“Đi Theo Vạt Nắng” - Phần 48

Haiku về dòng sông Kamogawa

 

Trần Trí Năng

 

Dòng sông Kamogawa* chảy xuyên qua trung tâm thành phố Kyoto. Đây là nơi người dân bản xứ thường đến, nhất là vào mùa hè khi khí hậu nóng và âm ướt. Thường thì họ ngồi hay đi bộ dọc bờ sông. Một số người thích ngồi ở Noryo yuka** vừa nhìn hoàng hôn xuống, nghe tiếng suối reo, hóng gió mát buổi chiều, và vừa thưởng thức những món ăn đặc sản trong vùng.  

Kamogawa có màu nước xanh, bao bọc với bầu trời xanh và cây cỏ bốn mùa. Kamogawa ma mị với bóng dáng ẩn hiện của nhiều cây cầu trong những ngày mưa, và những buổi chiều thành phố đầy sương. Mỗi cây cầu có một sắc thái riêng,  mang lại cho dòng sông một nét đẹp bí ẩn và thơ mộng. Nhìn về phía xa, thành phố cổ Higashiyama nằm yên lặng mờ nhạt dưới ánh đèn, hình như đang mang một nỗi niềm tâm sự thầm kín những lúc đêm về.  

Bẵng đi một thời gian khá lâu từ ngày rời vùng Kansai, tôi trở về thăm lại Kamogawa. Tôi đi lại con dường dọc theo bờ sông dưới nắng rực trời mây bên tiếng suối reo vui. Ngày xanh trong gió lộng, với những kỷ niệm năm xưa quyện kín lối đi về. Con gió mát nhẹ cho tôi một cảm giác dễ chịu và một sự bình yên trong tâm hồn. Tĩnh lặng như bước chân tôi. Âm thầm đi theo âm điệu còn sót lại của ngày. 

Mặc cho năm tháng vơi đầy, Kamogawa hình như vẫn thế! Vẫn vóc dáng dịu hiền, cởi mở, đón mời. Vẫn nét nhẹ nhàng. Thanh thản. Buông lơi.

“Toki wa nagarete mo Kamogawa wa kawaranai…” 

*) 鴨川

**) Noryou Yuka (納涼床) hay gọi đơn giản là Yuka (床);  dịch nôm na là “sân thượng ngồi hóng gió mát buổi chiều”. Tên chính thức là  Kyouto Kamogawa Nouryou-Yuka (京都鴨川納涼床). 

1.

cha no kokoro
haiku
no kokoro
tomo
no kokoro

(linh hồn của hương trà
tấm
lòng những bạn bè gặp mặt
haiku
đậm hồn thơ)

(1976) 

2.

shi wo kaki
haiku
wo yomi
tomo
to tomo ni

(viết vội vài câu thơ
ngâm
nga vài điệu thơ haiku
chung
vui cùng bạn bè)

 (1976) 

3.

pikapika no
hoshizuki
ga atsumatte
tanjoubi
hanawa
wo
tsukuru kana

(trăng sao sáng long lanh
hội
ngộ về đây trên dòng sông này
kết
vòng hoa sinh nhật!?)

 (1976) 

4.

kawa ni sotte
hadashi
de aruki
fuuga
no michi

(con đường dọc bờ sông
bước
từng bước với đôi chân trần
thanh
tao mùi hương đất)

(1976) 

5.

Sanjou Oohashi
soyosoyo to fuku
kaze no oto

(con gió thổi nhè nhẹ
qua cầu Sanjo Ohashi
nhỏ to lời tâm sự)

(1976)  

 

         

Hình bên trái: Lời đề tựa của chị Satoko trong tập thơ haiku tôi viết và giới thiệu với mọi người nhân ngày sinh nhật của mình. “Nhóm thơ”gặp nhau vào ngày hôm ấy bên bờ sông Kamogawa. Chúng tôi cùng đọc thơ và chuyện trò vui vẻ. Tia nắng mặt trời cuối đông long lanh trên dòng sông xanh hòa quyện cùng bầu trời trong xanh cho chúng tôi một cảm giác nồng nàn và dễ chịu.  

Hình bên phải: Dòng sông Kamogawa với cỏ hoa rực rỡ bốn mùa. Đẹp nhất là vào mùa xuân với hoa anh đào nở rộ khắp nơi. Kamogawa còn có rất nhiều cây cầu bắt ngang qua. Mỗi cây cầu có một sắc thái riêng, mang lại cho dòng sông một nét đẹp bí ẩn và thơ mộng.  Đặc biệt là  cầu Nanojo Ohashi gần Kyoto Tower; cầu Shijo Ohashi dẫn đến downtown Kawaramachi (河原町) và cầu Sanjo Ohashi(三条大橋) do Hideyoshi Toyotomi (豊臣 秀吉) xây vào thời kỳ Chiến quốc (Google Images).   

6.

oubai to ume
kibishiki
samusa
ni
taekirete
bi
to yuuga

(hoàng mai và hoa mơ
rực
rỡ nở trong cái lạnh  cuối đông
thanh
tao thắm nét đẹp)

(1976) 

7.

kusawara ni
kogane
no hizashi
urarakana

(những tia nắng mặt trời
rọi
chiếu trên cánh đồng cỏ xanh
sáng
trắng cả một vùng)

(1976) 

8.

nikkou ya
nagare
ni shikushiku
shimitooru

seseragi no oto
(tia nắng sáng mặt trời

từ
từ thấm sâu lòng con nước
tiếng
suối chảy đều đều)

(1976) 

9.

Ouhashi ga
kasumi
no naka ni
miekakure
suru

(trong màn sương mờ ảo
những
chiếc cầu lúc ẩn lúc hiện
thấp
thoáng trên dòng sông)

(1976) 

10.

asa ni saku
yoru
ni shibomu
asagao
ya

(buổi sáng nở rực màu
đêm
về héo hon và tàn tạ
kiếp
hoa asagao)

(1977) 

11.

mizutamari
hitori
no watashi
ashi
no fumu

(một mình tôi lẻ loi
giẫm
lên vũng nước mưa còn sót lại
bọt
nước văng tung tóe)

(1977) 

12.

ikken dake
no
sono machiya ya
samishii
ya naa

(một ngôi nhà thời cổ
đứng
lẻ loi bên chiếc bóng thì thầm
chắc
buồn nhiều lắm nhỉ!)

(1977) 

 13.

Kamogawa no ue
ni kakaru Oohashi
kako to no musubi

(những cây cầu theo nhau
bắt qua dòng Kamogawa
kết nối cùng quá khứ)

(1984) 

14.

koke darake
no
iwa ni nagarekomu
sekijitsu
no oto

(con nước chảy thấm sâu
vào
lòng những tảng đá rong rêu
vang
âm điệu ngày cũ)

(1984) 

15.

Kamogawa no
yogiri
no naka ni
kamo
no naku

(bầu trời đêm đầy sương
văng
vẳng tiếng kêu đàn vịt trời
trên
dòng Kamogawa)

(1984) 

16.

harahara to
hara
ni tobichiru  hana ya
sakura
kana

(những cánh hoa anh đào
lả
tả bay phất phơ trong gió
lác
đác trên bãi cỏ)

(1977) 

17.

mabushii hodo
hi ga kagayaku hodo

yorokobu
hodo

(tia nắng mặt trời rực rỡ
sáng
đến nỗi làm chói cả mắt
như
niềm vui hôm nay)

(1977)  

18.

kaze tsuyoku
sakurafubuki
ga
nan
yara yukashi

(trong con gió thổi mạnh
những
cánh anh đào bay như tuyết
tao
nhã đẹp tuyệt vời)

(1977) 

19.

Kamogawa ya
Higashiyama ya
yasuraka
ya naa

(dòng Kamogawa
khu
phố cổ Higashiyama
cảnh
vật thật an bình!)

(1984) 

20.

Yuka no yusuzumi
ni
mattari shite
kawa
wo yuttari to
tanoshimu
funiki

 (nơi sân thượng Yuka
bầu
không khí thư giãn dễ chịu
hóng
gió mát buổi chiều)

(1984) 

21.

mizu ni kage
shidarezakura
ya
otome
no kami

(ngã bóng trên dòng nước
hàng
cây shidarezakura
như
làn tóc xõa người con gái)

(1977) 

22.

kawagishi ni
yuu moya darake
kawazu nakigoe

(sương chiều bao phủ đầy
bên bờ con sông chầm chậm chảy
tiếng ếch kêu ộp ộp)
 

23.

ryoute hiroge no
kaze
ga seiketsuna asa
wo
dakinagara
hazakura  ga
sarasara
aozora
no mizu

(con gió giang đôi tay
ôm
chầm lấy buổi sáng tinh khôi
những
cánh lá anh đào
quấn
quyện bên nhau rơi lả tả
trên
dòng nước xanh màu da trời)

(1977) 

24.

yukihana ya
ume
no shirosa ya
iro
to kaori

(ngàn bông hoa tuyết rơi
phảng
phất đó đây hương nồng nàn
hoa
tuyết và hoa mơ)

(1976) 

25.

kamo no gaa gaa
nagare no ukishizumu
seseragi no uta

(cất tiếng kêu cạc cạc
đàn vịt bay ngang con nước xoáy
suối nhỏ vang lời ca)

(1976) 

26.

kafue no
koohii
wo nomi
atatakami

(nhấm nhí vị cà phê
trong
quán cà phê bên góc phố
cảm
thấy ấm cả lòng)

(1976) 

27.

samidare de
bishonure
ni natte
issho
no kasa

(trong cơn mưa tháng sáu
nép
vào nhau dưới chiếc dù nhỏ
ướt
đẫm cả thân người)

(1977) 

28.

Higashiyama ya
inu
no tooboe
kikoeru
hoka nai

(chỉ còn tiếng chó sủa
trong
khu phố Higashiyama
từ
xa văng vẳng lại)

(1976) 

29.

kawazoi ni
inshokuten
ga narande
waiwai
to sawagu

(tiếng cười nói ồn ào
vang
vọng lên từ những hàng quán 
bên
bờ sông về đêm)

(1976) 

30.

oborozuki no
kasukana hikari
akizakura

(hoa cosmos đỏ thắm
lộng lẫy dưới ánh sáng hắt hiu
của vầng trăng về khuya)

(1977)

 

February, 2024