|

A series of articles on
“Microelectronics and Silicon Valley” - Part 1
Phía sau sự phát minh transistor ở
Bell Labs
Trần Trí Năng
(University of Minnesota & Ecosolar International)
Vào ngày 30 tháng 6 năm 1948, Bell Labs tuyên
bố sự thành công về linh kiện bán dẫn transistor.
Đây được xem như một trong hai phát minh về công nghệ quan trọng nhất
của thế kỷ hai mươi. Ngày nay hầu như tất cả những dụng cụ dùng
trong đời sống hàng ngày từ y khoa đến quốc pḥng đều tùy thuộc vào
công nghệ vi mạch, nơi mà transistor đóng
vai tṛ then chốt. Ngoài ra, transistor và mô h́nh quản lư tại Bell
Labs là “cái mầm” đă “thắp sáng” và biến Silicon Valley thành trung
tâm điện tử thế giới. Có một lần Bill Gates đă nói rằng “ nếu ông có
cơ hội đi trở ngược thời gian với “chiếc máy thời gian”, trạm đầu tiên
ông muốn ghé là Bell Labs”. Về Silicon Valley, trong bài nói chuyện
vào năm 2005, Steve Jobs của hăng Apple Inc. ví hoạt động ở Silicon
Valley như một cuộc chạy “relay race”. Trong cuộc chạy “relay” này,
Bill Hewlett- Dave Packard (HP) và GS Federick Terman (Stanford) đă
trao “baton” cho William Shockley (Shockley Semiconductor) và “the
Traitorous Eight” (Fairchild Semiconductor); “nhóm “Traitorous Eight”
sau này tạo ra nhiều hăng về vi mạch trong số đó có Intel, AMD và
National Semiconductor. Rồi những người này trao “baton” cho thế hệ
sau như Bill Gates (Microsoft), Steve Jobs (Apple), Larry Page/ Sergey
Brin (Google) and Jerry Yang/ David Filo (Yahoo) trong việc phát triển
PC và Internet và cuộc chạy relay race này sẽ tiếp tục qua nhiều thế
hệ.
Bắt đầu từ số này, chúng tôi sẽ chia xẻ với
bạn đọc một loạt bài liên quan đến Bell Labs, công nghệ
vi mạch và Silicon Valley.
Từ khóa: point –contact transistor, junction
transistor, vacuum tube, semiconductor amplifier, silicon, germanium,
bipolar transistor, zone refining, diffused silicon, Silicon Valley.
Lời tựa
Hồi học ở Nhật, một trong
những ước mơ của tôi là một ngày nào đó được thăm viếng Bell Labs.
Trong thời gian nghiên cứu ở Osaka Prefecture University, tôi cũng có
một số bài báo cáo được đăng trong những tạp chí hàng đầu trong ngành
như Physical Review, Applied Physics Letters. Một
hôm, tôi ngạc nhiên khi nhận được tấm card “request for published
articles” từ ông Sigurd Wagner ở Bell Labs. Ông này cũng nghiên
cứu trong lănh vực amorphous materials dùng trong pin mặt trời và
phase change như tôi. Rồi cuối năm 1978, tôi nghĩ đến chuyện
qua Mỹ để thực hiện giấc mơ của ḿnh
…Giả từ O-sa-ka những tháng năm đầy vơi
Đến xứ Mỹ thử một lần chọn lựa
Sóng gió bến xa đi thêm lần nữa
Đùa cợt với đời. Ta quyết định dấn thân …
(TBA)
Tôi bắt đầu “rải” nhiều thư
xin làm postdoc ở một số cơ quan ở Mỹ và Gia- nă- đại.
Tôi cũng có viết thơ cho Bell Labs ở Holmdel.
Chỗ nào tôi biết là tôi gửi không cần biết là họ có “opening” hay
không ! “một
liều ba bảy cũng liều” mà!
“…Khi quyết định ra đi t́m cuộc sống
Quản ngại ǵ những bước chân hoang …”
(TBA)
May mắn tôi nhận được “offer” làm postdoc từ
Harvard (Mỹ) , McGill (Gia-nă –Đại) và vài
đại học khác nữa. Riêng về Bell Labs th́ ông Wagner cho biết là ông sẽ
đổi sang làm ở Solar Energy Research Institute (SERI) thuộc Department
of Energy của Mỹ ở Boulder, Colorado; nên ông không thể giúp ǵ được
tôi lúc này cả. Khi đến Mỹ, tôi liên lạc với ông
như ông đă đề nghị, ông hỏi tôi có muốn về làm việc ở SERI không?
Lúc đó tôi không biết nhiều về SERI, nên tôi cũng không quan tâm cho
lắm; vă lại (sau này tôi mới biết) là ngay cả nếu tôi có muốn làm ở
SERI cũng không được v́ SERI là cơ quan của chính phủ và họ cần “thẻ
xanh/green card”. Câu chuyện với ông Wagner và
Bell Labs cũng tạm chấm dứt từ đó. Cuộc sống nghề nghiệp của
tôi cũng “thăng trầm” theo ngày tháng, từ post-doc tôi chuyển sang làm
cho Sharp-Rockwell, rồi ARCO Solar (“a big name” trong lănh vực pin
mặt trời vào thời điểm đó), rồi sang làm 3M trong công tŕnh nghiên
cứu về amorphous silicon thin film solar cells liên quan đến SERI.
Bẵng đi một thời gian, vào năm 1987, tôi và nhà tôi đi dự
“International Workshops in Solid State Materials & Devices” ở Turin,
Italy. Tôi gặp lại ông Sigurd Wagner, lúc này dạy
ở Princeton University. Mặc dù là lần đầu
tiên gặp gỡ, nhưng chúng tôi nói chuyện như quen biết tự thuở nào; dĩ
nhiên đề tài chính vẫn là amorphous silicon solar cells. Tôi
cũng hỏi ông lư do ông rời Bell Labs; ông cho biết là điều kiện và môi
trường nghiên cứu ở Bell Labs thay đổi nhiều lắm v́ lư do chính trị ở
công ty (corporate politics) và đường hướng nghiên cứu. “Bell Labs
không c̣n nghiên cứu về basic research nữa… May là anh không đến làm ở
Bell Labs; chớ nếu anh đến th́ bây giờ chắc cũng phải t́m “jobs” ở nơi
khác rồi!…”
Sau này, tôi có đi công tác
và có thăm viếng Bell Labs. Ước mơ thăm viếng Bell Labs dù sao
cũng đă trở thành hiện thực…Đúng ra tôi có “duyên” mà không “nghiệp”
với Bell Labs!
1. Vài nét về Bell Labs
Bell Telephone Laboratories hay thường được biết
với cái tên Bell Labs được thành lập vào
năm 1925 và là một nhánh nghiên cứu của hăng American Telephone &
Telegraph (AT & T). và Western Electric. Từ
lúc mới thành lập cho đến đầu thập niên 80’s, Bell Labs được xem như
“thánh địa (mecca)” của thế giới về những nghiên cứu về khoa học và kỹ
thuật. “Digital age” của chúng ta ngày hôm nay tùy thuộc rất nhiều vào
những phát minh của Bell Labs: transistor (1947), information theory
(1948) laser (1958), UNIX operating system (1969) và cell phone
technology (1978). Nhiều phát minh khác cũng từ Bell Labs: glass
fibers, facsimile (fax) machine, long-distance television
transmission, stereo radio broadcasts, dây cáp đồng, vệ tinh, mạng
truyền dẫn bằng số (digital communications), pin mặt trời, C language,
calculator model K adder và charge coupled devices (CCD).
Bảy giải Nobel và 12 Nobel laureates dựa vào công
tŕnh nghiên cứu ở Bell Labs [Bảng 1]. GS Steven Chu (Stanford
University), cựu bộ trưởng năng lượng ở nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng
Thống Obama cũng là một trong những Nobel
laureates này. Ông này lúc trước làm việc ở
Bell Labs ở Holmdel.
Bell Labs ở Murray Hill nổi tiếng nhất, tiếp
theo thứ tự là Holmdel, Whippany và
Piscataway. Bell Labs cũng có chi nhánh ở nhiều tiểu bang, đặc biệt là
Illinois, Colorado và Massachusetts. “Intellectual freedom” và phương
cách quản lư của Bell Labs cũng được xem như là mô h́nh trong sự phát
triển của của Silicon Valley sau này: Nhiều doanh nghiệp được tài trợ
và xây dựng business dựa vào những phát minh của Bell Labs.
Năm 1996, AT&T - hăng mẹ của Bell Labs- đổi tên
thành Lucent Technologies; rồi trở thành nhỏ hơn với sự xuống dốc của
công nghệ viễn thông vào đầu thế kỷ 21st. Sau đó, Lucent
sáp nhập với hăng Acatel của Pháp vào năm 2006 trở thành
Alcatel-Lucent. Bell Labs vẫn c̣n hoạt động nhưng
với tấm cỡ nhỏ hơn lúc trước nhiều và một số chi nhánh bị đóng cửa.
Gần đây, Bell Labs, Holmdel (472 acres) được thay đổi lại với hotels,
shopping centers, trung tâm health & fitness, giáo dục và nơi hội họp
của cộng đồng và chính thức hoạt động vào đầu năm 2014. “Than ôi thời
oanh liệt “ của Bell Labs nay c̣n đâu?!
Hướng đi xuống dốc hay đúng hơn là sự sụp đổ của
Bell Labs tùy thuộc vào nhiều lư do, nhưng theo thiển nghĩ của chúng
tôi, lư do chính nhất là chính sách can thiệp của chính phủ Mỹ và lối
quản lư “ngắn hạn” ham lợi nhuận “chỉ thấy cây mà không thấy rừng” của
những nhà lănh đạo kỹ nghệ.

Bảng 1.
Một số phát minh chính của Bell Labs [Tài liệu từ Hochheiser, IEEE]

H́nh 1.
Bell Labs ở Holmdel (trái) và Murray Hill (phải) [Tài liệu từ AT&T]
2. Nghiên cứu liên quan đến silicon trước
thế giới đại chiến thứ hai
Bell Labs nghiên cứu oxít ch́
và silicon “cat whisker” dùng để biến đổi tầng số cao xuống tầng số
thấp để có thể nghe được với máy nghe. Bell
Labs cũng nghiên cứu về máy chỉnh lưu oxít đồng (copper oxide
rectifier) dùng trong hệ thống điện thoại. Nhiều người nghiên
cứu về silicon đặc biệt là Jack Scaff, Henry Theurer và Russel Ohl cho
những ứng dụng quân sự như ra-đa và truyền vô tuyến vào cuối thập niện
30’s và trong đại chiến thứ hai. Bột silic
(silicon powder) mua lúc đầu từ Âu Châu và sau này mua từ hăng Dupont.
Bột được nung nóng đến nhiệt độ rất cao trong ống
thạch anh. Khi nhiệt độ trong ống thạch anh
hạ xuống thấp, nhiều thỏi nhỏ với vết nứt được tạo thành. Khi
kiểm tra các đặc tính điện, môt số thỏi có ḍng điện chỉnh lưu môt
hướng trong khi đó một số thỏi khác có ḍng điện chỉnh lưu
theo hướng ngược lại.
Thêm vào đó, Russel Ohl c̣n t́m thấy hai đặc tính chỉnh lưu trên ở một
cùng một thỏi. Ohl cũng nhận thấy là khi những thỏi này được
đặt dưới ánh sáng, điện áp được tạo ra. Sau này Ohl và Scaff gọi một
loại silic có ḍng điện chỉnh lưu theo
hướng âm n-type và p-type cho những thỏi với ḍng điện chỉnh lưu dương.
Hai người này cũng xác định rằng n-type và p-type
được thành h́nh với một số tạp chất khác nhau. Mặc dù không thể
khẳng định bằng phương pháp đo đạt, bằng cách ngửi mùi phosphor, Ohl
và Scaff cho biết rằng n-type silicon tạo được với một số lượng nhỏ
phosphorơ (phosphorous) để cung cấp hạt electrons; trong khi đó p-type
silicon có thể đạt được với nhôm hay Bo (boron) để cho ra holes.
Trong chiến tranh, Ohl, Scaff và nhiều nhà kim
thuộc ( metallurgists) khác dồn mọi năng
lực vào việc nghiên cứu tinh thể silic cho các hoạt động chiến tranh
như ra-đa ở trên không (airborne radar) bằng cách điều chỉnh những tín
hiệu nhận được với đi-ốt. Sau này, bộ silic với độ
tinh khiết cao có thể mua từ Dupont. Tạp chất có thể thêm vào
silic nấu chảy một cách chính xác trước
khi hạ nhiệt độ xuống thấp. Khám phá này trở nên
rất quan trọng trong những khám phá khác như transistor sau này.
2. Vấn đề với đèn chân không
Đèn chân không (vacuum tubes) có thể dùng theo
dạng hai cực (diode) hay ba cực ( triode).
Đèn chân không ba cực có hiệu ứng khuếch đại
(amplification) nên được dùng để khuyếch đại tín hiệu trong hệ thống
điện thoại [H́nh 2]. Thành phần chính của những loại đèn này là
dây tóc nung nóng (heated filament). Những dây tóc này vận hành dưa
theo nguyên lư nhiệt phát xạ (thermionic
emission) đ̣i hỏi nhiều năng lượng; những dây tóc này v́ thế dễ cháy.
Thêm vào đó với giá thành cao, tính dễ bể và độ
kềnh càng của bóng đèn khiến một số nhà lănh đạo ở Bell Labs muốn thay
thế đèn chân không bằng bộ khuếch đại điện tử (electronic amplifier).

H́nh 2: Cấu tạo của đen
chân không ba cực
3. Nghiên cứu liên quan đến transistor sau
chiến tranh
Mặt phân giới giữa một chất dẫn và kim loại hay
giữa hai chất bán dẫn hướng ḍng điện chạy theo một chiếu tương tự như
bộ chỉnh lưu oxít đồng nói trên.. Như biểu
hiện ở H́nh 2, bằng cách thêm vào một mạng lưới điện cực
( grid) vào đèn hai cực, hiện tượng khuếch
đại có thể đạt được. Thế nên, nếu thêm một cái ǵ
tương tự như lưới điện cực vào linh kiện bán dẫn đi-ốt, một bộ khuếch
đại làm bằng chất bán dẫn (semiconductor amplifier) có thể hoàn thành.
Marvin Kelly rất hiểu rơ về điểm này khi ông làm chủ nhiệm Ban nghiên
cứu và khai phát đèn chân không từ 1928-1936, nên ông giao Schockley
phụ trách nghiên cứu về đề tài này vào thập niên 30’s.
Và Schockley và Brattain dùng o-xít đồng để làm bộ
khuyếch đại nhằm thay thế đèn chân không; nhưng kết quả không mấy khả
quan.
Sau đại chiến thứ hai, nhóm vật lư chất rắn được
thành lập ở Bell Labs -Murray Hill (Building 1) vào tháng 7 năm 1945
và Shockley được chỉ định làm co-supervisor của nhóm. Nhóm có tên là
nhóm nghiên cứu chất rắn (solid state group) gồm nhiều thành viên với
những chuyên môn khác nhau: vật lư, hóa học, kim
thuộc và điện. Ban lănh đạo của Bell Labs và nhóm vật lư chất rắn
quyết định nghiên cứu cơ bản về linh kiện bán dẫn này với silicon. Lúc
đó Schockley là một trong những lư thuyết gia về chất rắn hàng đầu ở
Mỹ. Nhưng ban lănh đạo của Bell Labs như Frank Jewett và Merlin Kelly
(advisor của hai người này là GS Robert Millikan- Nobel laureate,
University of Chicago) thấy cần thêm một lư thuyết gia cỡ Shockley nữa.
V́ thế, Fisk và Shockley thuyết phục Merlin Kelly
mướn John Bardeen khi ông này vừa xong công tác với Naval Ordnace
Laboratory ở Maryland; nơi mà ông nghiên cứu về ḿn và tiềm thủy đỉnh
trong thời gian chiến tranh. Lănh vực về
vật lư chất rắn tương đối c̣n mới và nhỏ nên những người trong ngành
thường biết nhau. Shockley gặp Bardeen giữa thập niên 30’s; lúc
đó Bardeen làm postdoc ở Harvard, c̣n Schockley c̣n là graduate
student ở MIT. Thời gian này Bardeen cũng gặp và
quen với Fish (Bell Labs) cũng đang làm postdoc ở Harvard.
C̣n Bardeen biết Walter Brattain qua em của
Brattain, trong thời gian Bardeen và ông em này cùng làm PhD ở
Princeton University.
Cá tính Shockley, Bardeen và Brattain rất khác
nhau: Shockley rất công kích (aggressive) và bản ngă rất lớn; Brattain
th́ có vẻ khiêm tốn, hơi bi quan, nói nhiều nhưng dễ gần
gũi. Trong khi đó
Bardeen th́ hoàn toàn khác hẳn. Bardeen th́
khiêm nhường, rất ít nói. Khi ông nói th́
nói nhỏ nên khó nghe. Nên lúc ông phát biểu
y kiến, cả pḥng im phăng phắc. Thỉnh thoảng khoảng cách giữa
hai câu có thể kéo dài cả phút khiến người chưa quen thấy không thoải
mái (người viết có thể xác nhận điều này khi Bardeen làm cố vấn cho
hăng 3M về superconductivity !).
Bardeen thích làm việc với nhiều người nhất là
trong một nhóm đa dạng gồm có nhà lư luận và nhà thực nghiệm.
Cách giải quyết vấn đề của Shockley và Bardeen cũng khác nhau:
Shockley giải quyết vấn đề nhanh và chuyển sang vấn đề khác trong khi
đó Bardeen giải quyết vấn đề bằng cách đi từng chi tiết một; tháo gỡ
vấn đề từng lớp một và nh́n từ nhiều góc độ khác nhau giống như lột
hành, từng lớp một cho đến khi t́m được giải pháp thỏa đáng.
Giữa Bardeen và Brattain th́ khác nhau
theo chiều hướng khác: Brattain hướng ngoại,
c̣n Bardeen th́ hướng nội; Brattain rất giỏi về thực nghiệm trong khi
đó Bardeen xuất sắc về lư thuyết. Ở Murray Hill, Brattain và Bardeen
được ví như cái tay và cái đầu lúc nào cũng
bổ sung cho nhau.
Sau này một số đồng nghiệp
của ba ông ở Bell Labs cho rắng Bardeen là một thinker, Brattain một
tinker và Shockley là môt visionary.
Công tác nghiên cứu được tiến
triển và kích thích bởi sự trao đổi y kiến với nhiều người trong nhóm
dưới quyền lănh đạo của Shockley. Kelly quyết định phương châm
của nhóm lúc bấy giờ là mọi y kiến, suy nghĩ phải trao đổi nhau một
cách tự do. Nhóm gặp nhau ít nhất một lần mỗi tuần;
có khi nhóm gặp nhau mỗi ngày. Thảo luận thường kéo dài đến bàn
ăn và đôi khi mọi người kéo nhau ra quán Snuffy’s ở Diamond Road,
khoảng vài miles từ pḥng nghiên cứu; một phần là v́ ở đây có bán
bia.
4. “Surface states” và sự ra đời của
germanium transistor
Lúc đầu Shockley có giả thuyết gọi là “hiệu ứng
trường (field effect)” .
Với giả thuyết này, khi ḍng điện chạy qua bề mặt
của một tấm bán dẫn, độ dẫn điện của tấm bán dẫn sẽ tăng, đưa đến hiện
tượng khuếch đại. Nhưng thực tế, hiện tượng
“khuếch đại” này không xảy ra. Một năm trôi
qua, và mọi cố gắng thực hiện giả thuyết này đều thất bại. Vào
tháng giêng 1946, nhóm nghiên cứu chất rắn mất cả hướng đi và bắt đầu
“quờ quạng “ trong bóng tối.
Vào mùa xuân 1946, trong nổ lực cắt nghĩa sự thất
bại của hiệu ứng trường của Shockley, John Bardeen nghiên cứu vấn đề
này trong ṿng 5 tháng và sau đó bắt đầu phát biểu y kiến riêng của
ḿnh. Ông đưa ra lư thuyết liên quan đến cái mà ông gọi
“ surface states (trạng thái bề mặt)” trên
bề mặt của chất bán dẫn. Nói một cách đơn giản hơn, ông giả thuyết
rằng khi sự nạp điện (charge) xảy ra trên một lớp bán dẫn, hạt
electrons trên bề mặt của lớp này không di động tự do như lúc ở bên
trong của lớp bán dẫn. Thay v́ thế, những “hạt
electron trên bề mặt (surface electrons)” này bị bẫy trong bề mặt của
lớp bán dẫn và trở thành bất động. Kết quả là “surface states”
tạo một bức tường kết đông ( frozen
barrier) giữa điện áp bên ngoài và điện áp bên trong của chất bán dẫn.
Nhận xét sâu sắc này đă thay đổi hoàn toàn hướng
nghiên cứu của nhóm nghiên cứu chất rắn. Nếu muốn tạo một bộ
khuếch đại từ tấm silicon hay germanium và gia tăng ḍng điện, đại
khái giống như trong đèn chân không, giờ mọi người đă có một hướng đi
rơ ràng: trước tiên bức tường của surface states phải bị phá vỡ.. Mọi
cố gắng của nhóm vào thời điểm này là làm thế nào tạo một bề mặt sạch
để hạt electrons hay holes có thể di động tư do khi có ḍng điện chạy
qua. Trở về pḥng thí nghiệm của Brattain- room 1E455-, dụng cụ, máy
móc nằm khắp nơi với mùi thuốc lá, mùi cigar và mùi hàn ch́. Vào tháng
11, 1947, Brattain và Robert Gibney (chuyên môn về hóa học điện) muốn
khảo sát xem thử chất điện phân (electrolyte), nếu chuẩn bị thích hợp-
có thể giúp xuyên thủng qua bức tường “surface states” trên không?
Lần thử nghiệm này thực hiện có hiệu quả.
Và sự khám phá này bắt đầu những diễn tiến mới
trong tháng mà nhóm thường gọi “tháng kỳ diệu/magic month”. Và
Brattain có một ” cảm giác thần bí” rằng
một cái ǵ lớn sắp được khám phá. Một tuần sau sự thành công của thí
nghiệm với chất điện phân, một buổi sáng Bardeen đi vào Brattain’s lab
và đề nghị một mô h́nh để chế tạo bộ khuếch đại với chất bán dẫn
(solid state amplifier). Sau khi lắng nghe Bardeen
tŕnh bày, Brattain nói với Bardeen” ḿnh đi đến pḥng thí nghiệm và
thử mô h́nh này xem nó có hoạt động không?” Thí nghiệm Bardeen
đề nghị như thế này: nhỏ một giọt của chất điện phân trên bề mặt của
tấm bán dẫn rồi dùng một sợi dây kim loại
đâm thủng qua chất điện môi, tạo điểm tiếp xúc (point contact) với bề
mặt của tấm bán dẫn. Sau vài lần cho ḍng điện chạy qua hệ thống thiết
lập này, hai người quan sát một “gain” nhỏ đạt được [H́nh 3 a]. Hai
người nghĩ khám phá mới có triển vọng tốt! Đêm hôm đó (21 tháng 11,
Friday), trên đường về nhà, Brattain nói với mọi người đi
chung carpool với ông rằng ông đang tham dự
trong một thí nghiệm quan trọng nhất trong đời của ông.
Cuối tuần ấy, Brattain thay đổi ư cho rằng ông
không nên đồn đăi về thí nghiệm này. Vào ngày
thư hai, trên đường đến hăng ông bảo mọi
người hứa với ông là họ sẽ giữ bí mật những điều ông nói hôm thứ sáu.
Riêng Bardeen, ông này cũng có linh cảm là một
khám phá lớn sắp gần và ông tính toán kết quả thực nghiệm, ghi những
điều ông khám phá và suy nghĩ trong quyển số ghi chép dùng trong pḥng
thí nghiệm của ông. Sau đó, Bardeen và Brattain
cho Shockley biết về khám phá vừa rồi. Rồi
hai ông cứ tiếp tục với công tác nghiên cứu của ḿnh. Vào giữa
tháng 12, linh kiện bán dẫn của Brattain trông nhỏ và gọn gàng hơn:
một tấm bán dẫn nhỏ (khoảng ¼ tầm cỡ của một đồng penny) nằm phẳng
trên một nền kim loại. Làm
theo đề nghị của Bardeen, Brattain dùng
n-type germanium thay v́ dùng silicon. Một đường
dây được nối kết với tấm nền. Rồi ông đâm
thủng vào bề mặt của tấm germanium bằng một miếng nhỏ h́nh tam giác
bằng plastic –có h́nh giống như đầu mũi tên nhỏ. Trên thực tế
th́ miếng plastic này không tiếp xúc trực tiếp với tấm germanium v́
Brattain bao miếng plastic này với một miếng foil bắng vàng mỏng. (tạo
thành một h́nh có dạng chữ V)
Ông đă tạo ra hai đường dây dây khác nhau đâm
thủng vào bề mặt của tấm germanium. Bardeen
đề cập với Brattain rắng khoảng cách giữa điểm tiếp xúc này rất thiết
yếu và phải giữ vào khoảng vài phần ngàn của một inch.
Brattain nối đầu của mỗi điểm tiếp xúc nằm ở góc
trên của đầu mũi tên với những đường dây riêng biệt; những dây này lại
nối với bộ pin. Liên tục trong suốt hai tuần, Bardeen và
Brattain làm thí nghiệm với những thiết lập khác nhau và với những tấm
bán dẫn khác nhau (n-type và p-type germanium và silicon), với nhiều khoảng
cách khác biệt giữa hai điểm tiếp xúc, với một số chất điện phân và
những cách chuẩn bị khác nhau. Mỗi cấu trúc cho ra
một khía cạnh riêng, một hướng đi khác nhau và một độ khuếch đại khác
nhau. Rồi vào buổi sáng ngày 6 tháng 12, Brattain khám phá một
hiệu quả đáng kể. Hiệu quả này xảy ra bởi sư di động nguyên tử
(subatomic movement) của hạt electrons và holes do các tạp chất gây ra
trong chất bán dẫn và kết quả là một ḍng điện phát sinh ra xuyên qua
các điểm tiếp xúc bằng vàng. Độ khuếch đại là một dữ kiện quan trọng
chứng tỏ “ a significant power gain” đă đạt
được. Theo đề nghị của Bardeen, Brattain tạo hai đường dây tiếp xúc ở
một khoảng cách 0.004 centimeters bằng cách quấn một miếng foil bằng
vàng quanh cái đỉnh của một h́nh tam giác làm bằng polystyrene. Xong
ông dùng dao cạo cắt xuyên qua miếng foil cho đến khi mạch điện mở
ra.; sau đó ông lấp chỗ cắt với chất wax (dùng
trong việc cách điện). Bằng cách dùng một cái ḷ
xo, ông đẩy đỉnh của h́nh tam giác xuống tấm germanium. Bằng
cách lay nhẹ và hai điểm tiếp xúc được
thiết lập. Một điểm tiếp xúc là emitter và một
điểm c̣n lại là collector [H́nh 3b]. Lúc
này là vào buổi chiều thứ ba ngày 16 tháng 12 năm 1947.
Thuyết minh thí
nghiệm của Brattain và Bardeen được tổ chức vào buổi chiều một tuần
sau đó vào ngày 23 tháng 12, 1947. Hiện diện hôm ấy gồm có: Brattain,
Bardeen, Shockley, Pearson, Gibney, H.R. Mooore và Harvey Fletcher.
Mervin Kelly không được mời. Lư do là muốn
giữ tính độc lập nghiên cứu và truyền thống muốn ban lănh đạo cấp
trung hay cao hơn tham gia vào các phát triển quan trọng trong pḥng
nghiên cứu. Christmas eve 1947, Brattain vẽ
trong quyển sổ tay thí nghiệm bộ khuếch đại điện tử và kết quả những
thí nghiệm đạt được. Ông viết “ the power gain đạt được là 18 hay cao
hơn “, “nhiều người làm chứng thiết lập bộ khuếch đại và nghe tiếng
nói với cường độ âm thanh khác nhau do những power gain khác nhau”.
Quyển sổ tay thí nghiệm của Brattain được làm chứng như sau: Read &
understood by G.L. Pearson, Dec. 24,1947
and R. Moore Dec. 24, 1947.

H́nh
3. (a) Mô h́nh bipolar transistor của Bardeen and Brattain ghi
chép vào 11 tháng 12, 1947
Mô h́nh này giống như MOSFET
dùng hiện tại. Mô h́nh này được h́nh thành
bằng cách thiết lập cẩn thận một lớp oxide và một đốm bằng vàng.
Lớp oxide này bị rửa đi mất với chất điện phân
trong trương hợp tấm nền là germanium; tuy nhiên nêu tấm nến là
silicon, th́ lớp oxide sẽ không bị ảnh hưởng. (b) Bộ khuếch đại
bán dẫn (semiconductor amplifier) đầu tiên Dec. 16, 1947 (Tài liệu từ
AT&T Archives and History Center)
H́nh 4 (a) Bardeen (đứng bên trái), Schockley (ngồi
ở giữa) và Brattain (đứng bên phải) khi Bardeen và Brattain tŕnh
bày với Shockley linh kiện transistor do
hai người đă chế tạo. H́nh 4(b) Point-contact transistor đầu tiên trên
thế giới do Brattain và Bardeen chế tạo ra.

H́nh 4: (a) Bardeen và Brattain
thực hiện the first semiconductor amplifier vào ngày 16 tháng 12 năm
1947.
(b) Một khoảng cách rất nhỏ được thiết lập giữa hai gold contacts trên
một tấm bán dẫn germanium có độ thuần khiết cao.
Tín hiệu được khuếch đại 100 lần. (Tài liệu từ AT&T Archives
and History Center)
Một tháng sau phát minh point contact transistor,
Mervin Kelly được cho biết về phát minh quan trọng này. Brattain và
Bardeen cũng bắt đầu làm việc với luật sư của Bell Labs để xin bằng
sáng chế v́ hai ông này sợ những nhà nghiên cứu khác ở Mỹ hay ở các
nước khác có thể xin bằng sáng chế trước.
Linh kiện bán dẫn mới này giờ
cần một cái tên. Một bản thông cáo đươc gửi
ra cho 31 người nghiên cứu, ban lănh đạo để lấy y kiến về cái tên.
Nhiều tên được đề nghị; trong số đó có: semiconductor triode, surface
states triode, crystal triode, solid triode, iotatron và transistor.
Triode có vẻ hợp lư v́ linh kiện bán dẫn mới này có ba điểm tiếp xúc
chính: hai điểm tiếp xúc và tấm nến; tương tư như cực âm, cực dương và
mạng lưới điện cực trong đèn chân không – cũng thường được gọi là
triode [H́nh 2]. Nhưng những người trong Bell Labs thường thích đặt
tên với chữ cuối “-istor” như varistors, thermistors
dành cho những thành phần trong mạch điện
của hệ thống điện thọai của họ. Thế nên chữ transistor- tổng họp của
hai chữ “transconductance” hay “ transfer”
với “varistor” được chọn bởi đa số phiếu.. Kế quả
tên chính thức của linh kiện bán dẫn mới là transistor.
Vào đầu tháng 5, 1948, the ”transistor”
được xếp vào loại “BTL Confidential”. BTL nghĩa là
Bell Telephone Laboratories. Tên mă
(codename) của transistor là Surface States Phenomena.
Vấn đề ở đây là giữ bí mật về transistor được bao
lâu? Ban lănh đạo (Ralph Brown, Mervin Kelly) đồng ư là phải
tiết lộ bí mật của linh kiện bán dẫn này cho cơ quan quân sự trước khi
công bố cho đại chúng; nhưng đồng thời họ không muốn bị cơ quan quân
sự/ chính phủ xếp linh kiện bán dẫn này theo loại
“ bí mật quân sự”. Nhưng đồng thời họ cũng
biết là khó có thể giữ transistor này riêng cho Bell Labs một khi tiết
lộ cho đại chúng. Họ nghĩ chia xẻ kỹ thuật này với những hăng
cạnh tranh cũng có thể là hướng đi tốt; và nếu Bell Labs bắt đầu trước
vài tháng, Bell Labs có thể đi tiên phong và gặt hái được nhiều kiến
thức trong việc cải thiện tính năng của transistor từ các hăng cạnh
tranh. Những bước tiếp theo gồm có: (i) Bardeen và Brattain tiếp tục
làm việc với luật sư về việc xin bằng sáng chế về transistor; (ii)
Bardeen và Brattain gửi bài đăng trên tạp chí Physical Review và (iii)
Ban quảng cáo sẽ bắt đầu công tác họp báo và những công tác liên quan
khác.
5. Shockley và germanium junction transitor
Trở về trường họp của
Shockley, ông ta có nhiều phản ứng phức tạp về phát minh lớn này v́
hơn cả năm ông ta hầu như không tham dự vào công tác nghiên cứu của
Bardeen và Brattain. Theo Brattain th́ không lâu sau ngày biểu
diễn hoạt động của transistor cho nhiều
người của Bell Labs’; vào ngày 23 tháng 2, Shockley gọi Bardeen và
Brattain, riêng từ người một, đến văn pḥng của ông. Ông nói: “đôi khi
người góp phần vào sự thành công này không được ai nhắc tên. Tôi có
thể một ḿnh xin bằng sáng chế về “hiệu ứng trường
( field effect)” này. Lúc đó, Brattain có cảm tưởng là Shockley
tư tin là với bằng sáng chế về hiệu ứng trường, ông có thể làm
lu mờ giá trị của point contact transistor
của Brattain và Bardeen. Khổ nỗi điều này khó có thể thực hiện được v́
những lư do sau: (i) nhiều người ở Bell Labs biết hiện tượng “surface
states” của Bardeen và Bardeen và Brattain
đă làm việc chung với nhau để đưa đến point contact transistor với
hiệu ứng khuếch đại. Sổ tay pḥng thí nghiệm của họ đă xác nhận điều
này; (ii) kết quả của việc điều tra các tài liệu nghiên cứu cho biết
rắng ư tưởng về hiệu ứng trường đă đươc tiết lộ trong bằng sáng chế
của Julius Lillienfield của RCA gần hai chục năm trước (1926) mặc dù
không có bằng chứng nào cho rằng linh kiện bán dẫn trong bằng phát
minh của Lillienfield có hoạt động hay không?; hơn thế nữa không có
bằng chứng nào chứng tỏ Lillienfield có sự hiểu biết trên lư thuyết về
hoạt động của hạt electrons và holes khi ông xin bằng sáng chế này;
(iii) Bell Labs chắc không muốn “liều” để bị luật sư giám khảo (patent
examainer) của cơ quan cấp bằng sáng chế bát. (iv) Thêm vào đó, point
contact transistor của Bardeen và Brattain là dựa vào bipolar design;
holes trong trường họp này chớ không phải hiệu ứng trường đóng vai tṛ
màng lưới điện cực ( grid).
Christmas 1947 là thời gian
khó khăn nhất đối với Shockley. Ông rời New
Jersey đi dự hội nghị; ông quyết định ở lại vùng Midwest trong thời
gian giữa hai hội nghị. Đầu óc của ông bừng
cháy với nhiều ư tưởng. Suốt hai ngày liên tiếp bắt đầu từ đêm
giao thừa, một ḿnh trong khách sạn, ông viết và viết về junction
transistors; tất cả dài khoảng 19 trang của sổ tay trong thí nghiệm.
V́ không mang theo quyển sổ tay pḥng thí
nghiệm với ông, nên ông gửi những trang ông viết về S.O. Morgan,
co-supervisor của nhóm solid state để ông này làm nhân chứng.
Trong ba tuần sau đó, trong lúc mọi người bận rộn
và phấn khởi với sự thành công của transistor đầu tiên trên thế giới,
Shockley làm việc ngày đêm một ḿnh thiết lập mô h́nh với những khái
niệm về junction transistor. Linh kiện bán
dẫn này gồm có một tấm nến n-type germanium và a microscopic slice of
p-type germanium tiếp nối với nhau.
Nhưng những hành động này của Shockley không thể
chấp nhận được với tiêu chuẩn làm việc của Bell Labs nói chung và của
Mervin Kelly nói riêng, nhất là khi ông là supervisor của
nhóm . Tiêu chuẩn này có thể tóm tắt như
sau: (i) cán bộ nghiên cứu không làm việc một cách bí mật. Mọi ư tưởng
phải chia xẻ với đồng nghiệp; (ii) không được từ chối giúp đỡ đồng
nghiệp bất luận thứ bậc trong hăng của họ; và (iii) quan trọng hơn hết,
nhiệm vụ của người cán bộ cấp trên là hướng dẫn chớ không can thiệp
hay cạnh tranh với những người làm dưới quyền của ḿnh. “Đây là điều
tuyệt kỵ mà Shockley đă vi phạm; và chuyện
này không thể nào tha thứ được- This is the taboo that Schockley
transgressed, and was never forgiven” như ông Phil Anderson (một Nobel
laureate khác của Bell Labs sau này) đă nói.
Shockley giữ bí mật thiết kế
về junction transistor thêm một tháng nữa cho đến khi có một buổi họp
của nhóm vật lư chất rắn giữa tháng 2, 1948. Trong buổi họp này,
một cán bộ nghiên cứu tên John Shive đứng lên báo cáo với mọi người
trong nhóm về kết quả thí nghiệm của ông: ông tŕnh bày một transistor
hoạt động với hai điểm tiếp xúc nằm ở hai phía đối diện với tấm
germanium. Sự kiện Shive tŕnh bày chứng tỏ rằng
holes thực ra đă di chuyển xuyên qua tấm germanium (minority carrier
injection); và điểm này giống như mô h́nh về junction transistor mà
Shockley đang cố giữ bí mật. Đối diện với t́nh trạng “chẳng
đặng đừng/tiến thoái lưỡng nan” này, nhận thấy lúc đó có Bardeen và
Brattain trong số người tham dự; Shockley biết rằng nếu không phản ứng
nhanh, trong vài phút Bardeen sẽ nhận thấy hay đă biết điểm then chốt
của kết quả mà Shive tŕnh bày; và có thể Barseen sẽ đứng lên đề nghị
mô h́nh về junction transistor với minority carrier
injection . Nếu chuyện này xảy ra, th́ công
việc ông làm trong thời gian mấy tháng qua sẽ trở thành uổng công..
V́ thực sự th́ junction transistor của Schockley cũng chỉ là triển
khai từ bipolar transistor của Bardeen & Brattain [H́nh 3a]..
Bất đắc dĩ, Shockley không thể giữ bí mật được nữa nên “nhảy chỏm dậy”
và tŕnh bày nguyên lư và mô h́nh của junction transistor của ông, i.e,
cấu trúc h́nh xăng đúych n-p-n và p-n-p. “ I
felt I did not want to be left behind on this one” (tôi cảm thấy tôi
không muốn bị bỏ rơi lần này) như ông đă thú nhận sau này.
Sau buổi họp, nhiều người
trong nhóm điếng người v́ ngạc nhiên. Shockley đă phớt đi
nguyên tắc “trao đổi tự do ư tưởng” giữa những người trong nhóm.
Nhưng rồi mô h́nh mà Shockley thiết kế ra cũng chỉ
là lư thuyết v́ một cấu trúc n-p-n như thế chưa ai thực hiện được.
Và v́ thế chủ trương rằng junction transistor (trên lư thuyết) của
Shockley có nhiều lợi điểm so với point contact
transistor (đă thực hành) không mang nhiều ư nghĩa cho lắm vào thời
điểm đó.
6. Từ pḥng nghiên cứu chuyển sang chế tạo
Giờ tới giai đoạn chuyển
transistor từ pḥng thí nghiệm sang khâu chế tạo. Tài chánh và
thị trường sẽ không là vấn đề lớn đối với Bell Labs v́ AT&T có network
rộng và hầu như nắm độc quyền về hệ thống điện thoại.Vần đề chính sẽ
gặp phải là có thể hoặc transistor không hoạt động như mong muốn v́ lư
do kỹ thuật (không đáng tin cậy) hay v́ lư do trong lúc chế tạo (chẳng
hạn như tính nhất quán (consistency) và giá thành). Chế tạo vài trăm
transistors trong pḥng thí nghiệm th́ tương đối dễ; tuy nhiên khi chế
tạo hàng loạt vài trăm ngàn transistors với
độ tin cậy cao và tính đồng nhất tốt th́ lại là chuyện khác!. Kelly ra
lệnh chuyển nhiệm vụ phát triển về transistors từ
nhóm Shockley sang một nhóm khác lo công tác chế tạo.
Người được chọn để giao phó công tác này là Jack
Morton- ông này đến làm việc ở Bell Labs vào giữa thập niên ‘30s.
Quan điểm của Morton về cải tiến về sản phẩm (innovation) có thể tóm
tắt như sau: (i) nếu bạn không thể chế tạo linh kiện mới với số lượng
đáng kể, bạn chưa làm công tác cải tiến; và (ii) nếu bạn chưa t́m được
thị trường cho linh kiện mới, bạn chưa làm công tác cải tiến. Ba điểm
chính quan trọng trong việc sản xuất, theo
Morton là: tính đáng tin cậy (reliability), khả năng tái cập
(reproducibility) và khả năng thiết kế (designability).
Morton đưa ra kế hoạch liên quan đế công tác chế
tạo trong 30 ngày. Vào mùa hè 1949, với sự hợp tác với những
chuyên gia về kim thuộc, nhóm của Morton
chế tạo được 5 ngàn germanium transistors hoạt động tốt.
Phần lớn những transistors này được gửi đến các cơ
quan quân sự và một số gửi tặng các trường đại học. Bell Labs
chỉ cung cấp transistors mà không cắt
nghĩa chi tiết những linh kiện bán dẫn này được chế tạo như thế nào.
Khi Kelly viếng thăm nhiều nước ở Âu Châu, ông cũng mang theo nhiều
chiếc hộp với hai transistors mỗi hộp gọi
là quà tặng từ Bell Labs. Trước khi thiết lập dây
chuyền sản xuất ở nhà máy của Western Electric ở Pennsylvania, Kelly
đ̣i hỏi nhóm phải cải thiện tính nhất quán (consistency) của germanium
transistors. Vấn đề liên quan đến linh kiện
bán dẫn lúc này là tấm germanium được cắt từ thỏi đa kết tinh
germanium; gây ra nhiều chỗ sai hỏng tinh thể làm giảm tính năng của
transistors. V́ thế, nhóm cần một tinh thể
hoàn chỉnh để giải quyết vấn đề này mà nguyên liệu đơn kết kinh không
tồn tại trong thiên nhiên. Vào gần cuối năm 1949, một chuyên
gia về kim thuộc tên là Gordon Teal đề nghị
một phương pháp chế tạo germanium có đơn tinh thể lớn (large single
crystal). Theo ông này, bằng cách nhúng những hạt mầm germanium nhỏ
trong dung dịch nóng chảy germanium; và bằng cách kéo lên từ từ dung
dịch nóng chảy, ông có thể đạt được tinh thể đơn kết tinh hoàn chỉnh
dùng trong việc chế tạo germanium transistors. Người “boss” của ông
Teal có vẻ bi quan về đề nghị này; nên ông Teal bí mật theo đuổi việc
thực hiện y tưởng của ḿnh bằng cách dùng
những dụng cụ ông mượn mỗi ngày từ 5 pm đến 3:00 am.
Cuối cùng phương pháp này hoạt động tốt và Jack
Morton quyết định hổ trợ đề án của Teal.
Vào mùa hè 1951, nhóm của Morton có đủ khả năng chế tạo point contact
transistors với sản lượng lớn.
7. Xung đột giữa Shockley với Bardeen và
Brattain
Sau sự kiện tŕnh bày ở phần 5, Shockley không
cho Bardeen và Brattain làm về junction transistor và ủy
thác hai người này với công tác mới. Ban
lănh đạo cao cấp không can thiệp ǵ vào quyết định này.
Shockley bây giờ là khuôn mặt public chính của
Bell Labs’ research về tranzito. Nhưng rồi
nhóm vật lư chất rắn dần dần cũng sụp đổ. Bardeen muốn tiếp tục
nghiên cứu về transistors kể cả junction
transistor nhưng không được phép vă lại ông cũng bất măn nhiều về
phương cách quản lư độc quyền của Shockley nên quyết định t́m a
professorship ở University of Illinois at Urbana Champaign.
Brattain cũng tỏ thái độ không vừa ḷng và có than
phiền với Kelly về Shockley nhưng h́nh như không có kết quả ǵ.
Nhưng sau đó, Kelly cho Brattain hoàn toàn tự do trong việc nghiên cứu
ở Bell Labs. Brattain không c̣n nghiên cứu về
transistors và không c̣n báo cáo trực tiếp với Shockley nữa.
Đầu thập niên 50’s, the Labs quyết định nhượng bản
quyền về kỹ thuật chế tạo transistor với giá $25.000 cho mỗi hăng
thành viên. Hội nghi hàng năm cũng được tổ
chức tại Murray Hill.; và lúc ấy Shockley là khuôn mặt chính của hăng
và xuất bản quyển sách dày 500 trang – Electrons and Holes in
Semiconductors. Đây cũng là quyển sách rất
được nhiều nhà nghiên cứu và sinh viên dùng trong nhiều năm sau đó.
8. Mervin Kell’s management style và dự
đoán của ông đă trở thành hiện thực
Kelly cố tạo một trung tâm nghiên cứu mới bao gồm những nét
đặc thù nhất của môi trường làm việc ở đại học (tự do, nghiên cứu cơ
bản) và kỹ nghệ (sản phẩm, nghiên cứu ứng dụng). Ở trung tâm này,
người nghiên cứu có “intellectual freedom”, không phải lo viết đề
án xin tiền nghiên cứu, dạy dỗ sinh viên và
không phải đi dự committee meeting.
Với một người đă bỏ rất nhiều thời gian nghiên cứu về đèn chân không
và uy tín chuyên môn của ḿnh dính liền với công việc nghiên cứu này;
việc t́m cách thay thế đèn chân không với transistor của Kelly là một
việc làm rất “can đảm”. Phương cách quản lư của
Mervin Kelly đóng một vai tṛ không nhỏ trong sự thành công của Bell
Labs về transistor. Ông triệu tập những ‘top minds” vào cùng
nhóm vật lư chất rắn và để họ nghiên cứu t́m ṭi với rất ít can thiệp
từ cấp trên. Ông chọn Shockley làm co-leader của nhóm mà không
theo quan điểm thông thường về thứ bậc thâm
niên. Mọi người trong nhóm phải theo “open
policy” bằng cách trao đổi suy nghĩ với nhau và giúp đỡ nhau.
Là một nhà nghiên cứu trước khi trở thành một
người quản lư trong ban lănh đạo (ông là president thứ ba của Bell
Lbas), Kelly chủ trương nghiên cứu dựa vào kế hoạch ngắn hạn và kế
hoạch dài hạn. Mô h́nh quản lư của Kelly đă trợ thành đề tài
học hỏi của nhiều ban lănh đạo trong kỹ nghệ sau này.
Mervin Kelly trong một bài nói chuyện với
telephone executives vào năm 1951 đă nói: ”Không
ai có thể đoán được ảnh hưởng của transistor. Trong thời gian tôi c̣n
sống, nhưng chắc chắn trong khoảng 20 năm tới, linh kiện điện tử này
sẽ biến đổi kỹ nghệ điện tử và cuộc sống hàng ngày ở mực độ sâu sắc
hơn đèn chân không..” ( no one can predict
the rate of its impact… In the time I may live, certainly in 20 years,
it would transform the electronics industry and everyday life in a
manner much more dramatic than the vacuum tube ).
Vision này của Kelly một phần dựa vào kinh nghiệm
ông có với đèn chân không với nhiều ngày đêm làm việc không ngừng ở
Manhattan. Mặc dù đèn chân không có những
khó khăn lúc đầu với nhưng rồi với nhiều nghiên cứu khai phát, tính
năng và tuổi thọ tăng lên; giá thành cũng giảm xuống đến mức độ nhiều
người không thể tưởng tượng được. Ông cũng nhấn mạnh rằng “Bell
labs không phải là một ngôi nhà kỳ diệu/ Bell Labs
is no house of magic”.
Với sự làm việc cần
cù và một kế hoạch rơ rệt, nhiều phát minh lớn có thể hoàn thành được.
9. High quality germanium crystal
Một nhà nghiện cứu về kim
thuộc tên là Bill Pfann đă t́m ra giải pháp để tăng độ tinh khiết của
germanium. Câu chuyện xảy ra khi trở về pḥng thí nghiệm sau khi đi
ăn trưa xong, ông ngồi trên một chiếc ghế
cạnh cửa sổ và để chân trên bàn làm một giấc ngủ trưa ngắn như thường
lệ. Một lúc sau, ông chợt ngồi trực dậy với giải
pháp ông đang t́m trong lúc nằm mơ. Pfann thấy một ṿng xoắn
kim loại di động dọc theo vùng nóng chảy.
Trên thực tế, một ṿng kim loại làm nóng ở
nhiệt đô cao chạy dọc theo chiều dài của thỏi germanium. Khi ṿng
kim loại di động, tạp chất theo ṿng xoắn
kim loại đi ra khỏi tấm germanium. Phương pháp này
được biết sau này là “zone refining”. Đây
được xem là một trong những phát minh rất quan trọng trong ṿng 25 năm.
Phương pháp này đă giúp những nhà nghiên cứu tại Bell Labs chế tạo
germanium với độ tinh khiết tốt nhất trên thế giới lúc bấy giờ với độ
tạp chất khoảng vào 1 phần 10 triệu của số atoms.
10. Morris Tanebaum và sự thay thế
germanium với silicon
Có nhiều lư do Bell Labs muốn thay thế germanium
với silicon v́ germanium hiếm hơn silicon v́ silicon từ cát tạo thành;
thành ra nếu germanium transistor phát triển mạnh như một số người dư
đoán, th́ sẽ có giới hạn về sản xuất trong tương lai. Thêm vào đó,
germanium có những yếu điểm về tính năng như: germanium transistors dễ
nóng, ít tin cậy hơn và trở thành vô dụng ở nhiệt
đô 150 F hay cao hơn. Vào năm 1952 một nhà nghiên
cứu hóa học trẻ với PhD từ Princeton tên là Morris Tanenbaum đến làm
việc ở Bell Labs. Theo truyền thống của
Bell Labs, người quản lư của Tanenbaum khuyến khích ông đi thăm nhưng
pḥng nghiên cứu để xem thử có đế tài nào ông ta thích làm.
Sau cuộc thăm viếng, ông nghĩ transistor mới có
vài tuổi và germanium có nhiều vấn đề nên ông muốn t́m những chất bán
dẫn tốt hơn germanium. Tanenbaum thuật lại.
Và ông ta bắt đầu đi t́m những chất khác như nhôm, gali (gallium),
indi (indium) v..v.. để thay thế germanium.
Với một số kinh nghiệm ông có về silicon với Brattain trước
đai chiến thứ hai, Shockley đề nghị
Tanenbaum nghiên cứu về silicon. Thực ra nhiều năm
trước đó Bardeen, Brattain và Gerald Pearson t́m cách chế tạo silicon
transistors nhưng kết quả không tốt nên họ không tiếp tục.
V́ thế Shockley muồn thử lại. Shockley hỏi
xem Tanenbaum có muốn làm việc chung với
ông hay không? Tanenbaum có nghe nói nhiều về bản ngă rất mạnh và
phương cách quản lư của Shockley; nhưng sau cùng đồng hợp tác với
Shockley v́ ông nghĩ Shockley mặc dú nổi tiếng nhưng chuyên môn về vật
ly , c̣n ông chuyên môn về hóa học; hai
lănh vực khác nhau nên cũng khó cho Shockley bắt nạt được ông.
Dupont lúc bấy giơ có bán “bột silic tinh khiết”
với giá $430/pound. Bell Labs chỉ muốn một số rất ít tạp chất
trong bột silic để chế tạo p-type, n-type và sau cùng silicon junction
transistor. Sau vài tháng làm việc, với sự giúp tay của người trợ tá
là ông Ernie Buehler, Tanenbaum có thể “thành trưởng” tinh thể silic
bằng cách thay đổi tốc độ khi “kéo” hạt mầm silic từ silic nóng chảy.
Bằng phương pháp biến đổi này, Tanenbaum có thể
thay phiên nhau tạo cho tạp chất n-type và p-type vào tinh thể silic.
Tanenbaum đạt được một thỏi tinh thể silic dài khoảng 4.5 inches và
rộng khoảng ¾ inch với nhiều n-p-n nằm chồng lên nhau.
Bằng cách thái mỏng một miếng tinh thể silic có
cấu trúc n-p-n, Tanenbaum và Buehler hoàn thành silicon transistor lần
đầu tiên trên thế giới. Lúc đó là tháng
giêng, 1954. Vài tháng sau đó, Gordon Teal
(người nghĩ ra phương pháp thành trưởng tinh thể germanium ở Bell Labs
mấy năm trước, giờ về làm việc với Texas Instruments) cũng có thể chế
tạo silicon transistor của riêng ông. Nhưng cả hai sự kiện này
cũng không có nhiều đặc biệt để ăn mừng v́
phương pháp chế tạo quá phức tạp, không thích họp cho việc sản xuất.
Tanenbauem vẫn tiếp tục cải thiện phương pháp
thành trưởng tinh thể silic. Một năm sau đó, với sự hợp tác với
Cal Fuller, một chuyên gia hóa học khác, nghiên cứu của Tanenbaum bắt
đầu gặt hái những kết quả khả quan hơn. Fuller lúc
bấy giờ thuộc nhóm của Jack Morton và pḥng nghiên cứu của ông này đối
diện với pḥng nghiên cứu của Tanenbaum nên hai người thường có cơ hội
gặp và trao đổi y tưởng với nhau. Vào lúc
Tanenbaum cộng tác với Fuller, Fuller đang nghiên cứu một kỹ thuật gọi
khuếch tán (diffusion) cho phép sụ kiểm soát chính xác lượng tạp chất
cho vào tinh thể silic. Với phương pháp
khuếch tán này, những tấm tinh thể silic h́nh tṛn được đặt trong một
cái ḷ nung nóng và được tiếp xúc với chất khí có chứa loại tạp chất
cần dùng, chẳng hạn như nhôm. Ở nhiệt độ
cao, nguyên tử của những tạp chất “bombard” bề mặt của tinh thể và từ
từ khuếch tán vào bên trong. Nói một cách khác, tùy vào nhiệt
độ và những điều kiện khác, một lớp rất mỏng p-type silicon có thể tạo
trên tấm n-type silic, tiếp theo bằng một
lớp rất mỏng (khoảng 1/1000 inch) n-type silicon.
Giờ thử thách kế tiếp là làm thế nào để đặt điểm tiếp xúc với lớp mỏng
p-type nằm ngay trong tấm n-type silic.
Nhiều tuần trôi qua, Tanenbaum “vật lộn” với nhiều ư tưởng, cố gắng
t́m ra giải pháp thích hợp nhưng vẫn không có kết quả nào khả quan cả.
Một đêm, v́ vợ ông không có ở nhà, không có chuyện
ǵ làm nên Tanenbaum đi vào pḥng nghiên cứu để làm thử một phương
pháp khác. Ông ta làm nóng một dây nhôm;
nguyên tử nhôm đi xuyên qua lóp n-type silic nằm trên rồi tiếp xúc với
lớp p-type silic nằm ở giữa. Ông gọi phương
pháp này là” phương pháp trực tiếp (direct approach)”.
Ông ngạc nhiên khi thấy rằng tính năng của loại
silicon transistor này tốt hơn những germnium transistors mà ông thấy
trước đây. Hôm đó là khuya ngày 17 tháng 3,
1955. Nhận thấy ngay đây là phương pháp thuận lơi trong việc
sản xuất transistor, khi về nhà, ông cứ trằn trọc măi ngủ không được
chờ đến sáng mai đến pḥng nghiên cứu để tiếp tục thử nghiệm linh kiện
mới này. Ngay lập tức, ban quản lư được gọi đến,
kể cả Jim Fisk, trưởng bộ môn nghiên cứu của Bell Labs. Jack
Morton, lúc đó đang ở Âu Châu, cũng hủy công tác c̣n lại để bay về khi
nghe tin này. Kelly và Morton tán thành loại diffused silicon
transitor của Tanenbaum, mở đầu tương lai mới cho silicon transitor.
Một điều quan trọng nữa là với sự thành công
trong việc chế tạo tinh thể silic này, mô h́nh về
junction transistors của Shockley mấy năm trước giờ cũng có thể thực
hiện được.
Vào năm 1956, 10 triệu transistors được sản xuất
và tiền thu nhập lúc bấy giờ là $100 triệu
đô-la.
11. Mervin Kelly đễ nghị Bardeen, Brattain
và Shockley giải Nobel về vật lư
Sau khi Bardeen rời Bell Labs về dạy ở University
of Illinois, Urbana Champain và Brattain rờ khỏi nhóm vật lư chất rắn,
Shockley thường than phiền với Marvin Kelly rằng ông ta phải “deserve”
một chức vi cao hơn. Kelly từ chối v́ Kelly nghĩ
rằng với bàn tính của Shockley, ông này không thích hợp cho những địa
vị quản lư cao hơn ở Bell Labs. Sau cùng,
Shockley lên thẳng gặp giám đốc của AT&T (hăng mẹ của Bell Labs) để
than phiền về diều này. Nhưng ông cũng
chẳng gặt hái được ǵ. Shockley rất bất măn
với Kelly và sau cùng rời Bell Labs đi về California để mở hăng
Shockley Semiconductor (sẽ tŕnh bày nhiều hơn trong những số tới).
Shockley chỉ có thể “chiêu mộ” được một người từ Bell Labs: đó là
Morris Tanenbaum, người làm ra silicon transistor; c̣n những người
khác từ các hăng khác như Gordon Moore, Robert Noyce, Jean Hoerni và
Eugene Kleiner v́ họ không biết phương cách quản lư và bản ngă của
Shockley. Những người này (the Traitorous Eight)
đóng vài tṛ quan trọng trong việc h́nh thành và phát triển Silicon
Valley sau này.
Ngay vào lúc Shockley sắp rời
Bell Labs, Kelly với tư cách là một hội viên ngoại quốc của Hàn Lâm
Viên Thụy Điễn (the Swedish Academy of Sciences) đề nghị giải Nobel về
vật lư cho Bardeen, Brattain và Shockley.
Và ngày 2 tháng 11, 1956, ba ông này chính thức được giải Nobel vật lư
về việc phát minh transistor.
12. Vài nét về Brattain, Bardeen, Shockley
và Kelly
Walter Houser Brattain
Born in Xiamen, China
Nobel Prize in physics, 1956
PhD in 1929, Physics, University of Minnesota;
thesis advisor: John Tate.
Fist job at the National
Bureau of Standards. Stayed at Bells Labs
until his retirement in 1967.
"Walter was a very
good experimental physicist. He could put things together out of
sealing wax and paper clips, if you wish, and make things work." --
John Pierce, his co-worker at Bell Labs, inventor of the
communications satellite.

Walter Houser Brattain (1902-1987)
John Bardeen
Born in Madison, Wisconsin.
PhD in physics in 1936,
Princeton University. Thesis advisor: Eugene Wigner
Nobel Prize in physics, 1956
Nobel Prize in physics, 1972
Two of his students who have received the Nobel
Prize in physics are: Nick Holonyak and John Schrieffer.
First job at Gulf
Laboratories. Other employers were Naval Ordnance Lab.,
University of Minnesota, Bell Laboratories and Univ. of Illinois
Urbana Champaign.

(1908-1991)

A commemorative plaque remembering John Bardeen
and the theory of superconductivity, at the
University of Illinois at Urbana-Champaign
(tài liệu từ UIUC)
But what made him different from so many fellow
scientifi c geniuses in physics of the twentieth century—Einstein,
Bohr, Dirac, Feynman, Landau, Pauli, and Oppenheimer? The answer lies
not only in his two Nobel Prizes for Physics (in 1956 and 1972), but
also his remarkable modesty, his deep interest in the application of
science, and his genuine ability to collaborate easily with
experimentalist and theorists alike.
William Bradford Shockley
Born in London,
England
PhD. MIT, 1936.Thesis advisor: John Slater
Nobel Prize in physics, 1956.

(1910-1989)
Worked at Bell
Laboratories, Shockley Semiconductor,
Stanford
University.
His way of
management could generally be summed up as domineering,
autocratic, erratic and hard-to-please style. Over the course of 20
years, eight of Shockley’s former employees (from Shockley
Semiconductor) started 65 new enterprises and these companies formed
the nucleus of what became
Silicon Valley,
which revolutionized the world of electronics.
Mervin Joe Kelly
Born in Princeton, Missouri.
PhD in Physics in 1918, University of Chicago.
Thesis advisor: Robert Millikan (Nobel laureate)
President of Bells Labs in 1951.
Retired from Bells Labs in 1959..Retired
from Bells Labs in 1959.

(1894- 1971)
Credited with his strong,
consistent and visionary leadership. At Bell Labs, the man most
responsible for building a culture of creativity was Mervin Kelly.
Between 1925 and 1959, Kelly was employed at Bell Labs, rising from
researcher to chairman of the board. His vision was to establish an
“institute of creative technology” that needed a “critical mass” of
talented people to foster a “busy exchange of ideas.”
Frederick R. Kappel, former board
chairman of AT&T recalled that “Mervin was always and forever pushing
the operating management, and the heads of
AT&T as well, to get on with new things. His aggressiveness got him in
a lot of hot arguments, but I always sat back and said, ‘Give it to
them, Mervin, that’s what we need.’ Every place needs a fireball or
sparkplug, and he was it.”
13. Kết luận
Linh kiện bán dẫn transistor mà Bardeen, Brattain
và Shockley phát minh ra là nhân tố quan trọng trong việc phát triển
công nghệ vi mạch hiện nay. Ba nhà khoa học
này nhất là Bardeen (người đă lănh hai giải Nobel về vật lư) là thiên
tài nhưng không theo định nghĩa thông
thường của danh từ này. Sự thành công của họ về phát minh transistor
c̣n tùy thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh chung
quanh và môi trường nghiên cứu. Sự thành công này là công tŕnh của
nhiều người ở Bell Labs từ khoa học gia, kỷ sư, trợ tá đến những người
trong ban quản lư như Kelly. Đường lối do Kelly đề nghị là chiêu mộ
những người có tài làm việc chung với nhau với một đề tài đúng hương
và đầy đủ tài trợ kinh tế;và sau đó để họ
làm việc, trao đổi ư kiến và cộng tác với nhau với rất ít can thiệp từ
ban quản lư là một trong những yếu tố chính đưa đến sự thành công này.
Tài liệu tham khảo
Jon Gertner: The idea factory: Bell Labs and the
great age of American Innovation, Penguin Books, 2012.
Lilian Hoddleson and Vicki Daitch: True genius.
The life and science of John Bardeen.
Joseph Henry Press. 2002.
|