa thập niên 1980. Hàng công nghiệp
xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng công nghiệp nhẹ, tập trung
vào các ngành may mặc và giày dép (riêng hai mặt hàng này chiếm gần
40% tổng xuất khẩu vào năm 2003). Nhưng phần lớn nguyên vật liệu và
sản phẩm trung gian trong các hàng xuất khẩu này phải phụ thuộc vào
nhập khẩu. Ngoài ra, máy móc các loại chỉ chiếm khoảng 8% trong tổng
xuất khẩu của Việt Nam. Như đã đề cập, con số tương ứng vào năm 2001
của nhiều nước Đông Á là từ 40 đến 60% (riêng Philíppin trên 70%).
Ngay cả Inđônêxia từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997)
được xem là nước bị bỏ rơi trong quá trình phát triển mạnh mẽ ở Đông
Á thì tỷ lệ đó cũng đạt 16%, cao gấp đôi Việt Nam.

Để thấy rõ hơn vị
trí của Việt Nam trong làn sóng công nghiệp Đông Á, ta thử khảo sát
chỉ số cạnh tranh của từng nước trong một số ngành công nghiệp tiêu
biểu.
Nếu gọi X là xuất khẩu và N là nhập khẩu, chỉ
số cạnh tranh của một nước trong một ngành công nghiệp nào đó được
tính theo công thức sau:
(X-N)/(X+N)
Nếu chủ yếu là nhập khẩu và hầu như không xuất
khẩu, chỉ số cạnh tranh sẽ bằng -1 (trừ 1). Đây là trường hợp nước
này hoàn toàn không (hoặc chưa có) lợi thế so sánh trong ngành đang
phân tích nên nhu cầu trong nước hoàn toàn phụ thuộc nhập khẩu.
Ngược lại, nếu hầu như chỉ xuất khẩu và không nhập khẩu thì chỉ số
cạnh tranh là 1. Đây là trường hợp ngành công nghiệp phát triển mạnh
mẽ, có sức cạnh tranh áp đảo hàng nhập. Một trường hợp đặc biệt nữa
là chỉ số cạnh tranh bằng 0 khi xuất và nhập hầu như bằng nhau.
Trường hợp này có hai khả năng: nếu kim ngạch xuất và nhập rất nhỏ,
đó là hiện tượng ngành công nghiệp đã qua giai đoạn thay thế nhập
khẩu và bắt đầu chuyển sang giai đoạn xuất khẩu. Nếu kim ngạch xuất
và nhập khá lớn thì đó là hiện tượng của sự phân công trong nội bộ
một ngành công nghiệp (intra-industry division of labor) như ta đã
thấy ở Bảng 2.1 và Bảng 2.2.
Trong mô hình đàn sếu bay, chỉ số cạnh tranh
của một nước trong một ngành công nghiệp thường bắt đầu bằng trừ 1
tiến dần đến 0 (quá trình thay thế nhập khẩu) sau đó tiến về trị số
1 (từ thay thế nhập khẩu sang xuất khẩu)
(4).
Từ khảo sát sự thay đổi trong chỉ số cạnh tranh
của một số ngành công nghiệp chủ yếu, vị trí của Việt Nam trong làn
sóng công nghiệp Đông Á có thể được tóm tắt như sau
(5):
Biểu đồ 2.3 cho thấy trong ngành dệt
(textiles) Việt Nam phải nhập khẩu nhiều, chỉ số cạnh tranh rất thấp
(-0,7 vào năm 2002), trong khi đó, trừ Philíppin, hầu hết các nước
ASEAN đều xuất siêu ở mức cao. Điều này khẳng định lại nhận xét liên
quan đến Bảng 2.3 là tuy ngành dệt may là hàng công nghiệp xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam, song phần lớn sản phẩm trung gian phải phụ
thuộc vào nhập khẩu. Các công ty thương mại hoặc thời trang của các
nước tiên tiến nhập vải chất lượng cao vào Việt Nam, vẽ mẫu và đặt
may gia công, sau đó xuất khẩu thành phẩm là quần áo. Áp dụng vào sơ
đồ về chuỗi giá trị ở Biểu đồ 2.2, vị trí của Việt Nam chủ yếu ở
khâu gia công, lắp ráp, còn những giai đoạn có giá trị gia tăng cao
(thượng nguồn và hạ nguồn) phụ thuộc vào nước ngoài.

Chỉ số cạnh tranh trong ngành linh kiện, bộ
phận máy tính (Biểu đồ 2.4) hoặc trong ngành máy móc thiết bị điện
tử (Biểu đồ 2.5) cho thấy mấy năm gần đây Việt Nam có cải thiện được
vị trí cạnh tranh nhưng vẫn nhập siêu nhiều (chỉ số còn rất thấp,
-0,6), trong khi đó hầu hết các nước ASEAN khác và Trung Quốc thì ở
vị trí xuất siêu cao. Ngành xe hơi, xe vận tải (Biểu đồ 2.6) và
ngành linh kiện, bộ phận xe hơi (Biểu đồ 2.7) thì Việt Nam hầu như
chỉ nhập khẩu (chỉ số cạnh tranh -1). Đa số các nước ASEAN khác
hoặc Trung Quốc cũng còn nhập siêu nhưng kim ngạch nhập siêu giảm
nhanh, chỉ số tiến gần đến 0 và sắp chuyển sang số dương.




Về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các
nước lân cận, Việt Nam nhập siêu nhiều với Trung Quốc và với hầu hết
các nước ASEAN. Năm 2003, Việt Nam nhập siêu với toàn thế giới là 5
tỷ USD nhưng riêng với các nước Đông Á nhập siêu lên tới gần 8 tỷ
USD trong đó với Trung Quốc 1,4 tỷ và ASEAN 3 tỷ. Như sẽ thấy dưới
đây, về cơ cấu thương mại, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu hàng công
nghiệp và xuất khẩu nguyên liệu và nông sản phẩm, một cơ cấu hàng
dọc thường thấy giữa một nước có trình độ phát triển thấp với các
nước tiên tiến.
Phân tích ở trên cho thấy Việt Nam đi sau khá
xa các nước chung quanh về phát triển công nghiệp, thể hiện trong sự
cách biệt về tỷ lệ hàng công nghiệp, đặc biệt là tỷ lệ sản phẩm máy
móc các loại trong tổng xuất khẩu, trong chỉ số cạnh tranh của những
ngành công nghiệp chủ yếu, trong cơ cấu phân công hàng dọc giữa Việt
Nam với các nước này, và Việt Nam phải nhập siêu nhiều với các nước
đó. Không kể một số nước mới gia nhập ASEAN (Lào, Campuchia và
Mianma), Việt Nam là nước đi sau cùng trong quá trình công nghiệp
hoá ở vùng Đông Á. Nhưng chiến lược đuổi bắt của Việt Nam trong quá
trình đó đang đối mặt với một thách thức lớn: phải sớm tiến hành tự
do hoá thương mại với các nước ở Đông Á. Những chương tiếp theo đây
sẽ phân tích các vấn đề này.
TRẦN VĂN THỌ
(1). Tư liệu, sách báo về mô hình này khá nhiều, ở đây chỉ giới thiệu hai
nguồn mà nguời viết bài này đã phát biểu hoặc tham gia phát biểu:
Trần Văn Thọ (1997, Ch. 1) và Kosai and Tran (1994). Những nguồn
khác có phân tích tình hình gần đây nhất sẽ được đề cập trong phần
sau.
(2) Bản báo cáo về kinh
tế Á châu của Tổng cục kinh tế kế hoạch Nhật (Keizaikikakuchou 2000)
cho rằng nhờ công nghệ thông tin các nước đi sau ở Đông Á có thể
đồng loạt sản xuất ngay các ngành công nghiệp có công nghệ cao, tiến
nhanh lên ngang hàng với các nước đi truớc. Sách trắng về thương mại
quốc tế của Bộ công thương Nhật (Keizaisangyoushou 2003) xem sự lớn
mạnh của Trung Quốc là yếu tố có thể chấm dứt mô hình đàn sếu bay.
Tôi có dịp phản luận các ý kiến phủ nhận mô hình nầy trong cuốn sách
viết chung mấy năm trước (Trần VT et. al. (2001)..
(3) Chẳng hạn, xem Kwan
(2002), Lall and Albaladejo (2004), Gilboy (2004).
(4) Ngược lại trong mô
hình của lý thuyết về chu kỳ sản phẩm (product cycle theory) của
Vernon (1966), chỉ số cạnh tranh bắt đầu bằng 1 sau đó tiến đến zero
rồi tiến về hướng trừ 1.
(5) Tư liệu trong các Hình từ
2-3 đến 2-7 đều tính từ thống kê mậu dịch của Liên Hiệp Quốc.
< Xem Mục Lục>
®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ý của tác giả
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com
|
|