1.
joyouhan
hottarakashi no mama
kyou mo ashita mo
(a four-and-a-half-mat room
in a state of disarray
as always...)
(căn phòng bốn chiếu rưỡi
sách vở nằm bừa bộn khắp nơi
như thế đã lâu rồi...)
(1972)
2.
natsumekite
machiyu
hakubutsukan*
ara
maa!
(the summer
has just begun
“hakubutsukan”
throughout the city
wow!a
lot of fun!)
(mùa
hạ vừa
bắt đầu
“hakubutsukan”trong
toàn con phố)
ố
kìa, sao vui
quá!)
(1972)
*) Vào
mùa xuân ở
Shimonoseki, người
bản xứ
thường đem
đủ loại
đồ ra
trước nhà
chùi rửa
và phơi.
Thoạt
nhìn giống
như “bảo
tàng viện
ngoài trời
của thành
phố”.
3.
hoshiakari
Kanmon
kaikyou
ni
mangetsu
(star
lights
glazed with moon
lights
at the
Kanmon Straits)
(nơi
eo biển
Kanmon
ánh
sáng muôn
sao viền
với ánh
trăng
rực
rỡ sáng
lân tinh)
(1972)
Moji
nằm ở điểm
cuối cùng
của bán
đảo Kyushu.
Moji có cây
cầu Kanmon
bắt ngang
qua eo biển
Kanmon, nối
liền Moji với
Shimonoseki- thành
phố nằm ở
đĩnh đầu của
đảo Honshu.
Tôi thích cái
nét bình dị, đơn sơ của con phố! Những lúc có cơ hội vào cuối tuần,
tôi thường đi tàu đến Mojiko.
Nhà ga Mojiko nằm trong khu
Moji Retro và là một trong nhiều ngôi nhà có nét kiến trúc theo lối
Tây phương được xây từ thời
Meiji hay Taisho. Ở đây, du
khách có thể đi bộ dọc theo bờ biển Setonai đến thăm viếng một số di
tích của một thời xa xưa còn sót lại. Moji
lộng lẫy với
những chiều hoàng hôn nắng
ráng đỏ cả một góc trời. Từ xa nhìn giống như một con đường rực sáng
nối liền chân trời với bãi biển, thắm đậm với màu đỏ chói trên mặt
biển hòa lẫn với màu nâu của bãi cát, tỏa những tia sáng
màu vàng nhạt lân tinh trên bọt sóng. Con
gió chiều mát nhẹ cho tôi một cảm giấc dễ chịu và một sự bình yên
trong tâm hồn. Tĩnh lặng như bước chân mình. Âm thầm đi theo âm điệu
còn sót lại trong ngày...
Có những ngày đẹp trời,
đứng trên đồi cao, tôi có thể nhìn thấy rõ mồn một những con đường
bên phía Shimonoseki đang phơi mình tắm nắng…Thiên nhiên thật vi
diệu...”Trên bãi cát Moji
viết vội vài câu thơ /Để sóng biển len lén cuốn theo hướng
gió/Shimonoseki sáng mai cũng dòng thơ đó/Mang âm điệu hôm nay biển
sóng ngọt ngào”
(Google Images).
4.
juuen
dama
aijoo to
joonetsu
akai
denwa
(ten yen
coins
imbued with deep
love and care—
a red telephone box)
(đồng
tiền mười
yen cũ
ngào
ngạt với
hơi ấm
hương tình
đường
đây điện
thoại đỏ)
(1975)
5.
omikuji
ya
burasagatteru
hatsumoode
(sacred
lots
hanging down with
wishes—
the first shrine
visit of the year)
(những
mảnh giấy
thời vận
mơ
ước đong
đầy những
nhánh cây—
ngày
đầu năm
đi lễ)
(1977)
6.
asa
yake ya
soshite
koyake ya
natsu
wakare
(red
sunrise sky
followed by
twilight dark orange sky—
parting in the
summer)
(bầu
trời sáng
bình minh
rồi
màu hoàng
hôn đỏ
thẩm buổi
chiều—
lời
chia tay
cuối hạ)
(1973)
7.
amadare
ya
te no
hira ni
ochiru
warutzu
merodii
(raindrops
dripping on my
hands;
a waltz melody)
(mưa
rơi giọt
từng giọt
tí
tách rơi
trên đôi
bàn tay;
một
giai điệu
Waltz)
(2005)
8.
komorebi
ya
ochiba
wo atatameru
hatsuyuki
(through
the trees
the sunlight has
warmed up
fallen leaves—
the first snow of
the year)
(ánh
mặt trời
xuyên qua hàng
cây
hong
ấm những
chiếc lá
khô rơi
bông
tuyết rơi
đầu mùa)
(2000)
9.
yukinohara
ni
karasu no
mure ya
isogashiki
(a flock of
crows
desperately
searching for foods
on a snowy field)
(một
đàn quạ
bận
rộn kiếm
mồi còn
sót lại
trong
cánh đồng
đầy tuyết)
(2020)
10.
doshaburi
kono
furuikoya
amayadori
wo shiyo
(it’s
pouring
look! an
old cottage ahead—
let's
shelter here from the rain)
(mưa
rơi như
trút nước
coi
kìa!
cái chòi
cũ phía
trước
tạm
làm chỗ
đụt mưa)
April 1 2025