|
Dòng sông Kamogawa* chảy xuyên qua trung tâm thành
phố Kyoto. Đây là nơi người dân bản xứ
thường đến, nhất là vào mùa hè khi khí hậu nóng và âm ướt.
Thường thì họ ngồi hay đi bộ dọc bờ sông. Một số người thích ngồi ở
Noryo yuka** vừa nhìn hoàng hôn xuống, nghe tiếng suối reo, hóng gió
mát buổi chiều, và vừa thưởng thức những món ăn
đặc sản trong vùng.
Kamogawa có màu nước xanh, bao bọc với bầu trời
xanh và cây cỏ bốn mùa. Kamogawa ma mị với
bóng dáng ẩn hiện của nhiều cây cầu trong những ngày mưa, và những
buổi chiều thành phố đầy sương. Mỗi cây cầu có một sắc thái
riêng, mang lại cho dòng sông một nét đẹp
bí ẩn và thơ mộng. Nhìn về phía xa, thành phố cổ
Higashiyama nằm yên lặng mờ nhạt dưới ánh đèn, hình như đang mang một
nỗi niềm tâm sự thầm kín những lúc đêm về.
Bẵng đi một thời gian khá lâu từ ngày rời vùng
Kansai, tôi trở về thăm lại Kamogawa. Tôi đi lại con dường dọc
theo bờ sông dưới nắng rực trời mây bên
tiếng suối reo vui. Ngày xanh trong gió lộng, với
những kỷ niệm năm xưa quyện kín lối đi về. Con gió mát
nhẹ cho tôi một cảm giác dễ chịu và một sự
bình yên trong tâm hồn. Tĩnh lặng như bước chân
tôi. Âm thầm đi theo âm điệu còn sót
lại của ngày.
Mặc cho năm tháng
vơi đầy, Kamogawa hình như vẫn thế! Vẫn vóc dáng
dịu hiền, cởi mở, đón mời. Vẫn nét nhẹ
nhàng. Thanh thản.
Buông lơi.
“Toki wa
nagarete mo Kamogawa wa kawaranai…”
*)
鴨川
**)
Noryou Yuka (納涼床)
hay gọi đơn giản là Yuka
(床);
dịch nôm na là “sân thượng ngồi hóng gió mát buổi chiều”. Tên chính
thức là Kyouto Kamogawa Nouryou-Yuka (京都鴨川納涼床).
1.
cha no kokoro
haiku no kokoro
tomo no kokoro
(linh
hồn của hương trà
tấm lòng những bạn bè gặp mặt
haiku đậm hồn thơ)
(1976)
2.
shi wo kaki
haiku wo yomi
tomo to tomo ni
(viết
vội vài câu thơ
ngâm nga vài điệu thơ haiku
chung vui cùng bạn bè)
(1976)
3.
pikapika no
hoshizuki ga atsumatte
tanjoubi hanawa
wo tsukuru kana
(trăng
sao sáng long lanh
hội ngộ về đây trên dòng sông này
kết vòng hoa sinh nhật!?)
(1976)
4.
kawa ni sotte
hadashi de aruki
fuuga no michi
(con
đường dọc bờ sông
bước từng bước với đôi chân trần
thanh tao mùi hương đất)
(1976)
5.
Sanjou Oohashi
soyosoyo to fuku
kaze no oto
(con gió thổi nhè nhẹ
qua cầu Sanjo Ohashi
nhỏ to lời tâm sự)
(1976)

Hình bên trái:
Lời đề tựa của chị Satoko trong tập thơ haiku tôi viết và giới thiệu
với mọi người nhân ngày sinh nhật của mình. “Nhóm
thơ”gặp nhau vào ngày hôm ấy bên bờ sông Kamogawa.
Chúng tôi cùng đọc thơ và chuyện trò vui vẻ.
Tia nắng mặt trời cuối đông long lanh trên dòng
sông xanh hòa quyện cùng bầu trời trong xanh cho chúng tôi một cảm
giác nồng nàn và dễ chịu.
Hình bên phải: Dòng sông Kamogawa với
cỏ hoa rực rỡ bốn mùa. Đẹp nhất là vào mùa
xuân với hoa anh đào nở rộ khắp nơi.
Kamogawa còn có rất nhiều cây cầu bắt ngang qua.
Mỗi cây cầu có một sắc thái riêng, mang lại cho
dòng sông một nét đẹp bí ẩn và thơ mộng. Đặc biệt là cầu
Nanojo Ohashi gần Kyoto Tower; cầu Shijo Ohashi dẫn đến downtown
Kawaramachi (河原町)
và cầu Sanjo Ohashi(三条大橋)
do Hideyoshi Toyotomi (豊臣
秀吉)
xây vào thời kỳ Chiến quốc
(Google Images).
6.
oubai to ume
kibishiki samusa
ni taekirete
bi to yuuga
(hoàng
mai và hoa mơ
rực rỡ nở trong cái lạnh cuối đông
thanh tao thắm nét đẹp)
(1976)
7.
kusawara ni
kogane no hizashi
urarakana
(những
tia nắng mặt trời
rọi chiếu trên cánh đồng cỏ xanh
sáng trắng cả một vùng)
(1976)
8.
nikkou ya
nagare ni shikushiku
shimitooru
seseragi no oto
(tia nắng sáng mặt trời
từ từ thấm sâu lòng con nước
tiếng suối chảy đều đều)
(1976)
9.
Ouhashi ga
kasumi no naka ni
miekakure suru
(trong
màn sương mờ ảo
những chiếc cầu lúc ẩn lúc hiện
thấp thoáng trên dòng sông)
(1976)
10.
asa ni saku
yoru ni shibomu
asagao ya
(buổi
sáng nở rực màu
đêm về héo hon và tàn tạ
kiếp hoa asagao)
(1977)
11.
mizutamari
hitori no watashi
ashi no fumu
(một
mình tôi lẻ loi
giẫm lên vũng nước mưa còn sót lại
bọt nước văng tung tóe)
(1977)
12.
ikken dake
no sono machiya ya
samishii ya naa
(một
ngôi nhà thời cổ
đứng lẻ loi bên chiếc bóng thì thầm
chắc buồn nhiều lắm nhỉ!)
(1977)
13.
Kamogawa no ue
ni kakaru Oohashi
kako to no musubi
(những cây cầu theo nhau
bắt qua dòng Kamogawa
kết nối cùng quá khứ)
(1984)
14.
koke darake
no iwa ni nagarekomu
sekijitsu no oto
(con
nước chảy thấm sâu
vào lòng những tảng đá rong rêu
vang âm điệu ngày cũ)
(1984)
15.
Kamogawa no
yogiri no naka ni
kamo no naku
(bầu
trời đêm đầy sương
văng vẳng tiếng kêu đàn vịt trời
trên dòng Kamogawa)
(1984)
16.
harahara to
hara ni tobichiru hana ya
sakura kana
(những
cánh hoa anh đào
lả tả bay phất phơ trong gió
lác đác trên bãi cỏ)
(1977)
17.
mabushii hodo
hi ga kagayaku hodo
yorokobu hodo
(tia nắng mặt trời
rực rỡ
sáng đến nỗi làm chói cả mắt
như niềm vui hôm nay)
(1977)
18.
kaze tsuyoku
sakurafubuki ga
nan yara yukashi
(trong
con gió thổi mạnh
những cánh anh đào
bay như tuyết
tao nhã đẹp tuyệt
vời)
(1977)
19.
Kamogawa ya
Higashiyama ya
yasuraka ya naa
(dòng
Kamogawa
khu phố cổ Higashiyama
cảnh vật thật an bình!)
(1984)
20.
Yuka no yusuzumi
ni mattari shite
kawa wo yuttari to
tanoshimu funiki
(nơi
sân thượng Yuka
bầu không khí thư giãn dễ chịu
hóng gió mát buổi chiều)
(1984)
21.
mizu ni kage
shidarezakura ya
otome no kami
(ngã
bóng trên dòng nước
hàng cây shidarezakura
như làn tóc xõa người con gái)
(1977)
22.
kawagishi ni
yuu moya darake
kawazu nakigoe
(sương chiều bao phủ đầy
bên bờ con sông chầm chậm chảy
tiếng ếch kêu ộp ộp)
23.
ryoute hiroge no
kaze ga seiketsuna asa
wo dakinagara
hazakura ga sarasara
aozora no mizu
(con
gió giang đôi tay
ôm chầm lấy buổi sáng tinh khôi
những cánh lá anh đào
quấn quyện bên nhau rơi lả tả
trên dòng nước xanh màu da trời)
(1977)
24.
yukihana ya
ume no shirosa ya
iro to kaori
(ngàn
bông hoa tuyết rơi
phảng phất đó đây hương nồng nàn
hoa tuyết và hoa mơ)
(1976)
25.
kamo no gaa gaa
nagare no ukishizumu
seseragi no uta
(cất tiếng kêu cạc cạc
đàn vịt bay ngang con nước xoáy
suối nhỏ vang lời ca)
(1976)
26.
kafue no
koohii wo nomi
atatakami
(nhấm
nhí vị cà phê
trong quán cà phê bên góc phố
cảm thấy ấm cả lòng)
(1976)
27.
samidare de
bishonure ni natte
issho no kasa
(trong
cơn mưa tháng sáu
nép vào nhau dưới chiếc dù nhỏ
ướt đẫm cả thân người)
(1977)
28.
Higashiyama ya
inu no tooboe
kikoeru hoka nai
(chỉ
còn tiếng chó sủa
trong khu phố Higashiyama
từ xa văng vẳng lại)
(1976)
29.
kawazoi ni
inshokuten ga narande
waiwai to sawagu
(tiếng
cười nói ồn ào
vang vọng lên từ những hàng quán
bên bờ sông về đêm)
(1976)
30.
oborozuki no
kasukana hikari
akizakura
(hoa cosmos đỏ thắm
lộng lẫy dưới ánh sáng hắt hiu
của vầng trăng về khuya)
(1977)
February, 2024
|