|
Chiếc tàu dầu trông không lớn lắm có lẽ
v́ bề dài hơi ngắn không tương xứng với bề ngang của nó. Và đó cũng
là h́nh ảnh đặc thù của vị thuyền trưởng Hy Lạp c̣n đậm nét trong kư
ức của tôi sau 41 năm.

Ông cũng khá cao đó chứ, ít ǵ cũng một
thước bảy, nhưng cái bụng kia có vẻ trấn áp cả thân thể ông.
Bộ râu quai nón tuy không rậm lắm nhưng
cũng mang đến cho gương mặt sạm nắng nét hùng dũng của một vị thuyền
trưởng chuyên chở dầu qua lại vùng biển Thái B́nh Dương. Ông trạc
40.
- Nếu họ có chết th́ chính là lỗi của
các ông.
Ông thuyền trưởng đập mạnh xuống bàn,
trả lời nhân viên của sở Di Trú sau khi được hỏi liệu hai người Việt
Nam mới được vớt lên, có sao không nếu chiếc tàu dầu rời cảng Nagoya
tiếp tục cuộc hành tŕnh đi Singapore.
Với nét mặt giận dữ, với tiếng nói sang
sảng như vậy tôi chẳng cần dịch sang tiếng Nhật th́ nhân viên sở Di
Trú chắc chắn đă hiểu rơ ràng câu trả lời.
Vị thuyền trưởng nói tiếp, lần này diệu
hơn, chậm răi hơn, phát âm tiếng Anh thật rơ ràng có lẽ để nhấn mạnh
thêm sự mỉa mai phải có đối với những người vô cảm:
- Hôm qua các ông đă dẫn bác sĩ đến khám
bệnh cho họ mà bây giờ lại hỏi tôi câu đó. Tôi là thuyền trưởng, tôi
chỉ biết điều khiển chiếc tàu này và tôi quyết định chiều ngày mai
sẽ rời bến.
Dẫu lời nói dịu dàng nhưng vẫn là gương
mặt nghiêm nghị của vị tướng cầm quân ra mặt trận. B́nh thường mặt
trận của ông là những đợt sóng dữ, những cơn băo cấp 7, cấp 8 ngoài
biển khơi, nhưng hôm nay mặt trận của ông là những mặt người lạnh
lùng, không chút t́nh cảm.
Khi dịch lại câu nói này chính tôi cũng
phải cố gắng giữ cho ḿnh b́nh thản v́ trong thâm tâm nỗi trắc ẩn
cũng đă dâng lên ngập tràn.
Hai nhân viên sở Di Trú lật đật chào từ
giă vị thuyền trưởng mà chẳng hứa hẹn ǵ.
Hôm nay trời âm u, nhưng không mưa; sáng
nay khi leo thang dây từ chiếc thuyền nhỏ của sở Di Trú lên boong
tàu dầu, gió thổi lạnh buốt. Nh́n xuống dưới chân, sóng nhấp nhô,
nước biển đen ng̣m, nghĩ thầm nếu lỡ tay rớt xuống mặt biển cách xa
cả bảy, tám mét dưới kia th́ không biết sẽ ra sao?
Âm thanh của những bước chân nện đều đều
trên boong tàu sắt quyện vào tiếng gió vi vút rít lên từng hồi làm
nên một bản ḥa tấu tệ hại. Chiều nay có lẽ trời sẽ mưa.
Khi về đến khách sạn mới trưa mà trời đă
lấm tấm những giọt nước cuối thu. Gió se lạnh nhưng chính t́nh cảnh
không rơ ràng của anh Ngân, chị Phương mới làm tôi rùng ḿnh lo lắng.
Sáng nay lúc nhân viên sở Di Trú phỏng
vấn anh chị, cả hai đều phải nằm trên giường, không ngồi dậy nổi dù
chiếc tàu dầu đă cưu mang anh chị được ba ngày ba đêm rồi. Anh Ngân
th́ máu cam chảy, thỉnh thoảng phải ngưng lại
để chùi mũi bằng chiếc khăn nhỏ do thủy thủ tàu Hy Lạp cho, ḿnh mẩy
lở loét khắp nơi, râu mọc lởm chởm làm khuôn mặt xương xẩu thêm
thiểu năo. Chị Phương th́ nói không ra hơi, nước da ngâm đen, thân
thể dẹp lép, nhưng đôi mắt to màu nâu sậm vẫn c̣n nét tinh anh.
Rồi anh chị sẽ ra sao nếu chiếc tàu dầu
này tiếp tục chuyến hải hành lênh đênh trên biển thêm cả tuần nữa?
Anh Ngân khoảng ngoài 30, c̣n chị Phương
chỉ chừng 25. Chẳng lẽ tuổi đời của anh chị ngừng lại ở những con số
này?
Anh Ngân và chị Phương là anh em thông
gia và chỉ là hai người c̣n sống sót trong nhóm 141 người trên chiếc
ghe đă vượt biên từ Vĩnh Long nhưng gặp phải băo, sau năm ngày năm
đêm lạc hướng về phía Phi Luật Tân và bị mắc cạn trên đảo san hô.
Vốn là một sĩ quan tác chiến với hơn
mười năm trong quân ngũ, ba năm tù “cải tạo”, thuần thục nhiều
phương pháp “mưu sinh thoát hiểm”, anh Ngân đă đem ra áp dụng để
sống c̣n.
Để bớt bị khát nước, lúc trời nóng anh
ngâm ḿnh dưới biển cho tới khi trong người thấy lạnh mới leo lên.
Để có nước, mỗi sáng sớm trước khi mặt
trời mọc, anh vớt lấy từng giọt sương đọng lại trên nóc bằng thiếc
của chiếc ghe. Có hôm cũng được cả... muỗng cà phê.
Nhưng mấy cơn mưa phớt đến liền đi mới
chính là những vị cứu tinh thật sự. Anh dùng tất cả quần áo, vải vóc
đế cố gắng giữ lấy những giọt nước ngọt ngào từ trời gởi tặng rồi
vắt vào một ruột bánh xe mà anh đă nhặt được đâu đó trong ghe, để
dành cho cả nhà năm người uống từ từ.
Những cơn mưa hiếm hoi ghé ngang
Đâu ngờ cứu sống được vài mạng
Những ḥn đá san hô trồi lên từ ḷng
biển là thủ phạm đă đâm thủng chiếc ghe vượt biên nhưng chính chúng
từ nhiều ngàn năm nay đă là một giang sơn ph́ nhiêu với cư dân là
đám nghêu ṣ ốc hến; rồi đám nghêu ṣ ốc hến này lại là nguồn thực
phẩm vô giá cho chính những người trên ghe vượt biên. Đúng là một
thí dụ điển h́nh của cái ṿng sinh diệt trong vũ trụ bao la này.
V́ không c̣n thứ ǵ tạo ra được lửa,
người ta phải ăn sống trên đảo san hô này; lúc đầu th́ c̣n ói mửa
nhưng sau đó cơ thể tự nhiên quen dần v́ cần thức ăn để sống c̣n.
Nhưng rồi sau cả tháng người ta chết gần
hết v́ kiệt sức, v́ khí hậu khắc nghiệt, v́ bệnh tật...
Ở trên đảo san hô được khoảng ba tuần,
bổng đâu có một thùng phuy sắt, loại 200 lít, trôi dạt đến và anh
Ngân bắt được nên anh dùng mấy miếng ván, đinh, dây thừng... từ
chiếc ghe bị mắc cạn ghép vào để làm thành một chiếc bè. Vào ngày
thứ 33 ở đảo san hô, sau khi dự trữ thức ăn tức là bỏ thịt của những
con ốc, con ṣ vào những bao vải nhỏ, cột phía dưới chiếc bè để giữ
cho tươi; mang theo ruột xe chứa lượng nước ngọt có được, anh rời
đảo để đi t́m sự sống. Sự sống đă đến vào ngày thứ chín sau khi rời
đảo san hô và được chiếc tàu dầu Hy Lạp vớt lên.
Nhưng sự sống này có kéo dài thêm được
không nếu không được lên bờ tại Nagoya, nếu phải tiếp tục lênh đênh
trên biển khi sức lực đă cạn dần sau nhiều ngày bị sóng biển dập vùi
thân xác...
Thật ra khi rời đảo san hô có tất cả bốn
người, vợ chồng anh Ngân, chị Phương và người em trai tên Châu;
người thứ năm trong gia đ́nh là chồng chị Phương đă chết trên đảo
san hô. Chiếc bè lênh đênh trên biển đến ngày thứ bảy th́ vợ anh
Ngân qua đời v́ kiệt sức. Anh Châu lúc được tàu Hy Lạp cứu lại lỡ
tay làm tuột mất sợi dây thừng nên trôi mất theo sóng biển mênh mông.
C̣n chị Phương th́ mấy người thủy thủ phải mất cả giờ mới thảy được
cái phao lọt vô đầu v́ chị hầu như đă không c̣n chút sức lực nào nữa,
chị chỉ c̣n có thể ngồi dậy và may mắn đón lấy được chiếc phao cứu
mạng; đâu ngờ chút sức lực c̣n sót lại đó đă là bước nhảy vọt, bay
ra khỏi cửa tử.
Chiếc tàu dầu c̣n ḷng ṿng quanh đó
khoảng mười phút để cố t́m anh Châu nhưng bóng h́nh nhỏ nhoi của anh
đă ch́m mất vào bóng đêm bao la của biển.
Có lẽ t́nh trạng của Anh Ngân, chị
Phương trên chiếc bè mong manh, bơ vơ giữa đại dương bao la đă xếp
anh chị vào vị trí đầu bảng của boat people, nếu có ai cắc cớ phân
chia theo mức độ hiểm nguy dành lấy sự sống từ cơi chết.
Ăn cơm trưa xong tôi lên pḥng nằm nghỉ.
Căn pḥng vuông vức mà cái giường đă chiếm hết phân nửa diện tích,
đi ba bước đă đụng vách.
Trên vách ngay cửa vào có treo một bức
ảnh của Nhật Hoàng với ngày tháng đă ở lại khách sạn này vẫn không
làm cho nó sang trọng chút nào.
Nh́n qua cửa sổ mưa bắt đầu nặng hột,
chắc chỉ chừng trong một tháng tuyết sẽ rơi. Cái lạnh lẽo kinh người
sẽ lại ào ạt đến tấn công trại tỵ nạn, một nơi nằm tuốt trong vùng
hẻo lánh gần hồ Biwako, mà nhà ga xe điện gần nhất cũng phải mất nửa
tiếng đi bộ. Có năm, giữa mùa đông, chỉ trong một đêm tuyết rơi phủ
trên mặt đất dày đến cả gang tay.
Chợt một ư nghĩ thoáng đến trong đầu,
tôi liền chạy xuống lobby lấy mấy tờ báo lên pḥng.
Sáng sớm hôm sau, chưa kịp mở mắt đă có
điện thoại từ sở Di Trú gọi tới, bảo là phải đến bến cảng ngay để ra
tàu dầu Hy Lạp. Tuy vậy ông Takahashi vẫn như mọi khi, chậm răi lái
chiếc xe van rời khách sạn; chiếc xe chạy trên đường, hôm nay dưới
mắt tôi, cứ như là người ta đang thả bộ hóng gió ngoài băi biển vậy.
Ông Takahashi là người được trại tỵ nạn
giao cho nhiệm vụ tiếp xúc với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, các Ṭa
Đại Sứ, Sở Di Trú hoặc tất cả cơ quan nào liên quan đến những người
tỵ nạn trong trại. Lúc này trại chỉ c̣n khoảng 30 người nên ông cũng
ít tới.
Khi xe của chúng tôi đến bến cảng th́
mặt trời vừa ló dạng, đẹp như ngọn đèn dầu hột vịt thả nổi trên mặt
biển.
Vừa bước xuống xe đă thấy hai nhân viên
sở Di Trú trong đồng phục màu xanh đang đứng chờ ở băi đậu xe. Khi
chúng tôi đến gần ông trưởng đoàn liền nói :
- Không hiểu sao mấy tờ báo đă biết tin
có hai người boat people Việt Nam được vớt. Đây này cả hai tờ Asahi
và Yomiuri đều đăng h́nh chiếc tàu dầu Hy Lạp nè.
Vừa nói ông vừa đưa hai tờ báo cho chúng
tôi xem. Ông thêm:
- Chúng tôi ra đó để làm thủ tục cho hai
người này lên bờ.
Ôi không có ǵ vui hơn khi nghe được tin
này.
Hôm nay chiếc tàu dầu Hy Lạp được cập
sát bến cảng nên chúng tôi chỉ cần bước lên một cái thang móc thẳng
vào boong tàu.
Ông thuyền trưởng Hy Lạp trông vui hẳn
khi mới gặp chúng tôi, có lẽ ông đă được tin là sở Di Trú đă cho
phép hai người Việt Nam lên bờ.
Ông tiễn chúng tôi đi cho đến khi chúng
tôi bước ra khỏi chiếc tàu dầu. Ông cũng không quên chúc anh Ngân
chị Phương sớm b́nh phục và may mắn.
Nụ cười hiền từ giữa chùm râu quai nón
lấp lánh dưới ánh nắng ban mai trông thật kỳ diệu. Thật kỳ diệu v́
ông đă dành lại được hai mạng sống từ tay biển dữ trả về ḷng đất
lành. Và có lẽ đối với ông, hai mạng sống đáng giá gấp bội so với số
tiền mấy triệu đô la mà hăng của ông phải bồi thường v́ trễ hạn.
Khi d́u anh Ngân và chị Phương lên xe
van để về trại tỵ nạn tôi thấy vui khôn tả. Có lẽ suốt ba năm làm
việc giúp người tỵ nạn hôm nay là ngày vui nhất của tôi.
Trưa nay mặt trời nhạt nḥa trong làn
sương mỏng, qua lại không biết bao nhiêu cua quẹo vẫn kiên tŕ đuổi
theo sau xe chúng tôi như cố mang đến chút ấm áp cho hai người khách
từ chốn xa xôi vừa mới đến xứ sở của Thái Dương Thần Nữ.
Khi xe chạy được một đỗi, ông Takahashi
xoay qua hỏi tôi:
- Không biết sao mà mấy nhà báo lại hay
tin người Việt Nam được tàu Hy Lạp vớt vậy cà?
Tôi không nói ǵ cả mà chỉ mỉm cười. Ông
đâu hiểu được rằng chính những nụ cười như vầy là phần thưởng vô giá
cho tôi khi làm việc giúp người tỵ nạn.
Hôm nay ngồi viết lại câu chuyện này,
tôi biết chắc rằng ở tận một phương trời xa xôi nào đó vị thuyền
trưởng Hy Lạp đang an hưởng tuổi già sau một thời lênh đênh trên
biển cả. Chắc ông không biết là có hai người Việt Nam vẫn luôn mang
ơn ông suốt đời.
Trần Thụ Ân
(8/2019) |