|
Máy chụp cộng hưởng
từ MRI hiện tại rất phổ biến trong rất nhiều bệnh viện trên thế giới.
Mặc dù vậy, độ an toàn của từ trường máy
vẫn c̣n là mối quan tâm trong cộng đồng y khoa và công nghệ điện tử.
Nhiều tiến bộ khả quan đă đạt được trong ṿng 20 năm gần đây, và có
thể nói là MRI rất an toàn trong nhiều ứng
dụng.
Trong bài viết này, người viết xin tŕnh
bày một cách tổng quát vài vấn đề liên quan đến độ
an toàn của những linh kiện y sinh được cấy ghép trong cơ thể
con người khi bệnh nhân đi chụp h́nh MRI.
1. Tiêu chuẩn
an toàn của những linh kiện y sinh được cấy ghép trong cơ thể
Liên quan đến độ an toàn và những linh
kiện y sinh được cấy ghép (biomedical implants and devices) dùng trong
môi trường MRI từ năm 2005 Hội Thử
Nghiệm và Vật Liệu của Mỹ (the American Society for Testing and
Materials –ASTM) - Standard F2503-20 đă xếp loại độ an toàn thành ba
nhóm: MR Safe, MR Unsafe và MR Conditional (H́nh 1). Hăng chế tạo
thường cung cấp thông tin đáng tin cậy nhất cho mỗi loại máy MRI và
linh kiện y sinh trong trang web của họ. Những thông tin liên quan
khác cũng có thể t́m được ở những trang web như MRISafety.com hay
MagResource.com

H́nh 1.
Hội Thử Nghiệm và Vật Liệu của Mỹ (the American Society for Testing
and Materials –ASTM) - Standard F2503-20 đă
chia độ an toàn thành ba nhóm: MR Safe, MR Conditional và MR Unsafe.
Cụm từ “MR Safe” hay “MR
Unsafe” tự nó đă giải thích rơ rệt, nhưng từ “MR Conditional” bao gồm
một phạm vi rộng lớn các loại linh kiện cấy ghép và độ an toàn -tùy
thuộc vào một số điều kiện giới hạn. Những điều kiện tiêu biểu thường
là độ giới hạn về sức mạnh từ trường, trường phân phối theo vị trí
gra-điên (field spatial gradient ), độ gra-điên (gradient strength),
độ biến đổi gra-điên (gradient slew rate), và độ hấp thu đặc thù
(specific absorption rate).
Hội Tiêu Chuẩn Quốc Tế
(International Standard Organization hay thường được gọi tắt là ISO)
đă quy định một số điều kiện an toàn để các hăng xưởng tuân theo khi
thiết kế và chế tạo những linh kiện y sinh.
Một thí dụ về thể
loại “MR Conditional” là Medtronic DBS System.
Hệ thống này có thể dùng để quét (scan) bộ phận đầu; nhưng nếu quét
toàn cơ thể th́ phải hội đủ những điều kiện (do hăng Medtronic cung
cấp) về từ trường, vị trí gra-điên, năng xuất RF
và những đ̣i hỏi khác. Người đọc có thể tham khảo những trang
web như MRISafety.com hay MagResource.com
để t́m hiểu thêm chi tiết hơn [1-3].
2. Các chất kim
loại “nguy hiểm” trong môi trường MRI
Chất kim loại
được xếp vào loại “nguy hiểm” dựa trên quan điểm là những linh kiện có
chứa chất sắt từ (ferromagnetic) và có thể bị bắn tung ra dưới sức hút
của từ trường. Những linh kiện có chất sắt từ này sẽ từ
hóa dưới ảnh hưởng của từ trường của
thỏi nam châm chính và những từ trường khác; và v́ thế có thể gây
nguy hiểm trầm trọng cho bệnh nhân và nhân viên pḥng chụp MRI.
Một điểm đáng lưu ư
nữa là từ trường trong máy chụp MRI củng có thể làm suy giảm độ chính
xác của những chức năng điện tử trong linh kiện y sinh, gây nên nhiều
vấn đề trong việc kiểm soát và điều chỉnh những van mạch trong cơ thể
con người.
Chất sắt từ là những chất rắn cơ bản
(elemental solids) hay hỗn hợp tạo đomen từ (magnetic domains)
và gồm c̣ những spin của hạt electrons
khóa chặt vào nhau lúc sắp hàng cạnh bên nhau. Sắt
và hợp chất sắt thường là chất sắt từ. Không những chỉ có sắt
mà những kim loại khác cũng có thể có tính
sắt từ : chẳng hạn như coban (cobalt), kền (nickel), crôm (chromium),
mangan (manganese) và nhiều loại nguyên tố đất hiếm (rare earth
elements).
Hầu hết những chất
sắt từ mà môi trường MR gặp phải đều làm bằng thép (steel).
Thép là một hợp chất sắt có chứa một lượng nhỏ carbon để gia
tăng sức mạnh và độ chống nứt (fracture
resistance). Những chất khác như kền, mangan, crôm, môlipđen
(molybdenum) và vanađi (vanadium) cũng được thêm vào sắt để cải
thiện độ cứng (hardness) và độ bền
(durability). Độ sắt từ biến đổi theo hàm
lượng những chất thêm vào trong hợp chất và cấu trúc tinh thể.
Thép không gỉ hay inôc (stainless steel) chứa ít
nhất 10-15% crôm.
Nam châm vĩnh cửu (permanent magnets)
thường t́m thấy trong một số linh kiện
được cấy vào, kế cả bộ răng giả, lắp bộ phận giả ở hàm-mặt
(maxillofacial prostheses), máy nghe, bộ nới rộng/ giăn nở mô (tissue
expanders), cơ ṿng/cơ thắt nhân tạo (artificial sphincters), và que
chỉnh h́nh (orthopedic rods). Một số linh kiện về răng và mặt (dental
and facial devices) dùng hợp chất Alnico (Al-Ni-Co) [4].
3.
Các chất kim
loại “an toàn” trong môi trường MRI
Hầu hết những kim loại hay hợp chất
dùng trong những linh kiện cấy ghép hiện đại hoặc là nghịch từ (Cu,
Ag, Au) hay thuận từ (Al, Ti, Niticol, Elgiloy, 300 series stainless
steel). Những chất này có độ nhạy cảm (susceptibilities) vào cấp 10-4
(100 parts per million hay 100 ppm) hay nhỏ hơn. Gọi “an toàn” ở
đây có nghĩa là những kim loại này không di
động hay bị thu hút một cách đáng kề bởi tử trường chính của máy.
Những chất này nghịch từ hay thuận từ
yếu được xem như sẽ không gây nên nguy
hiểm cho bệnh nhân và nhân viên phụ trách trong môi trường MRI.
Danh sách dưới đây liệt kê độ nhạy cảm
của một số chất tiêu biểu hiện đang sử dụng
trong
những linh kiện y sinh (Bảng 1)

Bảng 1.
Độ nhạy cảm χ của nhiều vật liệu. Dấu (-)
ám chỉ những chất liệu có tính nghịch từ (diamagnetic)
; và dấu (+) dành cho những chất có tính thuận từ
(paramagnetic). Trong bảng này, độ nhạy cảm χ được biểu hiện bắng một
phần triệu (ppm hay parts per million). [5].
Chất nghịch từ, cũng
như một số chất thuận từ có độ nhạy cảm thấp ấp thường không gây nên
những quầng giả tạo. Trong
bảng 1, loại thép không gỉ (stainless
steel) có độ nhạy cảm tương đối lớn χ =5100 ppm (hay 5.1 x 10-3
). Độ nhạy cảm này dù sao vẫn c̣n quá nhỏ so
với 1, những chất này sẽ không gây nên nguy hiểm nào đáng kể trong môi
trường chụp h́nh cộng hưởng từ MRI. Để so
sánh, chất sắt từ có độ nhạy cảm hàng trăm ngàn, v́ thế có khả năng
tạo quầng giả tạo và gây nên sự nguy hiểm.
4. Kết từ
Nhiều tiến bộ trong lănh vực
linh kiện y sinh dùng trong môi trường MRI như máy tạo nhịp tim
(pacemakers), ống kính nhân tạo (artificial lenses), và linh kiện cấy
thính giác (auditory implants) đă được thực hiện trong ṿng 20 năm nay
dựa theo tiêu chuẩn của Hội ASTM. Một thí dụ điển h́nh là việc khai
phát máy tạo nhịp tim: nhiều hăng, chính nhất là hăng Medtronic đă
phát triển nhiều loại máy tạo nhịp tim dùng trong những ứng dụng khác
nhau trong môi trường MRI; một số bộ phận được thay đổi để thích hợp
với điều kiện đ̣i hỏi của thể loại“MR Conditional”. Loại đầu tiên là Medtronic's
EnRhythm™
MRI SureScan Pacemaker System
dược FDA chấp thuận vào tháng 11 năm 2008; tiếp theo với loại thứ hai
RevoMRI™
SureScan System được chấp thuận vào tháng hai, năm 2011.
Loại Leadless LV
pacemakers như MR Conditional
WiSE-CRT System (EBR
Systems) cũng được phát triễn và
sử dụng trong thị trường.
Trong bài viết tới, người
viết sẽ tŕnh bày chi tiết hơn về những phát triển liên quan đến sự
an toàn của linh kiện y sinh dùng trong cơ
thể con người nhằm thích ứng với môi trường MRI.
5. Tài liệu tham khảo
[1]
Al-Dayeh L, Rahman M,
Venook R. Practical
aspects of MR imaging safety test methods for MR conditional active
implantable medical devices.
Magn Reson Imaging Clinic N Am 2020: 28:559-571
[2]
www.astm.org
[3] US Food
and Drug Administration.
Testing and
labeling medical devices for safety in the magnetic resonance (MR)
environment. Draft Guidance for Industry and Food and Drug
Administration Staff. Final version
20 May
2021.
[4] Schenck JF. Safety
of strong, static magnetic fields.
J Magn Reson Imaging 2000; 12:2-19
[5]
"Magnetic
Susceptibility." Wikipedia, The
Free Encyclopedia.
July 14, 2022
|