|
Tóm tắt
Thí nghiệm về
chó của Pavlov đă đóng một vai tṛ tất yếu trong việc khám phá một
phàm trù rất quan trọng trong lănh vực tâm lư học: phản xạ có điều
kiện. Khái niệm cơ bản của phản xạ này là sự liên
đới của một tác nhân kích thích với một phản ứng đặc thù bằng cách
ghép đôi cả hai lại với nhau. Phản xạ có điều kiện được dùng để
điều trị những chứng bệnh tâm thần như lo âu, trầm cảm, sợ hăi quá độ,
và trạng thái rối loạn do ám ảnh và cưỡng bức.
Phản xạ có điều kiện cũng được dùng trong lănh vực tiếp thị và giáo
dục.
Abstract
Pavlov's dogs
experiment has played a critical role in the discovery of one of the
most important concepts in psychology: classical conditioning. The
basic idea behind classical conditioning is that a stimulus can become
associated with a specific response through repeated pairings.
Classical conditioning has been used to treat
such mental health disorders as: anxiety, depression, phobias
and obsessive-compulsive disorder. In addition, classical conditioning
can also be used in the areas of marketing and education.
Từ khóa:
classical conditioning, behaviorism, neutral stimulus, conditioned
stimulus, unconditioned stimulus, conditioned response, fear response,
taste aversions, mental health disorders, marketing, education.
1. Vài ḍng
về Ivan Petrovich Pavlov (1849-1936)
Ivan Pavlov la một nhà sinh lư học người
Nga. Ông đă khám phá ra
hiện tượng phản xạ có điều kiện hay điều kiện hóa cổ điển (classical
conditioning) với thí nghiệm nổi tiếng của ông về chó vào cuối năm
1897.
Ivan Petrovich Pavlov sinh ra vào ngày
14 tháng 9, 1849 tại Ryazan, Nga.
Cha ông là một mục sư làng. Ông
theo học trường thần học cũng tại Ryazan.
Sau này, v́ bị ảnh hưởng của I.M. Sechenov, cha đẻ về ngành sinh lư
học của Nga, Pavlov bỏ nghề mục sư và hoạt động trong lănh vực khoa
học cho đến cuối đời.
Năm 1870, ông ghi
tên học toán và vật lư; nhưng sau đó đổi sang ngành sinh lư học.
Ông lấy bằng tiến sĩ về ngành này với công tŕnh
nghiên cứu về “Dây thần kinh ly tâm của tim/the centrifugal nerves of
the heart” vào năm 1883.
Năm 1890.
ông được mời làm khoa trưởng khoa sinh lư
học, Viện Y học Thực nghiệm (Institute of Experimental Medicine) và
tiếp tục làm việc ở đây 45 năm. Dưới sự lănh đạo
của ông, Viện này đă trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu về
sinh lư học nổi tiếng trên thế giới.
Ông lănh giải Nobel
về Sinh lư học hay Y khoa (Physiology or Medicine) về thành quả nghiên
cứu về hệ tiêu hóa vào năm 1904.
GS Pavlov
mất tại Leningrad vào ngày 27 tháng hai năm 1936 [1].
2. Phản xạ có
điều kiện (classical conditioning)
Phản xạ có điều
kiện hay c̣n gọi là điều kiện Pavlov (Pavlovian conditioning) là một
khám phá quan trọng trong lănh vực tâm lư học v́ đă đặt nền tảng cho
ngành tâm lư hành vi (behaviorial psychology). Loại phản xạ này- h́nh
thành sau một thời gian học tập và rèn luyện- đặt căn bản trên sự học
tập qua liên kết (associative learning), nhằm tạo thói quen vô ư thức
và tự động và nhấn mạnh vai tṛ của sự học tập trong việc sửa đổi hành
vi (behavior modification). Phản xạ này dễ mất đi
nếu không tiếp tục củng cố thường xuyên.
Phản xạ
có điều kiện là một kỹ thuật thường được
dùng trong việc huấn luyện tập tính hay hành vi.
Công tác này đ̣i hỏi sự đi đôi của một một tác nhân kích thích trung
tính (neutral stimulus) với một tác nhân kích thích vô điều kiện (unconditioning
stimulus) để tạo ra phản ứng. Sau một thời
gian học tập, chỉ tác nhân kích thích trung tính không thôi cũng có
thể tạo nên phản ứng như tác nhân kích thích vô điều kiện.
Pavlov
dùng chó trong thí nghiệm của ông.
Ở đây, tiếng chuông reng lên (tác nhân trung tính) mỗi lần có thức ăn
mang tới (tác nhân kích thích vô điều kiện).
Sau cùng con chó tiết dịch vị. Ngoài ra, ông c̣n để ư thấy con chó
bắt đầu tiết dịch vị chẳng những khi thấy thức ăn
mà ngay cả khi thấy người trợ lư thường mang thức ăn đến (tác nhân
kích thích có điều kiện).
3. Những tác
nhân kích thích và phản ứng
H́nh 1 được dùng để
tham khảo trong việc cắt nghĩa những tác nhân kích thích và phản ứng
dưới đây:
3-1. Tác nhân
kích thích trung tính (neutral stimulus)
Tác nhân kích thích
trung tính là một tác nhân tự nó không gây ra một sự kích thích
nào lúc khởi đầu. Thí
dụ như âm thanh của tiếng chuông reo. Âm thanh này không làm
con chó tiết dịch vị và v́ thế là một kích
thích trung tính hay gọi tắt là NS.
3-2. Tác nhân
kích thích vô điều kiện (unconditioned stimulus)
Tác nhân kích thích
vô điều kiện hay UCS hay kích thích xảy ra tự
nhiên là một nút kích thích (trigger) đưa đến một phản ứng tự
động. Chẳng hạn như thức ăn làm con chó đáp
ứng không tự nguyện như tiết dịch vị.
3-3. Sự tiếp nhận (acquisition)
Tiếp nhận là giai
đoạn ban đầu của quá tŕnh học tập, khi phản ứng được thiết lập. Trong
giai đoạn tiếp nhận này, tác nhân kích thích trung tính
NS đi cặp nhiều lần với tác nhân kích
thích vô điều kiện UCS.
Nên ghi nhận ở đây là tác nhân kích
thích vô điều kiện UCS là một tác nhân có thể kích hoạt phản ứng một
cách tự nhiên và tự động mà không có sự hiện diện của bất cứ một sự
học tập nào. Sau khi có sự
liên hợp, đối tượng thí nghiệm sẽ bắt đầu có hành
vi khi đáp ứng với tác nhân trung tính NS hay tác nhân kích
thích có điều kiện CS. Ở vào thời điểm này, chúng ta có thể nói là sự
đáp ứng đă được thu thập. Một khi phản ứng đă đạt
được rồi, chúng ta có thể tiếp tục củng cố thêm nhiều lần sau đó.
3-4. Phản ứng
vô điều kiện (unconditioned response)
Phản ứng vô điều
kiện hay UCR là một phản ứng tự động hay là một phản ứng xảy ra khi
có sự hiện diện của một tác nhân kích
thích vô điều kiện UCS. Chẳng hạn như thấy thức ăn,
con chó tiết địch vị. Tiết địch vị là phản
ứng vô điều kiện UCR.
3-5.
Tác nhân kích thích có điều kiện (conditioned stimulus)
Tác nhân kích thích
có điều kiện hay CS là một sự kích thích lúc trước ở trạng thái trung
tính (không kích hoạt hay gây ra phản ứng nào) nhưng bây giờ tự nó có
thể tạo ra phản ứng. Thí dụ như lúc trước tiếng chuông không gây phản
ứng nào nơi con chó, nhưng sau môt thời gian nghe tiếng chuông và thấy
thức ăn đến cùng một lúc, mỗi lần nghe
tiếng chuông reng, con chó tiết dịch vị. Tiếng
chuông trở thành một tác nhân kích thích có điều kiện CS.
3-6.
Phản ứng có điều kiện (conditioned response)
Phản ứng có điều
kiện hay CR đáp ứng với tác nhân kích thích có điều kiện CS. Trở lại
trường hợp của con chó, sự tiết dịch vị mỗi khi nghe tiếng chuông (CS)
là phản ứng có điều kiện (CR).

H́nh 1.
Những tác nhân kích thích và phản ứng của sự
phản xạ có điều kiện [2]. Có ba giai đoạn: (i)
Giai đoạn một (trước khi điều kiện hóa- before conditioning, h́nh trên
bên trái): Trong quá tŕnh của phản xạ vô điều kiện, tác nhân kích
thích vô điều kiện UCS đưa đến phản ứng vô điều kiện UCR. Mang thức ăn
(UCS) tự động làm con chó tiết dịch vị (UCR). Ở
thời điểm này, rung chuông là tác nhân kích thích trung tính NS không
tạo nên phản ứng tiết dịch vị (h́nh trên bên phải). (ii) Giai
đoạn hai (trong khi điều kiện hóa- during conditioning, h́nh dưới bên
trái): Sự liên đới giữa tiếng chuông reng (tác nhân kích thích trung
tính NS lúc trước) và thức ăn (tác nhân kích thích vô điều kiện UCS)
được h́nh thành. Ở giai đoạn này, con chó tiết địch vị và tác nhân
kích thích trung tính NS trở thành tác nhân kích thích có điều kiện
CS. (iii) Giai đoạn ba (sau khi điều kiện hóa- after conditioning,
h́nh dưới bên phải): Một khi sự liên hợp giữa thức ăn (tác nhân kích
thích vô điều kiện UCS) và tiếng chuông reng (tác nhân kích thích có
điều kiện CS) được thiết lập, chỉ tác nhân kích thích có điều kiện CS
không thôi cũng đủ để gây nên phản ứng tiết dịch vị - ngay cả với sự
vắng mặt của tác nhân kích thích vô điều kiện UCS. Phản ứng đối với sự
kích thích này được biết dưới cái tên là phản ứng có điều kiện CR và
là phản ứng đă học hỏi được từ tác nhân
kích thích trung tính NS lúc trước[2].
3-7. Sự tắt dần
(extinction)
Sự tiêu hủy xảy ra
khi phản ứng có điều kiện CR suy giảm hay biến mất.
Trong quá tŕnh phản xạ có điều kiện, sự tiêu hủy
này xảy ra khi tác nhân kích thích có điều kiện CS không c̣n đi cặp
với tác nhân kích thích vô điều kiện UCS.
Thí dụ như trong trường hợp mùi vị của thức ăn (UCS) đi đôi với tiếng
chuông (CS); sau nhiều lần đưa đến t́nh trạng tiếng chuông làm cho con
chó tiết dịch vị (CR). Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian, khi
thức ăn không c̣n đi cặp với tiếng chuông
nữa, cuối cùng sự tiết dịch vị của con chó (phản ứng có điều kiện CR)
sẽ không xảy ra nữa.
3-8. Sự
phục hồi tự phát (spontaneous recovery)
Đôi khi phản ứng học hỏi tái xuất hiện
một cách đột nhiên, ngay cả sau khi phản ứng có điều kiện CR biến mất.
Thí dụ, sau khi được huấn luyện, con chó tiết dịch vị khi nghe tiếng
chuông. Bạn ngưng củng cố hành vi này và
phản ứng tiết dịch vị ngưng lại. Sau một thời gian
với sự vắng mặt của tiếng chuông reng (tác nhân kích thích có điều
kiện CS), bạn reng chuông trở lại và con chó ngay lập tức tiết dịch vị-
phục hồi lại được phản ứng học hỏi được lúc trước.
4. Thí
nghiệm về chó của Pavlov
Ivan Pavlov Pavlov
làm thí nghiệm về chó với mục đích chính là chứng tỏ khái
niệm về phản xạ có điều kiện (classical
conditioning). Phản xạ này c̣n có cái tên là điều kiện hóa cổ điển
(classical conditioning) bởi v́ đây là
nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về quy luật cơ bản của sự học tập
(basic laws of learning).
Thí
nghiệm này được manh nha từ sự quan sát hành động gia tăng dịch vị
tiết ra từ con chó khi con vật này nghe bước chân của người trợ tá
của ông mang thức ăn đến. Ông cho rằng tiếng bước chân báo hiệu cho
con chó biết rằng thức ăn đang được mang
tới; gửi tín hiệu đến thần kinh đại năo; và chỉ thị cho dạ dày tiết ra
dịch vị. Từ phát hiện này, Pavlov nghĩ rằng, bất kỳ một tín hiệu nào
như tiếng chuông, tiếng huưt sáo... gắn liền với sự xuất hiện của thức
ăn trong một thời gian dài liên tục đều có thể cho ra một kết quả
tương tự. Ông lập lại thí nghiệm này nhiều lần vả
kết quả thực nghiệm xác nhận sự suy đoán của ông là chính xác.
Pavlov đă chứng tỏ rằng con chó có thể bị điều kiện hóa để liên kết
một tác nhân kích thích (như tiếng chuông) với một phản ứng phản xạ
bằng cách lập lại nhiều lần sự ghép nối hai tác nhân kích thích này
với nhau. Trong thí nghiệm của Pavlov, con chó liên
kết thức ăn (hay một thứ ǵ có thể kích
hoạt sự tiết ra dịch vị) trước tiên với tiếng chuông; sau đó với h́nh
ảnh khi thấy áo khoác trắng của người trợ lư của ông. Và ngay cả áo
khoác trắng cũng đủ để kích hoạt động tác tiết ra dịch vị của con chó.
Sự tiết ra dịch vị-
theo nhận xét của ông- là một quá tŕnh
phản xạ (reflexive process). Quá tŕnh này xảy ra tự động như một phản
ứng đối với một sự kích thích đặc thù từ
bên ngoài và không chịu sự kiểm soát có ư thức (conscious control).
Không giống như phản ứng tiết dịch vị khi thấy thức
ăn- một phản xạ vô điều kiện, tiết dịch vị khi chờ đợi thức ăn được
mang đến là một phản xạ có điều kiện. Ông gọi đó là "phản xạ có điều
kiện" hay “classical conditioning”.

H́nh 2.
Thí nghiệm về chó của Pavlov.
Ràng con chó với dây nịt và giữ nó trong một môi trường biệt lập. Một
tô thức ăn được đặt trước con chó; và một
thiết bị được dùng để đo tần số của dịch vị tiết ra. Ông gắn một cái
ống nhỏ vào trong má của con chó để đo dịch vị tiết ra khi cung cấp
thức ăn gồm có bột trộn với thịt. Dữ liệu đo lường được ghi lại trên
một cái cái trống quay, giúp ông giám sát và kiểm chứng lượng dịch vị
được tiết ra [3 ].
Thí nghiệm về phản xạ có điều kiện với
chó được biểu hiện ở H́nh 2.
Trước tiên, thức
ăn được mang đến, con chó bắt đầu tiết dịch
vị. Thức ăn là tác nhân kích thích vô điều
kiện UCS và sự tiết ra dịch vị là phản ứng vô điều kiện UCR. Đây là sự
kết nối giữa UCS (thức ăn) và UCR (tiết dịch vị)-
một yếu tố cần thiết cho sự học tập. Trong thí
nghiệm này, Pavlov dùng một cái mày đánh nhịp (metronome) như tác nhân
kích thích trung tính (NS). Máy đánh nhịp,
tự nó không gây ra một phản ứng hay một hành động đặc thù nào từ con
chó. Nói một cách khác, trước khi điều kiện hóa được xảy ra,
máy đánh nhịp (tác nhân kích thích trung tính NS)
không tạo ra một hiệu quả nào trên hành vi hay phản ứng sinh
lư học cần quan tâm. Chẳng hạn như, lúc đầu âm thanh của máy đánh nhịp
- tác nhân kích thích trung tính NS-, không làm cho con chó tiết ra
dịch vị .
Tiếp theo sau đó,
Pavlov bắt đầu thủ tục điều kiện hóa, với máy đánh nhịp bắt đầu hoạt
động với âm thanh “clicking” ngay trước khi cho con chó ăn. Một số
lần thử nghiệm sau đó đă chứng tỏ âm thanh của máy đánh nhịp làm gia
tăng lượng dịch vị được tiết ra.
Thế có nghĩa là con
chó đă học hỏi được sự liên đới giữa máy đánh nhịp và thức
ăn và học được một tập tính mới.
Bởi v́ phản ứng này được học tập, phản ứng được
gọi là phản ứng có điều kiện CR (conditioned response); và cũng được
biết với cái tên “phản ứng Pavlov”. Tác
nhân kích thích trung tính NS giờ trở thành tác nhân kích có điều kiện
CS.
5. Vài thí dụ về hiệu quả của sự phản xạ
có điều kiện
Phàn xạ có điều kiến đă đặt nền tảng cho nhiều ứng dụng.
Trong số đó có: chủ nghĩa hành vi
(behaviorism), sự đáp ứng với sợ hăi, ác cảm vị giác và quảng cáo.
5-1. Đáp ứng với sự sợ hăi (fear
response)
Thí nghiệm “Little Albert”
được thực hiện vào năm 1920 bởi John B. Watson- người đă thiết
lập ra trường phái của chủ nghĩa hành vi (behaviorism). (Ghi chú: thí
nghiệm này được thực hiện 100 năm về trước, nên người viết xin quư vị
độc giả đừng để ư nhiều đến phương tiện dùng trong thí nghiệm, dựa vào
tiêu chuẩn hiện tại của xă hội hiện tại chúng ta đang sống!)
Albert
là một đứa bé rắn chắc, khỏe mạnh và hầu như không có cảm xúc. Mẹ của
Albert là một vú nuôi trong một bệnh viện nhi
đồng. Khi Albert vào khoảng 9 tháng, Watson và người trợ tá thử nghiệm
phản ứng của cậu bé đối với chuột trắng, báo bị đốt cháy và một cây
búa đập trên một thanh thép dài khoảng 4 feet dùng làm tác nhân kích
thích trung tính (NS). Và không thấy
Albert tỏ ra một sự sợ hăi nào cả.
Khi
Albert vừa 11 tháng, Watson cho cậu ta tiếp xúc với con
chuột là tác nhân kích thích vô điều kiện
UCS: mỗi lần Albert giơ tay lên muốn đánh con chuột, th́ Watson đập
cây búa trên thanh thép. Sự kiện này lập lại nhiều
lần trong nhiều tuần. Vào lúc này, con
chuột trở thành tác nhân kích thích có điều kiện CS làm cho Albert sợ;
và sự sợ hăi là phản ứng có điều kiện CR.
Sự sợ
hăi có điều kiện này truyền tải một cách
tự phát đến thỏ, chó và những tác nhân kích thích khác có h́nh dáng
tương tự như con chuột. Năm ngày sau khi Albert bị điều kiện hóa, phản
ứng CR do con chuột gây ra vẫn c̣n. Phản ứng này
trở nên yếu dần sau 10 ngày mặc dù hiệu quả vẫn c̣n ít nhiều ngay cả
một tháng sau đó.
5-2. Chủ nghĩa hành
vi (behaviorism)
Chủ nghĩa hành
vi c̣n được gọi lư thuyết về học tập hành
vi là một phàm trù trong tâm lư học nhấn mạnh về vai tṛ của học tập
và quan sát hành vi trong việc hiểu biết hành động của con người và
sinh vật.
Chủ nghĩa hành
vi là một lư thuyết học tập cho rằng tất cả
hành vi đều có thể học tập được qua sự tương tác với môi trường hay
hoàn cảnh chung quanh. Thế nên, hành vi chỉ
đơn giản là phản ứng đối với tác nhân kích thích môi trường. Theo chủ
nghĩa này: (i) hành vi phải được nghiên cứu một cách khoa học với thí
nghiệm; (ii) hành vi có thể quan sát được là quan tâm chính đối với
chủ nghĩa hành vi; (iii) ảnh hưởng chủ yếu trên hành vi của con người
được học hỏi từ môi trường (e.g. điều kiện hóa qua phản xạ có điều
kiện, qua sự liên hợp); (iv) có một khác biệt nhỏ giữa sự học tập xảy
ra nơi con người và những động vật khác. Cho nên nghiên cứu phải được
thực hiện với cả con người và động vật; (v) hành vi là kết quả của sự
liên hợp kích thích- phản ứng - nói một
cách khác, tất cả hành vi, bất luận phức tạp như thế nào, đèu có thể
thu lại về dạng đơn giản của sự liên đới giữa kích thích và phản ứng
(stimulus- response association).
5-3. Ác
cảm với vị nếm (taste aversions)
John Garcia và Bob
Koelling quan sát hiện tượng này lần đầu tiên khi hai ông nhận thấy
chuột có ác cảm với nước hương vị sau khi tiếp xúc với nước và mùi gây
ra buồn nôn cùng một lúc. Những con chuột
này tiếp xúc với mùi này lúc trước. Trong thí
nghiệm này, mùi phát ra là tác nhân kích thích vô điều kiện (UCS) và
buồn nôn là phản ứng vô điều kiện (UCR). Sau khi ghép cặp cả
hai tác nhân này lại với nhau , nước có hương vị trở thành tác nhân
kích thích có điều kiện (CS), trong khi đó sự buồn nôn xảy ra khi tiếp
xúc chỉ với nước không thôi là phản ứng có điều kiện (CR).
Tạo sự kết hợp như trên có thể có những
lợi ích cho sự sinh tồn.
Nếu con vật cảm thấy đau sau khi ăn một
cái ǵ, con vật này sẽ tránh dùng món ăn đó trong tương lai để khỏi bị
bệnh và có thể nguy hiểm đến tính mạng. Một số chủ nông trại dùng kết
quả của hiện tượng này để tránh sự giết
hại cừu của chó sói bằng nhiễm độc xác chết những con cừu. Những con
sói sau khi ăn xong không thích mùi vị và không đến tấn công đàn cừu
ở nông trại nữa.
Một người liên kết một phản ứng bất lợi
với một điều ǵ họ muốn từ bỏ.
Chẳng hạn, sự trị liệu bệnh nghiện rượu có thể cho
một người dùng một loại thuốc làm anh đau mỗi lần uống rượu.
Mục đích là dùng phản ứng bất lợi khi uống rượu
như là điều kiện (điều kiện hóa) để anh ta không c̣n thích uống rượu
nữa.
6. Những thí
dụ khác
Thí dụ về tác nhân kích thích vô điều
kiện CS
·
Mùi món ăn bạn thích làm cho bạn đói bụng
·
Khi cắt hành, mùi hành làm bạn chảy nước mắt
·
Phấn của hoa cỏ làm cho bạn nhảy mũi
·
Tiếng đập mạnh làm bạn chói tai
Thí dụ về tác nhân trung tính NS
·
Người trợ tá hay chiếc áo trắng cô ta mặc
·
Tiếng kêu cọt kẹt của cánh cửa
·
Khúc nhạc piano
Thí dụ về phản ứng vô điều kiện UCR
·
Đụng vào một cái chảo nóng, vội rút tay lại
·
Vội lấy tay rờ vết cắn khi bị ong chích
·
Chân co giật khi bác sĩ gơ vào đầu gối
·
Nhảy ngược lại khi có con chó gầm gừ chạy tới
Thí dụ về tác nhân kích
thích có điều kiện CS
Dưới đây là vài thí
dụ về tác nhân kích thích trung tính NS trở thành tác nhân kích thích
có điều kiện CS sau khi liên hợp với một tác nhân kích thích vô điều
kiện UCS:
·
Vào một bữa
ăn trưa, bạn ăn burrito và bị đau ngay sau
đó. Mặc dù burrito là món ăn bạn thường ăn
lúc trước (tác nhân kích thích trung tính NS; giờ burrito trở thành
tác nhân kích thích có điều kiện CS qua sự liên đới với sự “bị bệnh” –
tác nhân kích thích vô điều kiện UCS. Kết quả là bạn có thể có một ác
cảm về mùi vị giác (taste aversion) với ư nghĩ cho rằng
ăn món ăn burrito trong tương lai có thể
làm cho bạn bị bệnh.
·
Có một ngày nọ,
khi bạn đang đi xe đạp. Khi đến gần một góc
đường, bạn bị một con chó tấn công. Góc đường giờ trở thành một tác
nhân kích thích có điều kiện CS làm bạn sợ hăi mỗi khi phải đi ngang
qua.
Thí dụ về phản ứng có điều
kiện CR
·
Nếu bạn chứng
kiến một tai nạn xe hơi khủng khiếp, bạn có
thể sợ lái xe sau đó. Nhiều nỗi ám ảnh (phobias) và sợ hăi bắt đầu sau
khi con người gặp phải một kinh nghiệm bất lợi.
·
Một bà mẹ đưa
đứa bé đến pḥng mạch bác sĩ để chích ngừa. Đứa bé khóc lên v́ đau.
Sau này đứa bé có thể khóc ̣a lên mỗi lần
thấy nhân viên y tế mặc áo trắng.
7.
Thí dụ về tiếp thị dựa vào phản xạ có điều kiện
Về phương diện tiếp
thị, phản xạ có điều kiện được xử dụng để tạo ra một sự liên đới giữa
sản phẩm hay thương hiệu và tác nhân kích thích cụ thể nhằm ảnh hưởng
hành vi của người tiêu dùng.
Trong công tác quảng cáo sản phẩm, các hăng thường
đưa ra h́nh ảnh của những thắng cảnh, súc vật, hoặc những biểu tượng
của ngày lễ. Họ cũng dùng h́nh ảnh của
những người nổi tiếng đứng ra giới thiệu và ủng hộ sản phẩm.
Những h́nh ảnh này có thể tạo những cảm xúc tích cực với khách hàng,
khiến họ thích và gần gũi với sản phẩm
nhiều hơn.
Dưới đây là vài thí
dụ (H́nh 3):
·
Coca- Cola là
một thí dụ điển h́nh, Hăng này đă tạo ra một sự liên kết mạnh mẽ giữa
khách hàng và thương hiệu màu đỏ, trắng và hàng chữ Coca-Cola.
·
McDonald’s với
thương hiệu chiếc ṿm màu vàng nổi tiếng khắp nơi trên thế giới.
·
Apple với thương
hiệu quả táo “bị cắn một miếng”.
·
Hăng giày Nike
với khẩu hiệu “Just Do it”.
·
M&M’s của hăng
kẹo Mars.

H́nh 3.
Vài thí dụ về những thương hiệu nổi tiếng trong
thị trường. Ngày nay, khách hàng thuộc nhiều lứa tuổi
khác nhau có thể nhận ra ngay sản phẩm mỗi lần thấy những thương hiệu
này, dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới (Google Images).
8. Kết từ
Đóng góp chính nhất của Ivan Pavlov vào
lănh vực tâm lư là sự khám phá về phản xạ có điều kiện.
Phản xạ này xác định sự liên đới thu thập
được từ những tác nhân kích thích có thể ảnh hưởng đến hành vi. Công
tŕnh nghiên cứu của ông đă đặt nền tảng và ảnh hưởng lâu dài trong
lănh vực trí tuệ và hành vi. Khám phá này
cũng đă góp phần trong việc thiết lập trường phái về tư duy được biết
với cái tên là chủ nghĩa hành vi. Ở đây
những nguyên lư của phản xạ có điều kiện được dùng để cắt nghĩa sự
kiện trong một phạm vi rộng hơn bao gồm từ
hành vi do nỗi ám ảnh đến ác cảm với thức ăn.
Ngoài
ra nghiên cứu của Pavlov cũng góp phần trong việc trị liệu những bệnh
lư liên quan đến rối loạn tâm lư như nỗi
ám ảnh, lo âu, bệnh trầm cảm (depression), trạng thái rối loạn do
cưỡng bức và ám ảnh OCD (obsessive-compulsive disorder) và rối loạn
căng thẳng sau chấn thương PTSD (post-traumatic stress disorder).
Nghiên
cứu về phản xạ có điều kiện cũng rất phổ biến trong lănh vực quảng cáo
thị trường, giáo dục và điều trị những bệnh về cai
nghiện.
9. Tài liệu
tham khảo
[1] https://en.wikipedia.org/wiki/Ivan_Pavlov
[2]
https://www.simplypsychology.org/pavlov.html
[3]
https://www.simplypsychology.org/behaviorism.html
August 1, 2024
|