|
Kiyomizudera* là một trong những ngôi chùa Phật giáo lớn và lâu đời
nhất ở Nhật Bản. Tọa lạc trên một ngọn đồi về phía đông thành phố
Kyoto; ngôi chùa này được xây vào thời Heian (平安時代
, năm 778) và được tu
sửa lại bởi Tokugawa Iemitsu (徳川家光)
vào năm 1633. Địa điểm đầu tiên du khách nhìn thấy khi bước chân vào
khuôn viên chùa là thác nước Otowa-no-taki** – một nguồn nước sạch
chảy từ núi Otowa xuống một chiếc hồ nhỏ. Khách thập phương thường đến
uống nước này để cầu xin cho sức khỏe, tuổi thọ hay trí tuệ [Hình
dưới, bên trái].
Vào mùa thu, từ trên sân
thượng của điện Kiyomizudera nhìn về phía những ngọn đồi phía dưới, du
khách có thể chiêm ngưỡng những tấm thảm đủ màu đủ sắc. Lúc này, chúng
ta mới chính mắt cảm nhận được nét đẹp tuyệt vời của mùa thu Kyoto!
(Hình dưới, bên phải).
Lúc còn học ở Osaka vào giữa
thập niên 70’s, thỉnh thoảng tôi cũng đến đây: có lúc để nhìn lá thu
“momijigari“; có lúc đi tản bộ trên những con đường dốc lót đá từ
Ichinenzaka đến Sannenzaka; hay có khi chỉ vào quán ngồi nhấm nhí cà
phê nhìn dòng người qua lại...
Lần sau cùng chúng tôi đến đây
vào năm 2015. Sau một vòng đi thăm viếng các diện thờ,
chúng tôi tiếp tục đi lên đỉnh núi.
Những nấc thang
nối tiếp nhau như không muốn chấm dứt! Những ngọn đồi nghiêng nghiêng.
Người người theo bước chân nhau, vừa đi vừa nói cười vui vẻ.
Thành
phố Kyoto một lúc sau hiện ra trước mắt.
Những tòa nhà lớn nhỏ cao tầng
như đang tắm mình dưới nắng. Màu trắng rực sáng làm cho những tòa nhà
trông lộng lẫy và tráng lệ hơn. Buổi sáng đầu hè ở đây mát
rượi, với mùi cỏ cây nồng nàn. Chúng tôi đi trong màu nắng thênh thang
qua những hàng cây còn điểm vết sẹo thời gian. Vài gốc cây khô cằn đâm
sâu vào lòng đất như cố níu kéo lại những gì đã qua, hay sắp theo quá
khứ đi vào quên lãng. Vạt nắng vẫn thênh thang, hồn nhiên, chân chất.
Đi về đâu, những dấu chân lữ thứ chiều nay ở một góc trời tuy xa nhưng
không lạ!? Tôi cảm thấy gần gũi với những khuôn mặt, nụ cười của
những người đi ngang qua. Một cái gì làm cho tôi nhớ lại một thời tôi
đã sống, đã đi qua...
“…Rồi ngày cứ
lên. Và nắng cứ phai. Chân cứ bước đi. Từng bước nhịp nhàng. Như đếm
nhịp điệu thời gian chợt đến, chợt tan. Đi trên đồi cao nên gió hơi
lành lạnh. Người đón chào người. Tay vẫy tay vui. ”
Cũng trong lần thăm viếng này,
tình cờ chúng tôi khám phá ra tiệm Starbucks ở khu Ninenzaka. Tiệm này
nằm trong một ngôi nhà hai tầng nhỏ, trông có vẻ cổ kính. Vì thế rất
dễ không để ý khi đi ngang qua. Tuy nhiên, khi vén chiếc rèm nhỏ có
logo của Starbucks để đi vào, chúng tôi mới thấy bên trong khá rộng và
khang trang với lối trang trí khá độc đáo. Khách hàng có thể ngồi
trong phòng tatami uống trà hay cà phê. Một sự kết hợp hài hòa giữa
Đông và Tây.
“...Con đường đi qua dư âm năm
xưa vuốt ve ngọt ngào
Cuối ngày chiều lên gió bay hây hây trong lòng phố xưa…”
*)清水寺
**)音羽の滝
1.
Otowa
no taki
no mizukokoro to
Ishindenshin*
(thác Otowanoki
hồn nước và lòng tôi hòa nhập
lại cùng chung một dòng)
(1976)
*)
以心傳心
2.
renai
yara
gakugyou
yara chouju
yara
umaku
iku to
yoi mono
yara
(hoặc
luyến ái
đạt thành,
sự
nghiệp hay tuổi
thọ như ý
thì
tốt biết
dường nào!)
(1976)
3.
Emmeisui*
ya
Kinshokusui*
ya
mizuoto no
taezu shite
kaori mo
aji mo
bari
bari
ee de!
(tiếng
nước chảy
róc rách
từ
nguồn Emmeisui
hay Kinshokusui
hương
vị thật
mát thơm)
(1976)
*)
延命水(Emmeisui),
金色水(Kinshokusu
hay Konjikisui): tên
cũ của
thác Otowa no
taki.
4.
mizu
no nagare
kane ga natte naru
seifuumeigetsu*
(dòng
nước chảy
hiền hòa
tiếng
chuông chùa
văng vẳng
ngân vang
lòng
mát mẻ
thanh tịnh)
(1976)
*)
清風明月

Hình bên trái: Ba nguồn nước từ thác Otowa-no-taki.
Từ phía trước nhìn vào, du khách sẽ thấy dòng trường thọ (延命長寿)
ở bên phải,
dòng luyến ái viên mãn (恋愛成就)
chính giữa và dòng công danh thành đạt (学業成就)
ở bên trái.
Du khách có thể dùng một
chiếc gáo cán dài làm bằng kim loại để uống cầu nguyện cho sức khỏe,
tuổi thọ, hay công danh. Theo người bản xứ, thì mỗi người chỉ được
chọn một trong ba nguồn nước mà thôi. Nhớ đừng nên tham lam quá! (Hình
người viết chụp vào năm 2015)
Hình bên phải: Kiyomizudera
vào mùa thu. Màu lá thu (kouyou) tuyệt đẹp khi đứng nhìn từ trên sân
thượng. Cả một vùng đồi đủ sắc màu trải rộng về phía chân trời. Phong
cảnh mùa thu hòa với nét cổ kính, thơ mộng và trầm lặng làm cho du
khách cảm nhận được nét đẹp thầm kín của Kyoto- cố đô ngàn năm văn vật
của Nhật Bản (Google Images).
5.
butai
nite
hana mo
jibun mo
kiyomerarete
kokoro to
kokoro
ga
ittai wo
nasu
(nhìn
quanh từ
sân thượng
hoa
và lòng
mình được
gội rửa
cả
hai hòa
thành một)
(1977)
6.
hanabira ya
hana no shibumi
hanagumori
(những cánh hoa anh đào
với vẻ đẹp đơn sơ và huyền diệu
đám mây về đánh dấu cuối mùa xuân)
(1977)
7.
makkana hana
makkana
taiyou
kogane no
kaze
(hoa
anh đào
sắc đỏ
mặt
trời lên
ánh sáng
rực đỏ
gió
vàng đỏ
chói lọi)
(1977)
8.
amadare ya
ha to osozakura ya
hikarakuyou*
(những hạt mưa tí tách
vài cánh hoa anh đào nở muộn
cùng lá lả tả rơi)
(1977)
*)飛花落葉
9.
Kiyomizudera
ya
kouyou no
Nori
no
houben
(tiếng
gió qua rừng
thu
ở
chùa Kiyomizudera
truyền
tải lời
kinh Pháp)
(1976)
10.
momijigari
shimijimi
nagamu
kouyou no
Kyouto
(chiêm
ngưỡng rừng
thu phong
để
sắc lá
lắng sâu
vào lòng
Kyoto giờ tuyệt
đẹp!)
(1976)
11.
kouyou
nagamu
haiku
wo nagamu
monoomoi
ni
fukette iru
(mãi
ngắm nhìn
rừng thu
nguệch
ngoạc vài
câu thơ haiku
mặc
thế giới
bên ngoài)
(1976)
12.
mabushii hodo
kouyou
ni somaru
hodo
kaze
no oto
(rừng
thu nhuộm
sắc thắm
rực
rỡ sáng
làm chói
cả mắt
văng
vẳng tiếng
gió thu)
(1976)
13.
Higashiyama
uwaa, Higashiyama
machiya ya machiya
(Higashiyama
ô kìa, khu phố Higashiyama
toàn những ngôi nhà cổ)
(2015)
14.
itakabe no
furui machiya ya
Sutaabukkusu kana
(ngôi nhà cổ cũ kỹ
với những bức tường làm bằng gỗ
Starbucks đây rồi!)
(2015)
15.
matcha
ya koohii no
tatami
zashiki de
isuto
miitsu uesuto*
(trong
phòng tatami
ngồi
nhẩm trà hay
uống cà
phê
Đông
và Tây
gặp gỡ)
(2015)
*)East
Meets West
16.
machiya ya
koohii wo susuru
soyokaze no
oto
(ngôi
nhấm nhí
cà phê
trong
ngôi nhà
cổ machiya
tiếng
gió thổi
nhè nhẹ)
(2015)
17.
nihiki
no kotori
ga
sekidan wo
tobihanerareru
kotoba
wo sasayaku
(hai
chú chim
nho nhỏ
nhảy
nhót trên
bậc thềm
băng đá
líu lo
lời tâm
sự)
(2015)
18.
furui
machiya
Higashiyama ya
kagemusha*
(Higashiyama
khu
machiya còn
phảng phất
bóng
hình những
kiếm khách)
(2015)
*) Nhan
đề của
một cuốn
phim do Akira Kurosawa
làm đạo
diễn vào
năm 1980.
19.
nobotte mo
nobotte mo
reiu no sekkai
(từng bước từng bước chân
cứ tiếp tục leo lên đi trên
những bậc thang trong cơn mưa lạnh)
(2015)
20.
Sannenzaka*
no
kotta
sakamichi ya
hitori
nokori watashi
(còn
lại tôi
với tôi
trên
con
đường dốc
đông đá
khu
Sannenzaka)
(1976)
*)
三年坂
21.
momiji chiri
ishidatami ni
chira chira
(những chiếc lá phong đỏ
lả tả rơi trên bậc thang bằng đá
lác đác khắp mọi nơi)
(1976)
22.
ume ga saku
yukibana ga saku
hanazakari no asa
(hoa mơ đang nở rộ
cùng hoa tuyết trải rộng khắp nơi
rực rỡ buổi sáng về)
(1978)
23.
aozora
ni
umefubuki
ya
kazahana kana
(trong
nền trời
màu xanh
những
đóa hoa
mơ tung bay
khắp nơi
trông
giống những
bông tuyết)
(1978)
24.
hizashi hana
shidareume* hana
yuugen to shibumi
(hoa nắng bay phất phơ
bên hoa mơ shidareume
huyền diệu và thầm kín)
(1978)
*)
枝垂れ梅
25.
min min no
sasayakigoe
kanakana kana
(tiếng min min inh ỏi
lời trao lời nhau réo gọi bạn
đâu đây một bầy dế)
(1977)
26.
kitsutsuki no
oto wo kikinagara
zansho wo wasurechatta
(khi nghe những tiếng gõ
của chú chim gõ mõ vọng lại
quên bẵng cái nóng hè)
(1977)
27.
yukiakari ya
umeakari ya
michi wo terasu
(ánh sáng của hoa tuyết
cùng với ánh sáng của hoa mơ
soi sáng con đường mòn)
(1978)
28.
yaeume no
ichimai no ha ya
chita bakari
(một cánh lá của
cây mơ yaeume
vửa rơi xuống mặt đường)
(1978)
29.
shidareume
no
kami no nagare
shoshun no
asa
(cây
mơ shidareume
đong
đưa như
suối tóc
trải dài
một
buổi sáng
đầu xuân)
(1978)
30.
asayake ya
mabushisugiru hodo
umeakari
(vào
lúc buổi
sáng sớm
mặt
trời cùng
màu sắc
hoa mơ
rực
sáng chói
cả mắt)
(1978)
Mùa
Giáng Sinh
2023
|