“Đi Theo Vạt Nắng” - Phần 47

Kiyomizudera

Trần Trí Năng

 

Kiyomizudera* là một trong những ngôi chùa Phật giáo lớn và lâu đời nhất ở Nhật Bản. Tọa lạc trên một ngọn đồi về phía đông thành phố Kyoto; ngôi chùa này được xây vào thời Heian (平安時代 , năm 778) và được tu sửa lại bởi Tokugawa Iemitsu (徳川家光) vào năm 1633. Địa điểm đầu tiên du khách nhìn thấy khi bước chân vào khuôn viên chùa là thác nước Otowa-no-taki** – một nguồn nước sạch chảy từ núi Otowa xuống một chiếc hồ nhỏ. Khách thập phương thường đến uống nước này để cầu xin cho sức khỏe, tuổi thọ hay trí tuệ [Hình dưới, bên trái].

Vào mùa thu, từ trên sân thượng của điện Kiyomizudera nhìn về phía những ngọn đồi phía dưới, du khách có thể chiêm ngưỡng những tấm thảm đủ màu đủ sắc. Lúc này, chúng ta mới chính mắt cảm nhận được nét đẹp tuyệt vời của mùa thu Kyoto! (Hình dưới, bên phải). 

Lúc còn học ở Osaka vào giữa thập niên 70’s, thỉnh thoảng tôi cũng đến đây: có lúc để nhìn lá thu “momijigari“; có lúc đi tản bộ trên những con đường dốc lót đá từ Ichinenzaka đến Sannenzaka; hay có khi chỉ vào quán ngồi nhấm nhí cà phê nhìn dòng người qua lại...  

Lần sau cùng chúng tôi đến đây vào năm 2015. Sau một vòng đi thăm viếng các diện thờ, chúng tôi  tiếp tục đi lên đỉnh núi. Những nấc thang nối tiếp nhau như không muốn chấm dứt! Những ngọn đồi nghiêng nghiêng. Người người theo bước chân nhau, vừa đi vừa nói cười vui vẻ. Thành phố Kyoto một lúc sau hiện ra trước mắt. Những tòa nhà lớn nhỏ cao tầng như đang tắm mình dưới nắng. Màu trắng rực sáng làm cho những tòa nhà trông lộng lẫy và tráng lệ hơn. Buổi sáng đầu hè ở đây mát rượi, với mùi cỏ cây nồng nàn. Chúng tôi đi trong màu nắng thênh thang qua những hàng cây còn điểm vết sẹo thời gian. Vài gốc cây khô cằn đâm sâu vào lòng đất như cố níu kéo lại những gì đã qua, hay sắp theo quá khứ đi vào quên lãng. Vạt nắng vẫn thênh thang, hồn nhiên, chân chất. Đi về đâu, những dấu chân lữ thứ chiều nay ở một góc trời tuy xa nhưng không lạ!? Tôi  cảm thấy gần gũi với những khuôn mặt, nụ cười của những người đi ngang qua. Một cái gì làm cho tôi nhớ lại một thời tôi đã sống, đã đi qua...

“…Rồi ngày cứ lên. Và nắng cứ phai. Chân cứ bước đi. Từng bước nhịp nhàng. Như đếm nhịp điệu thời gian chợt đến, chợt tan. Đi trên đồi cao nên gió hơi lành lạnh. Người đón chào người. Tay vẫy tay vui. ” 

Cũng trong lần thăm viếng này, tình cờ chúng tôi khám phá ra tiệm Starbucks ở khu Ninenzaka. Tiệm này nằm trong một ngôi nhà hai tầng nhỏ, trông có vẻ cổ kính. Vì thế rất dễ không để ý khi đi ngang qua. Tuy nhiên, khi vén chiếc rèm nhỏ có logo của Starbucks để đi vào, chúng tôi mới thấy bên trong khá rộng và khang trang với lối trang trí khá độc đáo.  Khách hàng có thể ngồi trong phòng tatami uống trà hay cà phê. Một sự kết hợp hài hòa giữa Đông và Tây.

“...Con đường đi qua dư âm năm xưa vuốt ve ngọt ngào
Cuối ngày chiều lên gió bay hây hây trong lòng phố xưa…”
 

*)清水寺  **)音羽の滝 

1.

Otowa no taki
no mizukokoro to
Ishindenshin*

(thác Otowanoki
hồn nước và lòng tôi hòa nhập
lại cùng chung một dòng)

(1976) 

*) 以心傳心  

2.

renai yara
gakugyou
yara chouju yara
umaku
iku to
yoi
mono yara

(hoặc luyến ái đạt thành,
sự
nghiệp hay tuổi thọ như ý
thì
tốt biết dường nào!)

(1976) 

3.

Emmeisui* ya
Kinshokusui
* ya
mizuoto
no taezu shite
kaori
mo aji mo
bari
bari ee de!

(tiếng nước chảy róc rách
từ
nguồn Emmeisui hay Kinshokusui
hương
vị thật mát thơm)

(1976) 

*) 延命水(Emmeisui),  金色水(Kinshokusu hay Konjikisui):  tên cũ của thác Otowa no taki. 

4.

mizu no nagare
kane ga natte naru

seifuumeigetsu
*

(dòng nước chảy hiền hòa
tiếng
chuông chùa văng vẳng ngân vang
lòng
mát mẻ thanh tịnh)

(1976) 

*) 清風明月

 

     

Hình bên trái: Ba nguồn nước từ thác Otowa-no-taki. Từ phía trước nhìn vào, du khách sẽ thấy dòng trường thọ (延命長寿) ở bên phải, dòng luyến ái viên mãn (恋愛成就)  chính giữa và dòng công danh thành đạt (学業成就) ở bên trái. Du khách có thể dùng một chiếc gáo cán dài làm bằng kim loại để uống cầu nguyện cho sức khỏe, tuổi thọ, hay công danh. Theo người bản xứ, thì mỗi người chỉ được chọn một trong ba nguồn nước mà thôi. Nhớ đừng nên tham lam quá! (Hình người viết chụp vào năm 2015)

Hình bên phải: Kiyomizudera vào mùa thu. Màu lá thu (kouyou) tuyệt đẹp khi đứng nhìn từ trên sân thượng. Cả một vùng đồi đủ sắc màu trải rộng về phía chân trời. Phong cảnh mùa thu hòa với nét cổ kính, thơ mộng và trầm lặng làm cho du khách cảm nhận được nét đẹp thầm kín của Kyoto- cố đô ngàn năm văn vật của Nhật Bản (Google Images). 

5.

butai nite
hana
mo jibun mo
kiyomerarete
kokoro
to kokoro 
ga
ittai wo nasu

(nhìn quanh từ sân thượng
hoa
và lòng mình được gội rửa
cả
hai hòa thành một)

(1977) 

6.

hanabira ya
hana no shibumi
hanagumori

(những cánh hoa anh đào
với vẻ đẹp đơn sơ và huyền diệu
đám mây về đánh dấu cuối mùa xuân)

(1977) 

7.

makkana hana
makkana
taiyou
kogane
no kaze

(hoa anh đào sắc đỏ
mặt
trời lên ánh sáng rực đỏ
gió
vàng đỏ chói lọi)

 (1977) 

8.

amadare ya
ha to osozakura ya
hikarakuyou*

(những hạt mưa tí tách
vài cánh hoa anh đào nở muộn
cùng lá lả tả rơi)

(1977)

*)飛花落葉 

9.

Kiyomizudera ya
kouyou
no Nori
no
houben

(tiếng gió qua rừng thu
ở
chùa Kiyomizudera
truyền
tải lời kinh Pháp)

(1976) 

10.

momijigari
shimijimi
nagamu
kouyou
no Kyouto

(chiêm ngưỡng rừng thu phong
để
sắc lá lắng sâu vào lòng
Kyoto giờ tuyệt đẹp!)

(1976) 

11.

kouyou nagamu
haiku
wo nagamu
monoomoi

ni
fukette iru

(mãi ngắm nhìn rừng thu
nguệch
ngoạc vài câu thơ haiku
mặc
thế giới bên ngoài)

(1976) 

12.

mabushii hodo
kouyou
ni somaru hodo
kaze
no oto

(rừng thu nhuộm sắc thắm
rực
rỡ sáng làm chói cả mắt
văng
vẳng tiếng gió thu)

(1976) 

13.

Higashiyama
uwaa, Higashiyama
machiya ya machiya

(Higashiyama
ô kìa, khu phố Higashiyama
toàn những ngôi nhà cổ)

(2015) 

14.

itakabe no
furui machiya ya
Sutaabukkusu kana

(ngôi nhà cổ cũ kỹ
với những bức tường làm bằng gỗ
Starbucks đây rồi!)

(2015) 

15.

matcha ya koohii no
tatami
zashiki de
isuto
miitsu uesuto*

 (trong phòng tatami
ngồi
nhẩm trà hay uống cà phê
Đông
và Tây gặp gỡ)

(2015) 

*)East Meets West 

16.

machiya ya
koohii  wo susuru

soyokaze
no oto

(ngôi nhấm nhí cà phê
trong
ngôi nhà cổ machiya
tiếng
gió thổi nhè nhẹ)

(2015) 

17.

nihiki no kotori
ga
sekidan wo
tobihanerareru
kotoba
wo sasayaku

(hai chú chim nho nhỏ
nhảy
nhót trên bậc thềm băng đá
líu
lo lời tâm sự)

(2015) 

18.

furui machiya
Higashiyama ya

kagemusha
*

(Higashiyama
khu
machiya còn phảng phất
bóng
hình những kiếm khách)

(2015) 

*) Nhan đề của một cuốn phim do Akira Kurosawa làm đạo diễn vào năm 1980. 

19.

nobotte mo
nobotte mo
reiu no sekkai

(từng bước từng bước chân
cứ tiếp tục leo lên đi trên
những bậc thang trong cơn mưa lạnh)

(2015) 

20.

Sannenzaka* no
kotta
sakamichi ya
hitori
nokori watashi

(còn lại tôi với tôi
trên
  con đường dốc đông đá
khu
Sannenzaka)

 (1976) 

*) 三年坂 

21.

momiji chiri
ishidatami ni 
chira chira

(những chiếc lá phong đỏ
lả tả rơi trên bậc thang bằng đá
lác đác khắp mọi nơi)

(1976) 

22.

ume ga saku
yukibana ga saku
hanazakari no asa

(hoa mơ đang nở rộ
cùng hoa tuyết trải rộng khắp nơi
rực rỡ buổi sáng về)

(1978) 

23.

aozora ni
umefubuki
ya
kazahana
kana

(trong nền trời màu xanh
những
đóa hoa mơ tung bay khắp nơi
trông
giống những bông tuyết)

(1978) 

24.

hizashi hana
shidareume* hana
yuugen to shibumi

(hoa nắng bay phất phơ
bên hoa mơ shidareume
huyền diệu và thầm kín)

(1978) 

*)  枝垂れ梅 

25.

min min no
sasayakigoe
kanakana kana

(tiếng min min inh ỏi
lời trao lời nhau réo gọi bạn
đâu đây một bầy dế)

(1977) 

26.

kitsutsuki no
oto wo kikinagara
zansho wo wasurechatta

(khi nghe những tiếng gõ
của chú chim gõ mõ vọng lại
quên bẵng cái nóng hè)

(1977) 

27.

yukiakari ya
umeakari ya
michi wo terasu

(ánh sáng của hoa tuyết
cùng với ánh sáng của hoa mơ
soi sáng con đường mòn)

(1978) 

28.

yaeume no
ichimai no ha ya
chita bakari

(một cánh lá của
cây mơ yaeume
vửa rơi xuống mặt đường)

(1978) 

29.

shidareume
no
kami no nagare
shoshun
no asa

(cây mơ shidareume
đong
đưa như suối tóc trải dài
một
buổi sáng đầu xuân)

(1978) 

 
30.

asayake ya
mabushisugiru hodo

umeakari

(vào lúc buổi sáng sớm
mặt
trời cùng màu sắc hoa mơ
rực
sáng chói cả mắt)

(1978)

 

Mùa Giáng Sinh 2023