“Đi Theo Vạt Nắng” - Phần 53

Haiku và Zen 4

Trần Trí Năng
 

 

1.

kaze no mau
komorebi no mau
chouon no mau

(whirling sunrays
dancing around a rippling wind
to the melody of waves) 

(con gió nhẹ đong đưa
ngàn tia nắng tung tăng nhảy múa
âm điệu bài sóng ca)

(1975)  

2.

Chouishimichi wo
choko choko aruku
Kuukai no ashiato

(short steps…
and
slow steps…
following
the footprints of Kukai
on
Choishimichi trail) 

(Choishimichi
con đường mòn chậm bước đi từng bước
theo dấu chân Kukai)

(1976)  

 

 

Hình bên trái:

Chouishimichi (町石道) là con đường Thiền sư Kobo Daishi (弘法大師) đi ngày xưa trong sứ mệnh hoằng pháp của ông. Vị sư này còn có tên là Kukai (空海, 27 July 774 – 22 April 835) và là người đã du nhập  trường phái Shingon (真言宗)  vào Nhật bản vào năm 805. Một trong những trung tâm tu tập của trường phái này tọa lạc trên núi Koya (高野山), nằm cách thành phố Osaka không xa.

Phong cảnh ở đây cho con người một cảm giác thanh tịnh và trong sáng, Nhìn tia nắng phất phơ bay xuyên qua cành cây. Hoa nắng vung vãi khắp nơi! Dập dìu như đàn bướm trắng thướt tha bay. Thời gian hình như đang hòa quyện với không gian! Thiên nhiên thật hiền hòa. Rộng lượng. Bao dung. Nghe tiếng chim hót. Nhìn bầu trời xanh trong. Tôi thấy niềm ”hạnh phúc tôi” dìu dịu trong lòng...(Google Images). 

Hình bên phải:

Miệng núi lửa Nakadake vẫn còn hoạt động và nằm ở trung tâm của rặng núi Aso (阿蘇山). Phải mất  khoảng 1 giờ rưởi tàu điện từ thành phố Kumamoto (熊本市) và mất thêm 30 phút xe buýt nữa để đến đây. Từ trong xe buýt nhìn về phía xa xa... du khách có thể thấy một vùng phẳng trên đỉnh đầu núi với vài mảng khói tiếp tục cuồn cuồn bay lên cao, quấn quyện với cụm mây trắng lụa là thướt tha (Google Images). 

3.

te no hira ni
hira wo kasanete
kokyuu shite

Ajikan
* no shoshin

(my right palm
stacking
up on my other palm,
breathing
…
Ajikan
  for beginner’s mind)


(an trụ theo hơi thở
bàn tay phải trên bàn tay trái
Ajikan* cho người mới tập)

(1976)

*) Ajikan ( 阿字観): phương pháp tu thiền của trường phái Shingon

 

4.

karudera kara
karasu
ga tobisatte
aozora ni

kuroki
hanten wo nokosu
kaa kaa

(out of the  caldera
a
crow flashes,
clouding
a tiny dark spot-
a
reverberating “caw-caw”sound) 

(từ trong miệng núi lửa
một chú quạ bay vụt lên cao

để lại chấm nhỏ đen trên nền trời-
vọng lại tiếng  “quàng quạc”)

(1974) 

5.

kamomemure
fune no kemuri ya
kumo no mine
sora ippai no shiro

(flock of singing seagulls,
smoke from cargo ships,
and towering clouds
swirling  around and around...
a sky full of whites) 

(đàn chim biển tung bay
cuộn khói từ những con thuyền
đám mây trôi bảng lảng
quyện vào nhau làm trắng cả bầu trời)

(1975)  

6.

komorebi to
hadena
murakumo
mizu to kigi
ni
katachi to kage

(scintillating sunrays,
gathering
clouds
casting
their wavering shadows
on
water and trees)
 

(tia nắng vàng rực rỡ
đám
mây trôi trong nền trời xanh
bóng
và hình ẩn hiện
trên
mặt nước xanh hàng cây xanh)

(1975)  

7.

rasshuawaa
no
densha no naka
dare
ka no ibiki de
watashi
wa hakkiri
me
ga samechatta 

(someone’s snoring
in
a rush hour’s train
has
woken me up-
bewilderingly
opened eyes) 

(tiếng ai ngáy bên cạnh
trong
xe điện vào giờ cao điểm-
tôi
ngỡ ngàng tỉnh dậy)

(1973) 

8.

kaze ga fuku
hadasamui kaze
anemone kana

(a chilly wind,
the wind has just arrived:
wind flowers, perhaps) 

(gió lạnh buốt thịt da
con gió sớm vừa mới trở về
hoa gió đua nhau giỡn)

(1975)  

9.

suzumi yuuhi
arukinagara
tottoko
tottoko

 (the sun has just set,
observing  the
walking rhythm-
tip-tap
..tip-tap…) 

(mặt trời chiều sắp lặn
dần
đi  theo nhịp điệu bước chân
âm
thanh vang xào xạc…)

(1974)  

10.

moesakaru
kouyou nagara
mite! mite yo!
akakomadori wa
piyopiyo to naku

(the fire blazes
in the forest of fall colors
wow, red robins are here!
singing incessantly
a wonderfully mellow sound) 

(rừng thu cây đỏ thắm
sáng rực rỡ như đang bốc cháy
ô kìa! hãy nhìn kìa!
robin đỏ đang chim chíp hót)

(1973)  

 

July 4, 2024