|
Thuở xưa, khi Tết đến, người
Việt Nam thường làm câu đối và dán trước cửa nhà để đón Xuân.
Trong cảnh hàn vi, Nguyễn
Công Trứ cũng không quên tục lệ này, nên đã chua chát:
Chiều ba mươi, nợ hỏi tít
mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
Trần Tế Xương lúc
thấy thiên hạ thi nhau đốt pháo, vẽ vôi, cảm cảnh đất nước bị ngoại
bang đô hộ đã có câu đối:
Thiên hạ xác rồi còn đốt
pháo
Nhân tình bạc thế vẫn bôi vôi
Vào dịp Tết,
người nhà quê thường rắc vôi hình cung, tên … ở những gốc cây chung
quanh nhà để trừ ma quỷ.
Các thi nhân khác cũng đều
có câu đối Tết.
Kiếm một cơi trầu thưa với
cụ
Xin đôi câu đối để thờ ông
(Nguyễn Khuyến)
Tối ba mươi, khép cánh càn
khôn ních chặt lại, kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một, lỏng then tạo hoá mở toang ra, cho thiếu nữ rước Xuân
vào
(Hồ Xuân Hương)
Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu, ủa ủa Tết
Sáng mồng một, lắng tai nghe tiếng pháo, à à Xuân
(Nghè Tân)
Ba chục triệu đồng bào, híp mắt no say ba bữa Tết
Bốn ngàn năm tổ quốc, ôm lòng chờ đợi một ngày Xuân
(Ngô Đức Kế)
Câu đối cổ sau đây được nhắc nhở tới luôn vì đã đưa ra được những
nét đặc sắc của Tết Việt Nam:
Nêu cao, pháo đỏ, bánh chưng
xanh
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Chúng ta có thể tìm thấy rất
nhiều câu đối trong những bài thơ xưa. Trong các bài thơ Đường luật
thất ngôn bát cú, câu 3, 4 và câu 5, 6 là những cặp đối nhau.
Giơ tay với thử trời cao
thấp
Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài
(Hồ Xuân Hương)
Câu thơ được chửa, thưa rằng được
Chén rượu say rồi, nói chửa say
(Nguyễn Khuyến)
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
(Bà Huyện Thanh Quan)
Ngoài phần đối về bằng trắc, nghệ thuật chơi chữ đã được các tác giả
dùng thật khéo léo.
Trong các bài hát nói, các
tác giả cũng thường chêm vào câu đối.
Trong bài “Hàn Nho Phong
Vị Phú” (“Cảnh học trò nghèo”), Nguyễn Công Trứ đã có
câu:
Ngày ba bữa, vỗ bụng rau
bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no
Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngõ
Nguyễn Khuyến thì
than thân lúc vợ chết bằng câu:
Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ
được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, tất
tưởi chân nam chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc.
Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành,
buông quần lá toạ, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện
trăm năm?
Trong văn chương
bình dân, chúng ta cũng có được những câu đối thật hay; hay ở chỗ
tác giả đã khéo léo dùng những từ ngữ có hai nghĩa và những từ ngữ
có nghĩa tương phản.
Ô! quạ tha gà
Xà! rắn bắt ngoé
Ô và Xà vừa là
tiếng kêu vừa có nghĩa là quạ và rắn.
Con ruồi đậu mâm xôi đậu
Cái kiến bò đĩa thịt bò
Và câu đối sau đây làm nổi
bật nét đặc thù trong tiếng Việt:
Con cóc leo cây vọng cách
Nó rơi xuống cọc, nó cạch tới già
Con công đi qua chùa Kênh
Nó nghe thấy cồng, nó kềnh cổ lại
Dùng những chữ
CÔNG KÊNH, CỒNG KỀNH để đối với CÓC CÁCH, CỌC CẠCH, không gì hay
bằng.
Đất không phải chồng, đem
gửi thịt xương sao đặng
Trời mà chết vợ, thử xem gan ruột mần răng
Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới
Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên
NGHÈ có hai nghĩa
là đình và người đậu kỳ thi Hội. CỐNG có hai nghĩa là mương và người
đậu kỳ thi Hương.
Nước lỗ trâu chảy ra khổng
mạnh
Củi văng võ đốt cháy thành than
Khổng Tử người
nước Lỗ, Mạnh Tử người nước Châu. Vua Văn thời nhà Thành, vua Võ
thời nhà Thang.
Tám giờ xe lửa huýt
Hai cẳng nằm ngay đơ
Hai: đơ (deux),
tám: huýt (huit)
Sắc hỏi huyền: “ngã nặng
không ?”
Rê sỉ sol: “Mi là đồ phá "
Vế trên là 6 dấu
của tiếng Việt, vế dưới là 7 nốt nhạc.
Nói tới câu đối, chúng ta
không sao bỏ qua những giai thoại mà làm cho người trong cuộc giở
khóc giở cười.
Một ông Tú tên Cát tự hào về
tài hay chữ của mình bèn ngâm nga:
Trời sinh ông Tú Cát.
Trạng Quỳnh nghe được bèn
đối lại:
Đất nứt con bọ Hung
CÁT và HUNG là 2 quẻ
xăm tốt và xấu.
Chuyện kể, lúc nhỏ Cao
Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây, đúng vào lúc vua Minh Mạng tuần du ở đó, ai
ai cũng phải tránh xa, riêng cậu Quát cứ tự do vùng vẫy. Lính đến
bắt lôi lên bờ, cậu tự khai là học trò, vì trời nực ra tắm mát. Vua
nhìn xuống hồ thấy cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền ra câu đối bắt
đối lại:
Nước trong leo lẻo, cá đớp cá.
Cậu Quát ứng khẩu
ngay:
Trời nắng chang chang, người trói người
Vua phục tài cậu
học trò, tha không đánh đòn.
Về câu đối châm biếm,
Trần Bình cũng để lại các câu đối thật tài tình. Ông diễu cợt hai
ông quan dưới thời Pháp thuộc, ông Vi có bộ răng đẹp nhưng răng giả,
ông Quốc có hai vợ nhưng lúc đó lại giở chuyện tu hành.
Hàm răng mang nặng: hàm
răng giả
Túi đạn theo thừa: túi đạn chay
Và dưới đây là
câu đối châm biếm cha con cô Tư Hồng:
Bốn chữ sắc phong, hàm cụ
lớn
Ba thuyền tế độ, của bà to
HÀM nghĩa là phẩm
hàm của triều đình, nhưng cũng có nghĩa là quai hàm. CỦA nghĩa là
của cải nhưng ở đây còn một nghĩa khác. Nguyên năm đó, tỉnh Quảng
Bình mất mùa, cô Tư Hồng từ Bắc chở ba thuyền gạo vào định bán lấy
giá cao, nhưng chính quyền biết ý ra lệnh tịch thu. Cô liền tuyên bố
là đem gạo vào để phát không cho dân đói. Sau vụ này cha cô được vua
ban hàm tứ phẩm.
Nguyễn Khuyến cũng là người có tài làm câu đối châm biếm. Ông đã
tặng người chột mắt vừa mới đậu khoa thi võ bằng câu:
Cung kiếm ra tay, thiên hạ
đổ dồn hai mắt lại
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi
Văn chương Việt
Nam ảnh hưởng nặng nề của Nho học, nên có rất nhiều câu đối mà vài
chữ trong đó có cả hai nghĩa Nho và Nôm. Những câu đối loại này rất
khó làm. Truyện kể rằng có một cậu học trò nghèo lấy được vợ con nhà
quan. Cha vợ muốn thử tài chàng rể bèn ra câu đối:
Con rể nết na xem tử tế
(Tế tử: con rể)
Chàng rể đối không được, hẹn đến ngày hôm sau. Chàng phải tìm đến vị
hôn thê hỏi và nàng đã gạ cho chàng:
Ông chồng cay
đắng kể công phu (Công phu: ông chồng)
Tương tự giai thoại trên, một người con gái tên Miên có ra câu đối
kén chồng như sau:
Cô Miên ngủ một mình
Câu này thật khó
đối. CÔ là một mình, MIÊN là ngủ; Miên lại là tên. Lúc đó có một ông
Cai Tổng tên Thịnh mới đối lại là:
Tổng Thịnh tóm nhiều đứa
TỔNG là tóm,
THỊNH là nhiều đứa, Thịnh lại là tên. Câu đối này lại rất chỉnh về
bằng trắc. Câu đối này đã khiến cô Miên ưng thuận làm vợ ba của ông
Tổng Thịnh (không còn ngủ một mình nữa).
Học trò nghèo ngày xưa thường hay bị thử tài. Có một anh học trò
nghèo túng quá phải đem áo đến cầm cho một nhà giàu, không biết nhà
giàu là một hưu quan. Hưu quan mới ra câu đối để thử tài anh học
trò:
Quân tử cố cùng, quân tử
cùng, quân tử cố.
Nghĩa: người quân tử bền
lòng lúc cùng khổ, quân tử lúc cùng, quân tử bền lòng. Câu này lấy
chữ trong sách luận ngữ, lại khó vì ở đây chữ CỐ nghĩa Nôm là CẦM CỐ
và chữ CÙNG nghĩa Nôm là CÙNG KHỔ.
Anh học trò nghèo đã trích
Tam Quốc đối lại:
Khổng Minh cầm túng, Khổng
Minh túng, Khổng Minh cầm
Nghĩa: Khổng Minh
bắt tha, Khổng Minh tha, Khổng Minh bắt. Trong truyện Tam Quốc,
Khổng Minh bắtlại tha Mạnh Hoạch đến 7 lần. Câu đối rất hay vì ở đây
CẦM nghĩa Nôm là CẦM CỐ và chữ TÚNG nghĩa là túng tiền. Nhờ câu đối
trên, anh học trò đã được vị hưu quan tặng một số tiền.
Như chúng ta đã thấy, dùng
những từ ngữ có hai nghĩa Nôm và Nho để ra vế câu đối thì thật là
khó đối lại.
Dưới đây là vế câu đối mà chưa ai đối lại được. Truyện kể một hôm bà
Đoàn thị Điểm đang tắm, Trạng Quỳnh mon men lại đòi tắm chung. Bà
Đoàn thị Điểm biết nếu cãi vã với Trạng Quỳnh cũng không làm thay
đổi được bản tính đùa giai của ông bèn ra điều kiện là phải đối được
câu sau đây:
Da trắng vỗ bì bạch
Trạng Quỳnh tìm
hoài nhưng chẳng ra câu để đối lại nên lặng lẽ bỏ đi. Về sau đã có
những vế đối:
Giấy đỏ viết chỉ chu
Nhà vàng ngồi đường hoàng
Mâm vàng thấy bàng hoàng
Trời xanh màu thiên thanh
Vì trong câu của
bà Đoàn thị Điểm, chữ BÌ BẠCH có nghĩa là “da trắng” nhưng cũng là
một tiếng trạng từ chỉ âm thanh nên những câu đối này thật ra cũng
chưa chỉnh về ý nghĩa (ba câu trên) và về tự loại (câu cuối).
Vua Tự Đức cũng để lại một
vế câu đối bất hủ:
Nửa đêm đi bán dạ hành
Dạ hành là tên
một món ăn ở Huế (?) BÁN DẠ HÀNH, chữ Hán có nghĩa là nửa đêm đi.
Câu sau đây cũng thật khó đối:
Cha con thầy thuốc về quê,
gánh một gánh hồi hương, phụ tử
HỒI HƯƠNG và PHỤ
TỬ vừa là tên hai vị Thuốc Bắc vừa có nghĩa là “về quê” và “cha
con”.
Ngoài những câu dùng chữ Hán kể trên, những câu dưới đây cũng thật
là khó đối nhờ ở cách dùng điệp tự thật tài tình:
Vợ Cả, vợ Hai, hai vợ đều là
vợ cả
Bắt con cá rô, bỏ trong rổ, nó nhảy rồ rồ
Thưở xưa các cụ
nhà ta cũng thường ra cả một bài thơ để người khác đối lại, gọi là
hoạ. Vần của bài thơ hoạ phải giống với vần của bài thơ xướng.Hẳn
chúng ta còn nhớ giai thoại về Nguyễn Trãi và Thị Lộ. Nguyễn Trãi
một hôm đi chầu về, giữa đường gặp một người con gái rất đẹp đang
gánh chiếu đi bán, ông bèn đọc giỡn một bài thơ, người con gái hoạ
lại. Ông thấy thông minh mới lấy nàng làm hầu.
Bài xướng
Ả ở đâu nay bán chiếu gon?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi?
Đã có chồng chưa được mấy con?
Bài họa
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
Nỗi chi ông hỏi hết hay còn?
Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, có chi con!
Bà Hồ Xuân Hương
bị một vố khá đau cũng vì lối xướng hoạ này. Nguyên bà có mượn của
Chiêu Hổ năm quan, nhưng Chiêu Hổ lại đưa có ba quan, bà mới mắng
đùa Chiêu Hổ nói láo như cuội bằng bài sau đây:
Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt
Nhớ hái cho xin nắm lá đa
Chiêu Hổ là một
tay không vừa mới đối lại:
Rằng Gián thì năm, Quý có ba
Bởi người thục nữ tính không ra
Ừ, rồi thong thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn củ đa
Ba quan tiền Quý (tiền Cảnh
Hưng) ăn năm quan tiền Gián (tiền Hồng Đức).
Trong Văn Học Sử Việt
Nam, Tôn Thọ Tường và Phan văn Trị là hai người có nhiều bài xướng
hoạ với nhau, chẳng hạn như bài Tôn Phu Nhân quy Thục tiêu biểu sau
đây:
Bài xướng
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!
Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán, trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi,
Đá vàng chi để thẹn núi sông .
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn:
Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng
Tôn Thọ Tường
Bài họa
Cài
trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Mặt ngã
trời chiều biệt cõi Đông.
Ngút
tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng,
Duyên
về đất Thục đượm màu hồng.
Hai vai
tơ tóc bền trời đất,
Một
gánh cang thường nâng núi sông
Anh hởi!
Tôn Quyền: anh có biết?
Trai
ngay thờ chúa gái thờ chồng
Phan văn Trị
Ngoài lối thư xướng hoạ,
trong văn chương Việt Nam cũng còn nhiều lối thơ cũng chơi chữ như :
-Thủ vĩ ngâm: lối thơ có câu đầu câu cuối giống nhau.
Anh em đừng nghĩ Tết tôi
nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lãnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quảy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh đường sắp gói e mồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành Tết khác
Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo
(Tết, Trần Tế
Xương)
-Tiệt hạ: lối thơ câu nào cũng bỏ lửng như bị ngắt bớt ở cuối, nhưng
ý nghĩa rõ rệt, người đọc đoán mà hiểu được
Thác bức rèm châu chợt thấy
mà …
Chẳng hay người ngọc có hay đà…
Nét thu dợn sóng hình như thể …
Cung nguyệt quang mây nhác ngỡ là…
Khuôn khổ ra chiều người ở chốn…
Nết na xem phải thói con nhà …
Dở dang nhắn gửi xin thời hãy…
Tình ngắn lời dài chút nữa ta…
(vô danh)
- Vĩ tam thanh: lối thơ mà
bất cứ câu nào ba tiếng cuối cùng cũng có âm giống nhau.
Ta nghe à gáy tẻ tè te
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè
Non một chồng cao von vót vót
Hoa năm sắc nở loẻ loè loe
Chim tìm bầu bạn kia kìa kỉa
Ân nghĩa vua tôi nhẹ nhẻ nhè
Danh lợi mặt người ti tí tỉ
Ngủ trưa chưa dậy khoẻ khoè khoe
(vô danh)
-Song điệp: mỗi câu mà mỗi câu có đặt hai cặp điệp tự
Vất vất vơ vơ cũng nực cười
Căm căm cúi cúi có hơn người
Nay còn chị chị anh anh đó
Mai đã ông ông mụ mụ rồi
Có có không không lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại chết xong đời
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi
(vô danh)
-Thuận nghịch đọc: lối thơ đọc ngược đọc xuôi đều thành câu có
nghĩa.
Bài đọc xuôi:
Linh uy tiếng nổi thật là đây
Nước chắn, hoa rào, một khoá mây
Xanh biếc nước soi , hồ lộn bóng
Tím bầm rêu mọc, đá tròn xoay
Canh tàn lúc đánh chuông ầm tiếng
Khách vắng khi đưa xạ nhát bay
Thành thị tiếng vang đồn cảnh thắng
Rành rành nọ bút với nghiên này
Bài đọc ngược:
Này nghiên với bút nọ rành rành
Thắng cảnh…
(Đền Ngọc Sơn, vô danh)
Nhà nho thuở xưa cũng có lối chơi chữ hoàn toàn bằng chữ Hán. Nguyễn
Công Trứ mở đầu bài “chữ nhàn” với câu:
Thị tại môn tiền náo
市 在 門前
閙
Nguyệt lai môn hạ nhàn
月 来 門下 閒
Nghĩa: chợ ở
trước cửa thì huyên náo, trăng đến trước cửa thì ra vẻ an nhàn.
Cùng một chữ môn
門,
nếu để chữ thị市vào
trong thì thành ra chữ náo
閙,
nếu để chữ nguyệt
月vào
thì thành ra chữ nhàn
閒.
Sử chép rằng văn nhân Trung Hoa muốn thử tài người Việt Nam mới đưa
ra bài thơ sau đây để đố mà chẳng nói thêm gì cả.
Lưỡng nhật bình đầu nhật
両
日 平 頭 日
Tứ sơn điên đảo sơn
四
山 顛 倒山
Lưỡng vương tranh nhất quốc
両
王 爭 一 國
Tứ khẩu tung hoành giang
四
口 縱 橫江
Trạng nguyên Nguyễn Hiền lúc
đó mới có 9 tuổi xem xong chỉ viết có chữ điền
田
để giải đáp. Nếu chú ý đến
cách ghép chữ ta sẽ hiểu ra dễ dàng. Hai chữ nhật
日đặt
ngang đầu nhau sẽ thành chữ điền. Bốn chữ sơn
山 đặt
thành điên đảo cũng thành chữ điền. Hai chữ vương
王 đặt
chéo nhau cũng thành chữ điền.
Và cuối cùng là bốn chữ khẩu
口 đặt
ngang dọc (tung hoành) cũng thành chữ điền.
Trở lại lối chơi chữ thuần tuý Việt Nam, “nói lái”, một thứ “trò
chơi trời cho”. Dùng thể nói lái để ra câu đối thì rất khó đối
lại.
Để đối với:
Có vài cái vò
Người ta phải đối lại là:
Kia mấy cây mía
Và nhiều câu khác
như:
Bà Trưng bưng trà
Bà Xẩm bầm sả
Thi đua chỉ thấy thua đi mãi
Kháng chiến càng thêm khiến chán thôi
Con mỏ kiến nằm trên miếng cỏ
Chim vàng lông đáp dựa vòng lang
Còn những câu sau đây bạn sẽ
đối như thế nào?
Thầy giáo tháo giầy, vấy đất
vất đấy
Thầy
tu thù Tây, đi tàu đau tì
Tựa
cây bông xem công bay
Con
cá đối nằm trong cối đá
Mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo
Trong một buổi
họp mặt, tôi bỗng nhận ra là lấy tên hai người bạn và nói lái lại
thì thành tên hai người bạn khác cũng có mặt ở đó. Từ đó tôi nghĩ có
thể áp dụng cách nói lái này vào tên gọi động vật, thực vật… Chẳng
hạn như:
Con cua con rồng - con công
con rùa
Con trăn con rái - con trai
con rắn
Con cáo con sóc - con cóc con sáo
Con sâu con trùn - con sùng con trâu
Con sáo con bò - con sò con báo
Con cóc con sam - con cam con sóc
Con báo con cò - con bò con cáo
Con ốc con công - con ong con cóc
Con cóc con sò - con cò con sóc
Nếu con trai -
con gái cũng kể là động vật thì ta có:
Con gái con trâu - con gấu
con trai
Thử tìm vài câu
nói lái tên gọi thực vật, tôi tìm ra được mấy cặp sau đây:
Cây trà cây dâu - cây trầu
cây da
Cây hạnh cây tre - cây hẹ
cây tranh
Năm hết Tết đến,
nếu ta không làm được câu đối Tết thì hãy tìm thử đôi ba câu nói lái
cũng tạm gọi là chơi Xuân.
Trần Vĩnh Thuận
(Osaka, đầu năm 1976)
Tài liệu tham khảo:
- 50 năm báo chí đất Thần
Kinh, Thời Nay 151 – 152
- Từ một đồng tiền Cảnh Hưng, Hà Xuân Liêm, Thời Nay 151 –
152
- Chơi câu đối, Toan Ánh, Bách Khoa, 387
- Văn Học Việt Nam, Dương Quảng Hàm
- Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm
|