|
Từ lúc hệ
thống chụp hình MRI ra đời trên thị trường khoảng 40 năm về trước,
ngoài trừ tính an toàn như đã trình bày ở những bài viết trước [1,2],
hai vấn đề hệ thống máy gặp phải đối với bệnh nhân là chứng sợ không
gian hẹp (claustrophobic) và tiếng động cơ khí.
Cộng đồng y khoa và công nghệ đã và đang cải tiến hệ thống chụp cộng
hưởng từ MRI ngõ hầu có thể giải quyết thỏa đáng hai mối quan tâm và
lo ngại trên.
1. Cấu tạo của máy
chụp cộng hưởng từ MRI

Hình 1.
Mô hình cấu tạo máy chụp cộng hưởng từ MRI.
Máy này gồm có những thành phần chính: vòng xoắn sóng radio (radio
frequency coil hay RF coil), cuộn phát sóng tần số radio, vòng xoắn
tạo gradient (gradient coils): thỏi nam châm (magnet) để tạo từ trường,
bộ phận quét (scanner), và bàn di chuyển bệnh nhân (Google Images).
Mô hình cấu tạo tổng quát của máy chụp
cộng hưởng từ được biểu thị ở Hình 1.
Ba thành phần chính của máy chụp MRI là: vòng xoắn sóng radio, thỏi
nam châm và vòng xoắn tạo gradient. Vòng xoắn
radio dùng để truyền đạt và nhận tín hiệu RF và thường có cấu trúc LC
(inductance-capacitance). Thỏi nam
châm dùng để dàn hàng hướng quay của prôton với một từ trường
rất mạnh, khoảng 0.5- 3 Tesla (5.000 – 30.000 Gauss; 1 Tesla= 10.000
Gauss). Đây là thành phần quan trọng nhất
trong hệ thống MRI. Con số này rất lớn so với từ
trường của trái đất (vào khoảng 0.5 Gauss). Vì thế ảnh hưởng từ
trường của trái đất trong việc gửi và thu
nhận tín hiệu của MRI được xem như là không đáng kể!
Có ba loại
nam châm (hay thỏi từ) : nam châm điện trở
(resistive magnet), nam châm vĩnh cửu (permanent magnet) và nam chân
có tính siêu dẫn (superconducting magnet). Trong
số đó, nam châm có tính siêu dẫn được dùng nhiều nhất hiện nay trong
máy MRI. Chức năng của những bộ phận khác trong máy chụp MRI:
vòng xoắn građiên tạo những từ
trường biến đổi, để cho tín hiệu liên quan về vị trí (positional
information) dùng một từ trường nhỏ hơn nhiều so với nam châm chính.
RF dùng để truyền đạt và nhận tín hiệu; thuật số (digitizer) nhằm biến
đổi tín hiệu analog nhận được thành digital; bộ sắp xếp dãy xung số
(pulse sequencer) dùng để kiểm soát thời gian građiên RF, bộ số hóa
(digitizer) và máy tính dùng phép biến đổi
Fourier nhanh (Fast Fourier Transform hay FFT) để tạo hình, lưu trữ
trình tự xung (pulse sequences), và hiển thị kết quả đạt được.
2.
Hai dạng chính của máy quét MRI
Có trên 20
hãng cung cấp máy chụp cộng hưởng từ MRI trên thị trường. Một số hãng
đã đóng vai trò tiên phuông trong việc chế tạo máy chụp MRI trên thị
trường như : GE Healthcare, Fonar, Picker/Marconi, Elscin , Shimadzu,
Toshiba, Hitachi , Philips. Sau một thời gian dài gần 40 năm, một số
hãng vẫn còn hoạt động; một số sáp nhập với những hãng khác và đổi tên;
một số còn lại không còn cung cấp sản phẩm trên thị trường nữa.
Nói một
cách tổng quát, cấu trúc và thiết kế của máy quét MR (MR scanners)
được xếp loại theo hai dạng chính: (i) dạng
đóng (closed MRI) chiếm khoảng 90% của các máy MRI trên thị trường; và
(ii) phần còn lại thuộc dạng mở (open MRI). Với sự
tiến bộ kỹ thuật, một số mô hình của MRI thuộc dạng mở được cải tiến
đáng kể và giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn khi chụp
hình MRI.
2.1
MRI dạng đóng
Ở dạng đóng,
từ trường khoảng 1Tesla hay lớn hơn được
tạo ra bằng cách cho dòng điện chạy qua một solenoid được giữ ở nhiệt
độ siêu dẫn của chất lõng heli (Hình 2). Đại khái, bánh rán của MRI
dạng đóng có thể có kích cỡ tiêu chuẩn hay rộng lớn hơn dành cho những
bệnh nhân lớn người. Một số giải pháp được áp dụng
nhằm tạo không gian rộng để giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn
trong lúc chụp hình MRI.

Hình 2.
Máy quét MRI theo dạng đóng:
(a) Máy quét GE Signa 1.5T với nam châm
có tính siêu dẫn
và (b) Solenoid dùng để tạo từ trường B (Google Images).
2.2
MRI dạng mở
Từ lúc hệ
thống MRI được đưa ra thị trường, MRI dạng đóng rất phổ biến trong
việc cung cấp hình ảnh có chất lượng cao, thuận lợi cho công tác của
bác sĩ và cán bộ y tế trong việc phân tích và tầm soát bệnh lý và chửa
trị. Trong bài viết này, người viết sẽ chú tâm về
những đặc điểm của MRI thuộc dạng mở, dùng MRI dạng đóng làm tiêu
chuẩn để tham khảo và so sánh.
Như cụm từ
“dạng mở” ám chỉ, hê thống MRI dạng mở mở rộng không gian để bệnh nhân
có thể nhìn chung quanh căn phòng mà không
phải bị tùi túng trong không gian hẹp trong suốt thời gian chụp hình
như ở trong MRI thuộc dạng đóng [3]. Chất lượng hình của MRI thuộc
dạng mở thấp hơn hình chụp từ MRI dạng đóng và sẽ
không thích hợp trong việc chụp hình một số cơ quan hay vùng
trong cơ thể. MRI thuộc dạng mở được thiết kế với
một thỏi nam châm ở phía trên và một thỏi nam châm ở phía dưới và mở
trống ít nhất là hai bên. Hai cực từ tương ứng với hai thỏi nam
châm có thể có dạng hình chữ C hay hình móng ngựa. Nam châm vĩnh
cửu hay nam châm điện (electromagnets) với
từ trường nằm trong khoảng từ 0.064 Tesla tới 1 Tesla có thể dùng
trong cấu trúc thuộc dạng mở này [Hình 3].
Một cấu
trúc thuộc dạng mở nữa là nam châm điện lưỡng cực (dipolar
electromagnet) với vòng xoắn (coils) nằm ở hai bên bệnh nhân.
Từ trường của thiết kế thuộc dạng thức này nằm
trong khoảng 0.5 Tesla và 1.2 Tesla.

Hình 3.
Máy quét MRI theo dạng mở:
(a)
Hitachi Aperto 0.4T permanent magnet scanner
(b)
C-shaped permanent magnet
(c)
Hitachi Oasis 1.2T HFO superconducting scanner
(Google
Images)
MRI dạng mở
có ba cấu trúc:
(i) Dạng nửa kín
với từ trường lớn (semi open high field):
có nòng
(bore) ngắn và phần cuối rộng. Chỉ có bộ phận cơ
thể cần chụp hình được đặt trong vùng có thỏi nam châm.
(ii) Dạng mở với từ
trường nhỏ (open low field):
phần đầu mở
rộng (wide-open design). Bệnh nhân có một khoảng không gian rộng
chung quanh và cơ thể có thể thoải mái với
nhiều vị trí khác nhau;
(iii) Dạng mở tiên
tiến (advanced open):
tổng hợp
thiết kế rộng, dùng những kỹ
thuật tiên tiến về gra- điên và từ trường lớn.
Bệnh nhân có thể đứng, hoặc ngồi thẳng lưng trong lúc chụp hình MRI.
Hitachi
Oasis 1.2 Tesla biểu thị ở Hình 3(c) có lẽ là máy chụp MRI thuộc dạng
mở tân tiến nhất hiện nay trên thế giới.
Nằm trong máy này, bệnh nhân có thể nhìn chung
quanh với góc 270 độ mà không bị một cản trở nào.
Bàn di chuyển bệnh nhân rộng với chiều ngang
81 cm và
nặng 660 lbs.
Máy quét MRI Oasis thuộc dạng mở thích hợp cho những bệnh nhân như:
sợ không gian hẹp
(claustrophobic), phì mập (bariatric), thuộc bệnh tuổi già
(geriatric), liên quan đến khoa nhi (pediatric) hay đơn giàn chỉ là sự
thoải mái và tiện lợi khi dược chụp hình trong một cấu trúc MRI dạng
mở.
2.3
Hướng của từ trường máy trong hai dạng
Ở dạng đóng,
hướng từ trường (mũi tên đỏ) xếp theo hàng
ngang dọc theo nòng của ống hình trụ (cylindrical scanners); trong khi
đó, ở cấu trúc dạng mở, mũi tên đỏ chỉ hướng thẳng đứng.

Hình
4. Hướng từ trường của máy chụp MRI: (a) thuộc dạng đóng và
(b)
thuộc dạng mở [3].
3. Lợi điểm của máy quét MRI thuộc dạng mở
3.1
gia tăng sự thoải mái và giảm thiểu chứng sợ không gian hẹp
Máy quét
thuộc dạng nửa kín (semi-open scanners) thường
đòi hỏi bệnh nhân giữ tư thế nằm. Mặc dù vậy, bệnh
nhân có thể giao tiếp bằng mắt với nhân viên phụ trách máy và những
nhân viên khác trong phòng chụp MRI. Cũng có cấu trúc MRI thuộc
dạng mở cho phép bệnh nhân đứng, ngồi, hay giữ một tư thế khác trong
lúc chụp hình MRI. Một số thiết kế máy chụp MRI còn cho phép bệnh nhân
tiếp cận với những người thân trong gia đình trong lúc chụp hình,
3.2
Ít tiếng động chói tai hơn
Vì tiếng động cơ khí ít hơn hệ thống
chụp hình MRI thông thường, bệnh nhân sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.
3. 3
Tầm cỡ của bệnh nhân ít còn là vấn đề phải quan tâm
Tạo thêm sự
thoải mái và thuận lợi nhất là cho trẻ em,
những người khuyết tật, người lớn tuổi và những bệnh nhân lớn người.
Bệnh nhân sẽ cảm thấy thoải mái hơn trong các tư
thế nẳm ngồi lúc chụp hình MRI.
3.4
MRI thuộc dạng mở cung cấp giá cả phải chăng
It
tốn kém hơn trong việc đầu từ và bảo trì.
Vì vậy tốn kém về phía bệnh nhân cũng sẽ ít hơn và nhu cầu cũng gia
tăng [4].
3.5
Gia tăng lượng hình quét
MRI dạng mở
có thể cung cấp hình ảnh đủ chất lượng cho những hình ảnh quét về: đầu,
tim, lưu thông máu, (mạch
máu bị nghẽn hay bị bể), phần bụng (khối u, nhiễm trùng lá gan, tuyến
tụy, bàng quang, túi mật, và quả thận), và phần khung xương chậu (tử
cung, buồng trứng, tuyến tiền liệt, xương và
khớp xương).
4.
Khuyết điểm của dạng mở
(i) Quan
tâm của cộng động y khoa về máy quét MRI dạng mở lúc ban đầu thường là
chất lượng hình chụp kém;
(ii) MRI
dạng mở có thể không thích hợp trong việc chụp hình ở một số bộ phận
trong cơ thể con người;
(iii) Cần
thời gian dài hơn để chụp hình.
Điều nên
lưu ý là dù bất cứ máy quét thuộc dàng mở hay dạng đóng, điều quan
trọng là bệnh nhân phải nằm yên để có thể lấy hình chụp có chất lượng
tốt và thời gian chụp sẽ ngắn hơn vì không cần phải chụp lại.
5.
Kết từ
Máy chụp cộng hưởng từ MRI là một trong
những công nghệ điện tử y khoa đã và đang phổ biến rộng rãi trên thế
giới và đóng vai trò rất quan trọng trong lãnh vực y khoa với 95 triệu
hình chụp mỗi năm.
Số máy hiện tại dùng trên 36 ngàn.
Với tiến bộ kỹ thuật và sự ra đời của máy chụp MRI
thuộc dạng mở, sự quan tâm của bệnh nhân về chứng sợ không gian hẹp và
tiếng động của máy khi phải ở trong máy hàng giờ càng ngày càng ít hơn.
Với những tiến triễn khả quan này, vai trò của máy
chụp MRI trong lãnh vực y khoa càng lúc càng trở nên quan trọng và phổ
biến hơn.
6.
Tài liệu tham khảo
[1]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2012-09012021.htm
[2]
http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2022-06132022.htm
[3] Cosmos TC, Parizh M:
Advances in
whole-body MRI magnets. IEEE Trans Applied
Superconductivity 2011: 21;2014-2019.
[4] Food and Drug Administration.
Magnetic Resonance Imaging: Benefits And
Risks. Link:
https://www.fda.gov/radiation-emitting-products/mri-magnetic-resonance-imaging/benefits-and-risks
Access Date: 23 Aug 2020
August
25, 2022
|