|
‘東風吹かば にほひをこせよ 梅花 主なしとて 春を忘るな’
(Này những bông
hoa mơ. Khi ngọn gió đông thổi về, nhớ mang lại hương thơm
nhé! Cho dù người thầy lãnh đạo không còn nữa, chớ có quên mùa xuân
sắp về).
Khi bị giáng chức vì sự tranh chấp quyền lực trong triều đình của
hoàng đế Uda và thuyên chuyển về Daizaifu (tỉnh Fukuoka), ông Sugawara
no Michizane(菅原
道真/菅原 道眞, 845
–903) cảm thấy rất buồn vì biết rằng ông sẽ không bao giờ được thấy
lại cây hoa mơ bên nhà ông ở Kyoto. Tức cảnh sinh tình, ông sáng tác
bài waka trên.
Ghi chú: ông Sugawara no Michizane là thần học vấn trong Thần đạo với
tên là Tenman-Tenjin (天満天神)
hay gọi tắt là Tenjin.
Mùa này hoa mơ nở rộ
ở nhiều nơi trên nước Nhật. Hoa mơ nở vào lúc giao mùa giữa cuối đông
và đầu xuân; khi hoa mơ bắt đầu tàn thì hoa anh đào bắt đầu chớm nụ.
Cả hoa mơ và hoa anh đào đều mang một sắc thái đặc thù trong văn hóa
Nhật. Hoa mơ là biểu tượng cho sự nhẫn nại, chịu đựng trong khi đó,
hoa anh đào tượng trưng cho sự vô thường “mono no aware”.
Cả hai loài hoa đều
đẹp và thanh tao. Mỗi loại có một vẻ đẹp riêng. Rất dễ lẫn lộn khi mới
chợt nhìn thoáng qua. Tuy nhiên nếu nhìn kỹ, chúng ta có thể thấy được
sự khác nhau : hoa mơ nhỏ hơn, thường có năm cánh viền tròn với màu
trắng, đỏ hay hồng điểm vài sắc tím. Cánh hoa mơ dài và nhỏ. Ngược lại,
hoa anh đào lớn, có nhiều màu sắc hơn, mềm mịn, nở nhiều búp hơn và có
khe nhỏ ở đầu cánh.
Khi nói về hoa mơ,
chúng ta không thể không nhắc đến “thung lũng hoa mơ” Tsukigasebaikei
(月ヶ瀬梅溪). thung lũng này cách thành phố Nara (奈良市) khoảng 30 cây số,
nằm dọc theo dòng sông Satsukigawa (五月川), trong vùng núi Tsukigaseyama
(月ヶ瀬 山).
1.
umekigi
no
iro to
kaori ga
kaze
ni mau
(đủ
sắc màu
tươi thắm
cùng
mùi hương
những bông
hoa mơ
đang
nhảy múa
trong gió)
(1977)
2.
kakashi
ari
Tsukigase
wo
mamori
yamaji
ari
(những
người nộm
bằng rôm
đứng
bảo vệ
thung lũng
Tsukigase
dọc
theo con đường
núi)
(1977)
3.
midarete
mo
midarete
ite mo
kaze to
ume
(hỗn
loạn rồi
hỗn loạn
cáng
lúc lại
càng hỗn
loạn thêm
hoa
mơ đùa
trong gió)
(1977)
4.
kaa kaa
to
naku karasu mure
kumorizora
(một
đàn quạ bay ngang
vang lên tiếng kêu“kạt- kạt“
bầu trời đen nhiều mây)
(1977)
5.
kaze ga
fuku
tsuyokute tsuyoku
horebore shiroku
(càng
lúc lại càng mạnh
con gió từ bốn hướng thổi về
màu trắng sáng trong nắng)
(1977)

Hình
bên trái:
-
“thung lũng hoa mơ”
Tsukigasebaikei (月ヶ瀬梅溪)
nằm ở
ngay vùng giáp ranh của ba tỉnh Nara, Kyoto và Mie. Cả một vùng đồi
núi sáng rực lên với màu trắng sáng nhất là những lúc mặt trời lên.
Hình bên phải: Hoa mơ thuộc giống hakubai (白梅).
Hoa này có năm cánh và nở rộ vào dịp cuối đông. Có nhiều lễ hội ume
matsuri (梅まつり)
ở Nhật vào thời điểm này.
6.
hi no de
tanima ni
sematte ita
komorebi to hana
(mặt
trời vừa ló dạng
nơi thung lũng rộng đến chân trời
chỉ toàn nắng và hoa)
(1977)
7.
hanatakadaka
no
hanamatsuri ya
ume no
hana
(nơi
lễ hội
hoa mơ
đầy
hoa mơ
khoe hương
sắc thắm
với
vẻ đẹp
tự hào)
(1977)
8.
hirune shite
ume no ki no kage
ippai no yume
(ngủ một giấc trưa
dưới bóng cây mơ mát rười rượi
lòng tràn đầy ước mơ)
(1977)
9.
ume
no saku
hanabanashiku
yuugana
kaori
(hàng
cây mơ
nở rộ
rực
rỡ với
vạn sắc
muôn màu
và
hương thơm
tao nhã)
(1977)
10.
shidareume
kaze to
tomo ni
mau
maiko no
odori
(hàng
cây shidareume
đong
đưa như
những nàng
maiko
đang
nhảy theo
điệu gió)
(1977)
11.
ume
no mori
doudou
ni saku
yuuga to bi
(cả
rừng cây
hoa mơ
hoan
hỉ nở
rộ khắp
mọi nơi
với
vẻ đẹp
tao nhã)
(1977)
12.
ume
no kaori
mabushii
hodo shirokute
hito to
kaze
(mùi
hương bông
hoa mơ
sáng
rực rỡ
chói nhòa
cả mắt
tiếng
gió và
tiếng người)
(1977)
13.
saraba
fuyu
haru e youkoso
Tsukigasebaikei
(thung
lũng Tsukigase
giả từ một mùa đông sắp qua
đón chào mùa xuân mới)
(1977)
14
keikoku
zenkei
wo
kambai shinagara
tsuzureori no you
da
(trên
toàn vùng
thủng lủng
rừng
cây hoa
mơ đang
trải rộng
như
một tẩm
thảm thêu)
(1977)
15.
umefubuki
karen
na hanaemi
shibafu no
ue ni
(tung
bay như hoa
tuyết
hoa
mơ với
những nụ
cười dễ
thương
bay
lượn trên
thảm cỏ)
(1977)
16.
umebatake
kagayakashiki
iro
kaori
ippai no asa
(cánh
đồng đầy
hoa mơ
sáng
rực rỡ
với muôn
sắc hoa
mùi
hương đầy
buổi sáng)
(1977)
17.
ari no mure
hana ni ariari to
mono wo sagasu you da
(khi đến gần thấy rõ
một đàn kiến nhỏ như đang cặm cụi
tìm thức ăn nơi cây mơ)
(1977)
18.
keikokuzoi
ume
ga tachinarabu
jaa
ne fuyu
(đứng
dọc theo
thung lũng
những
hàng cây
hoa mơ
nở rộ
chào
giả từ
mùa đông)
(1977)
19.
kawakaze
ni
suzuminagara
umeshu
wo
susurinagara
kokochiyoi
kaori
(vừa
hóng mát
với con gió
sông
vừa
nhấm nhí
ly rượu
ume
hương
nồng lòng
thoải mái)
(1977)
20.
kotori
ga
shidareume
wo
zengo
ni yurete
uta
wo utau
(chú
chim con nho
nhỏ
đong
đưa trên
cành shidareume
thỏ
thẻ lời
tâm sự)
(1977)
21.
hanakotoba
soyosoyo kaze ya
Tsukigase to
tsunagattari
kokoro
ni hirogaru
(ngôn
ngữ của
hoa mơ
lời
thỏ thẻ
nhè nhẹ
của gió
trao
dòng tâm
sự qua Tsukogase
trải
rộng đến
tâm hồn)
(1977)
22.
shiroshi
ume ya
mizu no nagare ga
sora wo kagayakasu
hanabi yaa na
(những
đóa hoa mơ trắng
với dòng nước chảy lóng lánh
cùng thắp sáng vòm trời
với màu pháo bông rực rỡ)
(1977)
23.
hi no de
hi no iri
hana no hibi
(buổi
sáng mặt trời lên
buổi chiều hoàng hôn lại trở về
những tháng ngày của hoa)
(1977)
24.
hanamichi
ni
yakeno no
karasu ga
toozakaru
(trên
con đường đấy
hoa
những con
quạ đen
màu cánh
đồng cháy
bay
càng lúc
càng xa)
(1977)
25.
ichiwa
no suzume
yowayowashii
koe de
mure o
yonde
(cánh
chim én
lạc đàn
tiếng
kêu càng
lúc càng
yếu dần
vẫn
tiếp tục
gọi bạn)
(1977)
26.
hi
ga pika
pika to
ume
wo toorinukete
kawa
wo terihaete
nagareboshi
yaa na
(tia
nắng vàng
chói rọi
xuyên qua
hàng cây
mơ bên
sông
phản
chiếu lại
ánh sáng
lân tinh
rực
rỡ như
những vì
sao rơi)
(1977)
27.
kansan
kaori
kansan no
sakamichi
hitori
tabi
(thấm
hương vị
vui buồn
trên con
đường dốc
vắng người qua
một
hành trình
đơn độc)
(1977)
28.
Tsukigasebaikei
jaa,
Satsukigawa
itarutokoro de
ume
darake
(Tsukigasebaikei
rồi
đến Satsukigawa
đâu
đâu cũng
đầy dẫy
hoa mơ)
(1977)
29.
shizukana
kawa ni
te
wo hitashite
ashi
nagedashite
enkan no
oto
(bên
bờ sông
vắng lặng
khuấy
động tay
chân chơi
vọc nước
vòng
nước trắng
tung tóe)
(1977)
30.
miageru
to
hi to
kumo to sora
miwatasu to
mizu to
iro to kaori
shizen no
utsurikawari
(ngước
nhìn lên
trời cao
thấy
mặt
trời, mây
và bầu
trời
xoay
quanh nhìn
chung quanh
toàn
nước,mùi hương
và sắc
màu
thiên
nhiên theo
dòng thời
gian trôi)
(1977)
February 21,
2024
|