|
1.
kaze no mau
komorebi no mau
chouon no mau
(whirling sunrays
dancing around a rippling wind
to the melody of waves)
(con gió nhẹ đong đưa
ngàn tia nắng tung tăng nhảy múa
âm điệu bài sóng ca)
(1975)
2.
Chouishimichi
wo
choko choko
aruku
Kuukai no ashiato
(short steps…
and slow steps…
following the footprints of Kukai
on Choishimichi trail)
(Choishimichi
con đường mòn
chậm bước
đi từng
bước
theo
dấu chân
Kukai)
(1976)

Hình bên trái:
Chouishimichi (町石道)
là con đường Thiền sư Kobo Daishi (弘法大師)
đi ngày xưa trong sứ mệnh hoằng pháp của ông. Vị sư
này còn có tên là Kukai (空海,
27 July 774 – 22 April 835) và là người đã du nhập
trường phái Shingon (真言宗)
vào Nhật bản vào năm 805. Một trong những trung tâm tu tập của trường
phái này tọa lạc trên núi Koya (高野山),
nằm cách thành phố Osaka không xa.
Phong cảnh
ở đây cho con
người một
cảm giác
thanh tịnh
và trong
sáng, Nhìn
tia nắng phất phơ bay xuyên qua cành cây.
Hoa nắng vung vãi khắp nơi! Dập dìu như đàn bướm trắng thướt tha bay.
Thời gian hình như đang hòa quyện với không gian! Thiên nhiên thật
hiền hòa. Rộng lượng. Bao dung. Nghe tiếng chim hót. Nhìn bầu trời
xanh trong. Tôi thấy niềm ”hạnh phúc tôi” dìu dịu trong lòng...(Google
Images).
Hình bên phải:
Miệng
núi lửa Nakadake vẫn còn hoạt động và nằm ở trung tâm của rặng
núi Aso (阿蘇山).
Phải mất
khoảng 1
giờ
rưởi
tàu
điện
từ
thành
phố Kumamoto (熊本市)
và
mất thêm 30
phút
xe
buýt
nữa
để đến
đây. Từ
trong
xe buýt
nhìn về phía xa xa...
du khách có thể thấy một vùng phẳng trên đỉnh đầu núi với vài mảng
khói tiếp tục cuồn cuồn bay lên cao, quấn quyện với cụm mây trắng lụa
là thướt tha (Google Images).
3.
te
no hira
ni
hira
wo kasanete
kokyuu
shite
Ajikan* no shoshin
(my
right palm
stacking up on my other palm,
breathing…
Ajikan for
beginner’s mind)
(an
trụ theo
hơi thở
bàn tay
phải trên
bàn tay
trái
Ajikan* cho
người mới
tập)
(1976)
*)
Ajikan (
阿字観):
phương pháp
tu thiền
của trường
phái Shingon
4.
karudera
kara
karasu ga
tobisatte
aozora ni
kuroki hanten
wo nokosu
kaa kaa
(out
of the caldera
a crow flashes,
clouding a tiny dark spot-
a reverberating “caw-caw”sound)
(từ
trong miệng
núi lửa
một chú
quạ bay vụt
lên cao
để
lại chấm
nhỏ đen
trên nền
trời-
vọng lại
tiếng “quàng
quạc”)
(1974)
5.
kamomemure
fune no kemuri ya
kumo no mine
sora ippai no shiro
(flock of singing seagulls,
smoke from cargo ships,
and towering clouds
swirling around and around...
a sky full of whites)
(đàn chim biển tung bay
cuộn khói từ những con thuyền
đám mây trôi bảng lảng
quyện vào nhau làm trắng cả bầu trời)
(1975)
6.
komorebi
to
hadena murakumo
mizu to
kigi
ni katachi to
kage
(scintillating
sunrays,
gathering clouds
casting their wavering shadows
on water and trees)
(tia
nắng vàng
rực rỡ
đám mây
trôi trong nền
trời xanh
bóng và
hình ẩn hiện
trên mặt
nước xanh
hàng cây
xanh)
(1975)
7.
rasshuawaa
no densha no
naka
dare ka no ibiki de
watashi wa
hakkiri
me ga
samechatta
(someone’s
snoring
in a rush hour’s train
has woken me up-
bewilderingly opened eyes)
(tiếng
ai ngáy
bên cạnh
trong xe
điện vào
giờ cao
điểm-
tôi ngỡ
ngàng tỉnh dậy)
(1973)
8.
kaze ga fuku
hadasamui kaze
anemone kana
(a chilly wind,
the wind has just arrived:
wind flowers, perhaps)
(gió lạnh buốt thịt da
con gió sớm vừa mới trở về
hoa gió đua nhau giỡn)
(1975)
9.
suzumi
yuuhi
arukinagara
tottoko
tottoko
(the sun has just
set,
observing the walking
rhythm-
tip-tap..tip-tap…)
(mặt
trời
chiều
sắp
lặn
dần đi
theo
nhịp
điệu bước
chân
âm
thanh vang xào
xạc…)
(1974)
10.
moesakaru
kouyou nagara
mite! mite yo!
akakomadori wa
piyopiyo to naku
(the fire blazes
in the forest of fall colors
wow, red robins are here!
singing incessantly
a wonderfully mellow sound)
(rừng thu cây đỏ thắm
sáng rực rỡ như đang bốc cháy
ô kìa! hãy nhìn kìa!
robin đỏ đang chim chíp hót)
(1973)
July 4, 2024
|