|
Hiện tại, máy chụp cộng hưởng từ MRI rất
phổ biến trong rất nhiều bệnh viện trên thế giới.
Nhiều tiến bộ khả quan đă được thực hiện trong
ṿng 20 năm gần đây. Và có thể nói MRI là một một trong những
công nghệ chẩn đoán an toàn và rất hữu hiệu
trong nhiều lănh vực y khoa.
Thông thường, từ trường của hầu hết các
máy chụp cộng hưởng từ MRI nằm trong khoảng từ 1 Tesla (T) đến 3 Tesla
(T). Con số này lớn hơn từ
trường của trái đất rất nhiều. Chẳng hạn như một từ trường 3 Tesla
mạnh gấp 50.000 lần từ trường trái đất (khoảng
0. 6 mTesla; 1 Tesla=
10,000 Gauss). Sức mạnh này quá
lớn đủ để hút những chất c̣ tính sắt từ chung
quanh. Đây là một điều đă gây ra một số tai nạn vào thập niên 1990 và
đầu thập niên 2000 và là mối quan tâm lớn đối với cộng đồng y khoa,
công nghệ điện tử y khoa, nhất là bệnh nhân và nhân viên điều hành máy
chụp MRI.
1.
Những tại nạn đă xảy ra với máy chụp cộng hưởng từ
Có một số
tai nạn đă xảy ra nơi môi trường MRI tại Mỹ
và trên thế giới trong quá khứ. Phần chính là do sức hút của từ trường
và những tổn hại từ trường gây nên trên những linh kiện y sinh được
cấy ghép trong cơ thể con người. Thí dụ của một số
tai nạn như sau:
1. Vào
tháng 10, 2021, một bệnh nhân 60 tuổi ở Đại Hàn chết v́ bị môt b́nh
ôxy nặng khoảng 60 kg đập vào đầu. B́nh ôxy bị hút
vào máy MRI bởi từ trường mạnh của máy chụp hính MRI [1].
2. Một
trường hợp tương tự xảy ra vào năm 2018, khi môt thanh niên khoảng 32
tuổi chết sau khi bị hút vào trong máy chụp MRI khi người này mang một
b́nh ôxy vào pḥng MRI ở một bênh viện tại Mumbai (Ấn Độ).
3. Năm
2001, một em bé 6 tuổi chết trong một tai
nạn MRI tại Westchester County Medical Center ở Valhalla, NY. Trong
lúc chụp h́nh MRI, một b́nh khí ôxy bị hút
vào ṇng của bánh rán. Chiếc b́nh này đập vào đầu của cậu bé khi cậu
này c̣n đang nằm trên bàn bệnh nhân của máy chụp cộng hưởng từ MRI
[2].
4. Vào ngày
25 tháng 10, 2019: một cán bộ y tế x-quang ở bệnh viện Sunderby, Thụy
Điển bị thương v́ đă bị hút bởi từ trường của thỏi nam châm. Điều tra
sau đó cho biết khi tai nạn xảy ra, người y
tá này mang một cái áo vét có chứa chất kim loại ferit (ferris metal).
C̣n bệnh nhân đang nằm trong bánh rán của máy MRI lúc đó may mắn không
bị thương [3].
5. Tháng
10, 2019: một nhân viên và hai người nhân viên bảo vệ bị thương trong
một tai nạn gây ra tại một máy MRI di động
đặt ở ngoài Bệnh viện Sunderby, Thụy Điển. Một nhân viên y tá bị hút
dính vào phía bên ngoài bánh rán. Bệnh nhân lúc đó c̣n đang nằm trên
bàn di động; khi nghe tiếng động bèn leo ra
và cùng với một người nhân viên bảo vệ kéo người y tá ra khỏi sức hút
của thỏi nam châm.
Người y tá lúc đó bất tỉnh, nhưng trở
lại b́nh thường một khoảng thời gian sau đó.
6. Tháng
11, 2019: một tai nạn xảy ra tại Halland
Hospital, Varberg, Thụy Điển. Trong khi đưa bệnh nhân vào pḥng MRI,
chân của một nhân viên phụ trách bị hút vào máy quét v́
người này có mang một cái băng mắt cá chân
bằng kim loại với những ḥn bi làm bằng thép [4] .
Đối diện với con số tai nạn xảy ra trong môi trường MRI từ khi công
nghệ này ra đời cho đến những năm vào đầu thấp niên 2000, cơ quan liên
quan HIPAA (Health Insurance Portability and Accountability Act) đă
thực hiện một cuộc điều tra dùng những phương pháp và vật liệu được
chấp thuận bởi Hội đồng xét duyệt IRB (Institutional Review Board).
Thời gian điều tra kéo dài hơn 6 năm, bắt đầu từ tháng tư 2006 và chấm
dứt vào tháng 9 năm 2012. Những bản báo cáo tai nạn được phân loại
dựa theo một số tiêu chuẩn như: thể loại bệnh nhân (impatient vs.
outpatient), lư do chính gây nên tai nạn,
và độ nguy cập của bệnh nhân do tai nạn gây ra.
Kết quả
Hội đồng t́m thấy là trong 362.090 trường hợp MRI khảo sát, có 1.290
bản báo cáo về tai nạn xảy ra. Tỉ lệ
tai nạn trong môi trường MRI là 0.35%
(1290/362090) [5].
2.
Những cải tiến mới trong linh kiện y sinh dùng trong MRI
2.1
Máy trợ tim (pacemakers)
Tiêu chuẩn
truyền thống liên quan đến từ trường an
toàn là 5-6 Gauss (từ trường trái đất). Loại máy trợ
tim này phải tuân theo một cách triệt để
những tiêu chuẩn quy định:
(i) từ
trường chính 1.5T đến 3T (1.5 T thích họp hơn!) ; (ii) sẽ không có
đường dây bị đứt hay bỏ rơi không dùng; điện áp và độ trở kháng (lead
voltages và impedances) phải nằm trong giới hạn quy định; (iii) giới
hạn công suất RF, tốc độ quét/xoay chuyển (slew rate), trường gradient
theo vị trí (spatial gradient field); và (iv) sau khi chụp h́nh MRI,
phải kiểm soát lại phần mềm và những tham số liên quan của máy trợ tim.
Trước khi
xử dụng máy trợ tim trong môi trường MRI, những điều sau cần phải khảo
sát và chấp thuận: (i) bệnh nhân có mang máy trợ
tim có cần chụp MRI hay không? (ii) sẽ
dùng máy trợ tim loại nào với thành tích hoạt động ra sao? (iii)
khảo sát và duyệt lại h́nh chụp X-quang
mới nhất để xem bộ tạo xung (pulse generators) có đường dây nào bị
đứt hay không? (iv) thiết lập một danh sách
kiểm tra và (v) trong lúc chụp h́nh MRI, luôn theo dơi
điện tâm đồ
(electrocardiogram hay EKG) , đo ôxy xung (pulse oximetry) và đo huyết
áp.
Sau này, nhiều hăng, chính nhất là hăng Medtronic đă triển khai nhiều
loại máy trợ tim dùng trong những ứng dụng khác nhau trong môi trường
MRI; một số bộ phận được thay đổi để thích hợp với điều kiện đ̣i hỏi
của thể loại“MR Conditional” của
Hội Thử Nghiệm và Vật Liệu Mỹ ASTM [6].
Loại đầu tiên là Medtronic's
EnRhythm™
MRI SureScan Pacemaker System
dược FDA chấp thuận vào tháng 11 năm 2008; tiếp theo với loại thứ hai
RevoMRI™
SureScan System được chấp thuận vào tháng hai, năm 2011.
Loại Leadless LV
pacemakers như MR Conditional
WiSE-CRT
System (EBR
Systems) cũng được phát triễn và
sử dụng trong thị trường.
2.2 Các loại mỹ phẩm
(cosmetics)
Với những phát triển như
sau:
-Tât cả những vật liệu
liên quan đến việc trang điểm, đặc biệt là thuốc bôi mi mắt (mascara)
phải tháo gỡ trước khi chụp h́nh MRI. Những chất liệu hóa trang chứa
ôxít sắt (iron oxide) có thể tạo nên
quầng giả tạo cục bộ (local artifact) và
có thể làm cho mắt bị ngứa trong lúc chụp h́nh MR. Gần đây vật liệu trang
điểm dùng chất từ nhân tạo ngơ hầu có thể giải quyết được t́nh trạng
này.
- Đường kẻ
viền mắt dùng dài hạn (permanent eye-liner) và h́nh xâm ḿnh quanh hốc
mắt (periorbital tattoos) có thể gây sự đau nhức nhiều giờ sau khi
chụp MRI.
- Thay v́
dùng keo dán, người xử dụng có thể vẽ mắt màu đen có chứa hạt từ cực
nhỏ (ultrafine magnetic particles). Đồ vẽ lông mi cũng có thể chứa
những dải băng từ mỏng dùng làm nền (base) để dán lông mi vào mi mắt.
Cả hai đường vẽ lông mi và đồ trang điểm mắt cần
phải tháo gỡ trước khi chụp h́nh MRI.
2.3
Thấu kính nhân tạo (artificial lenses)
Những thấu kính trong mắt (intraocular
lens) không gây nguy hại v́ hầu hết đều làm bằng chất dẻo (plastic)
hay chất hữu cơ silic. Tuy
nhiên có vài mô h́nh, ṿng kim loại (metallic loops)
được làm bằng bạch kim (platinum), iriđi (iridium) hay titan
(titanium) kẹp chặt vào thấu kính và khâu lại với nhau. Kết quả đạt
được cho thấy không có ảnh hưởng khả quan liên quan đến nhiệt nung
nóng hay có một sự chuyển dịch nào xảy ra ở từ trường dưới 7 Tesla.
2.4
Cấy ghép thính giác (auditory implants)
Hầu hết
những cấy ghép ốc tai (cochlear implants)
trong ṿng 10-15 năm nay thuộc loại “MR Conditional” của ASTM nên
tương đối an toàn. Tuy nhiên, bệnh nhân và nhân viên điều hành MRI
phải triệt để tuân theo những điều kiện đ̣i
hỏi. Phần lớn mối quan tâm về an toàn liên
quan đến thỏi nam châm vĩnh cửu (permanent magnet) trong bộ phận tiếp
nhận dưới da (subcutaneous receiver), sự khử từ (demagnetization), và
quầng giả tạo do độ nhạy cảm (susceptibility).
2.5
Răng và cấy ghép hàm mặt (dental and maxillofacial implants)
Hầu hết cấy
ghép về răng đều an toàn và thuộc thể loại “MR safe” hay “MR
conditional”; v́ thế không cần tháo gỡ bộ răng giả không có từ tính.
Tuy nhiên, những linh kiện có nam châm vĩnh cửu
phải tháo gỡ trước khi chụp h́nh MRI.
Một số linh
kiện chỉnh liên quan đến răng có chứa kim
loại như dây niềng răng (brace archwires), bộ phận mở rộng ṿm miệng
(palate expanders), và dụng cụ niềng răng để điều chỉnh hàm răng thuộc
loại “Class II”. Những linh kiện này sẽ gây ra sự
nung nóng RF, mặc dù ở nhiệt độ c̣n khá thấp, dưới 8ºC−10ºC.
Răng giả thông
thường (conventional dentures). Thường
được chế tạo với nhựa hỗn hợp (composite resin),
acrylic, hay sứ (porcelain) và không chứa kim
loại. An toàn và không cần phải tháo gỡ
trước khi chụp MRI.
Trám (fillings).
Những vật liệu dùng trong việc trám răng kể cả những hỗn hợp với thành
phần chủ yếu là thủy ngân, bạc, cộng thêm thiếc và đồng; những chất
liệu khác như vàng, sứ, nhựa hỗn hợp và glass ionomer. V́ những chất
này hoặc nghịch từ hoặc thuận từ nhưng rất yếu, nên
an toàn trong môi trường MRI.
Bịt răng và thay
răng giả (crowns and bridges).
Hầu hết vật liệu dùng trong việc bịt răng hay thay răng giả đều làm
bằng nhựa (resin), gốm (ceramic), sứ (porcelain) và những chất không
có từ tính. Một số không nhiều dùng kim
loại hay linh kiện với chất sứ trên kim loại; nhưng những kim loại
dùng ở đây thường gồm có vàng, palađi (palladium) và crôm, Thành ra
những chất liệu dùng trong ứng dụng này đều an toàn. Tuy nhiên một số
rất ít chất liệu dùng trong việc bịt răng và cấy ghép hàm mặt có chứa
nam châm vĩnh cửu và có thể gây nên vấn đề trong môi trường MRI.
3.
Kết từ
Sự hiện
diện của một số kim loại có thể gây ra một số vấn đề trầm trọng trong
lúc chụp h́nh MRI: (i) ảnh hưởng của từ trường máy trên kim loại; (ii)
đường dây dài (như trong trường hợp của máy trợ tim) có thể tạo nên
ḍng điện cảm ứng (induced current) và nhiệt từ từ trường RF và (iii)
kim loại làm từ trường tĩnh Bo không đồng nhất, gây nên những biến
dạng trầm trọng trong h́nh MRI, đưa đến sự khó khăn trong việc chẩn
đoán.
Vấn đề thứ
nhất và vấn đề thứ
hai có
thể gây nguy hiểm, và là nguyên nhân chính mọi người phải thận trọng
và kiểm soát một cách nghiêm túc mọi thủ tục liên quan trước khi dùng
máy chụp h́nh MRI. Vấn đề thứ ba không nguy hiểm,
nhưng có thể ảnh hưởng đến chất lượng h́nh MRI và gây nên sự sai lệch
trong việc chẩn đoán.
4.
Tài liệu tham khảo
[1]
https://www.independent.co.uk/asia/east-asia/south-korean-dies-mri-machine-b1941040.html
[2]
https://www.webmd.com/a-to-z-guides/news/20010801/fatal-mri-accident-is-first-of-its-kind
[3]
https://www.itnonline.com/article/nurse-injured-mri-accident-swedish-hospital
[4]
https://interventionalnews.com/mri-accidents/
[5]
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26483127/
[6] http://www.erct.com/2-ThoVan/TTriNang/Technology%20in%20Medicine-%20Part%2023-07132022.htm
August
4, 2022
|