“Đi Theo Vạt Nắng” - Phần 18

Haiku về Shimonoseki

Trần Trí Năng
 

 

Shimonoseki là thành phố lớn nhất của tỉnh Yamaguchi. Thành phố này được bao bọc từ ba phía với Setonaikai (the Seto Inland Sea), Hibikinada Sea Nihonkai (the Sea of Japan). Phong cảnh của Shimonoseki khá đẹp với núi Hinoyama đảo Tsunoshima cát trắng. nhiều công viên nơi thăm viếng nằm gần cầu Kanmon (H́nh 1), rất thuận lợi cho du khách đến thăm.   

 H́nh 1. Kanmon là nhịp cầu kết nối thân thương giữa Shimonoseki (Honshu) và Moji (Kyushu)- Getty Images.

Shimonoseki  c̣n được mênh danh là ”Thủ đô cá nóc (fugu)” v́ thành phố cung cấp hầu hết cá nóc trên toàn nước Nhật. Chúng tôi có đến chợ cá Karato vài lần. Chợ này mở cửa vào cuối tuần hay ngày lễ. Mọi người có thể mua fugu sushi hay các món ăn với những loại cá khác vừa mới bắt được trong ngày. Chúng tôi cũng có dịp thưởng thức kawara soba - 瓦そば. Đây là món ḿ đặc sản của vùng này và được dọn trên tấm ngói kawara- môt loại ngói thường được dùng ở những jookamachi ngày xưa.   

1.

harusame ni
ichirin
ichirin no hana
haru
no uta

(trong cơn mưa đầu xuân
từng
cánh lại từng cánh hoa tươi
hát
chào mùa xuân tới!)

(1972)

 

2.

kira kira to
hikatteru
egao
Kanmon
Kyoo

(nụ cười thật rạng rỡ
lấp
lánh trên khuôn mặt mộng
Kanmon
Kyoo)

(1972)

 

3.

mangetsu no sora
Orihime
to Ushikai
Amanogawa

(Ngưu Lang Chức Nữ
bầu
trời trong lấp lánh dải Ngân
trăng
tṛn/ trăng đêm nay!)

 (1973)

 

4.

mado kara mite
kodama
ka hotaru ka
aki
no yoru

(qua cánh cửa sổ nhà
Kodama*)  hay đàn đom đóm

một
buổi tối mùa thu)

(1973)

*) linh hồn của cây

 

5.

umibe ya
nikkoo
yoku shite
yotteta
no da!

(nằm trên triền biển sóng
tắm
ḿnh dưới ánh nắng mặt trời
ḷng
ngây ngây ngất say!)

(1973)

 

6.

akabara
shirobara
iroirona
bara
haru
no asa

(hoa hồng đỏ
hoa
hồng trắng
đủ
loại hồng
trong
buổi sáng mùa xuân)

 (1973)

 

7.

Kameyama ni
kazari no ema ya
torii akaki

(đền Kameyama
treo đầy rẫy những h́nh ema*)
cổng vào màu đỏ chói)

  (1973)

Ngôi đền Kameyama Hachimangu (亀山八幡宮)

*) Ema: tấm gỗ dùng để viết những lời cầu xin treo ở các ngôi đền.  

 

8.

Fugu Matsuri
hito ikiki suru
fugu wa rusu kana!

 (ngày Lễ hội cá nóc
người theo người lại lại qua qua
cá nóc như vắng nhà!?)

(1973)

 

9.

momiji chiru
kaze ga hidoku fukitsure
momijigari!

(cánh momiji rơi
cơn gió mạnh vừa thổi ngang qua
ngắm hoa đỏ rực màu!)

(1973)

 

10.

shiroi suna
Tsunoshima Biichi
burabura ni

(triền cát dài trắng xóa
nơi băi biển Tsunoshima
đôi chân bước lạc loài)

 (1973)

 

11.

potsupotsu to
ame ga futte iru
Kinzankozanji *)

(rơi... rơi...rơi từng giọt
cơn mưa trở về nơi ngôi đền
Kinzankozanji)

(1973)

*) Kinzan Kōzan-ji (金山功山寺) là một ngôi đền của trường phái Sōtō ở Shimonoseki.  

 

12.

uminobe ya
hitostubu hitotsubu no suna
ashi ni tsuku

(đi dọc theo băi biển
từng hạt từng hạt cát dính chân
lớn bé đủ sắc màu)

(1973)

 

13.

hahanaru shizen ni
kawakaze
samumi
natsukashiki
!*)

(trong ḷng mẹ thiên nhiên
cơn
gió sông thổi ngang lành lạnh
nhớ
bài hát năm nào!)

(1973)

*)NatsukashikiTên một bài hát của Kyu Sakamoto.

 

14.

aa, kosame ga kita!
chirimatte shimatta
hana to hana.

(ô ḱa, cơn mưa phùn
lá hoa theo gió rụng tơi bời
những cánh anh đào rơi!)

(1973)

 

15.

Choyo no Sekku
kugatsu
kunichi
kiku
no hana!

(vào ngày chín tháng chín
muôn sắc hoa đua nở rực trời
Ngày lễ hội hoa cúc!)

(1974)

 

16.

mikazuki
sora
ni hoshi naki
boku
hitori

(c̣n đây vầng trăng khuyết
bầu
trời hôm nay không sao
lang
thang tôi một ḿnh!)

(1974)

 

17.

suzukaze ya
samidare
no naka*)
hizashi
mabara ni

(trong cơn mưa tháng sáu
con
gió mát d́u dịu thổi về
sợi
nắng vàng lưa thưa!)

(1974) 

*Samidare: nguyên bản cơn mưa tháng năm, theo âm lịch.

 

18.

tabine shite
kigen
ga yokute
Shimonoseki
!

(đêm nay ngủ xa nhà
cảm
thấy ḷng nhẹ nhàng hoan ca
Shimonoseki
!)

(1974)

 

19.

tasogare no
ashinami
wo sonoete
me
wo mitsumeau

 (trời chiều về hoàng hôn
bước
chân quyện nhau theo con sóng
t́m
mặt nhau đôi mắt nh́n nhau)

(1974) 

 

20.

jooshahissui*)
Heike Monogatari

kaze
no mae no chiri!

(cuối cùng cũng sụp đổ
quyền
lực như hạt bụi trước gió
Heike monogatari**)

(1974) 

*)盛者必衰: quyền lực cuối cùng rồi cũng sụp đổ

**) Heike Monogatari (平家物語) , do nhà   Kakuichi biên soạn lại vào năm 1371. Bài viết này nói về Genpi War giữa Taira clan Minamoto clan (1180- 1185) [1]

[1]https://en.wikipedia.org/wiki/Genpei_War

 

21.

Heike ondo
taiko
to kakegoe
Heike odori

(Heike ondo*)
tiếng
trống kakegoe**)
điệu
Obon nhịp nhàng)

(1974)

*) Bài folk song từ vùng Shimonoseki. Bài này diễn tả về “The Battle of Dan-no-ura”, trận chiến chính nhất của Genpei War, xảy ra ngay tại eo biển Shimonoseki.

**) Kakegoe: tiếng hét gọi thường dùng trong Bon odori, Kabuki ngay cả trong thuật (kiai).

 

22.

haru moya
kigi
wo nagamururu
shinpiteki
ni!

(qua màn sương xuân
đưa
mắt nh́n hàng cây bên đường
ẩn
tàng vẻ thần !)

 (1975)

 

23.

hanagasumi
komorebi
no taba
haru
no asa

(muôn cánh hoa anh đào
chùm
nắng qua màn hoa như tuyết
sáng
mùa xuân mới về!)

(1975)

 

24.

aishuu no toki
uta
wo kuchizusamuru
onaji
melodii

(những lúc cảm thấy buồn
tôi
thường ngêu ngao bài enka
một
 âm điệu hát hoài!)

(1975)

 

25.

chiru momiji
otera no chikaki
hibiku kane

(cánh momiji rụng
từ một ngôi đền vùng lân cận
tiếng chuông ngân vọng dài)

(1975)

 

26.

fugusashimi
oishiku tabete
kesa mesame

(ăn ngon ăn thật ngon
sashimi cá nóc tươi ngon
mở mắt ḿnh vẫn c̣n!)

(1975)

 

27.

 mangetsu wo nonde
yopparaichyatte
yume
ka genjitsu?!

(ngồi uống ánh trăng tṛn
hôm
nay ta say/ say mất rồi
giấc
hay hiện thực?!)

(1975)

 

28.

natsubate ni
suzushiku
narite
fuurin
no oto!

(cái nóng oi bức
bỗng
trở nên mát mẻ dễ chịu
tiếng
chuông gió vang đều!)

(1975)

 

29.

zansho mimai*)
wazuka
no shinboo de
aki
chikaki

(zansho mimai
chịu
đựng thêm vài tuần lễ nữa
mùa
thu rồi sẽ về!)

*) người Nhật tục lệ hỏi thăm sức khỏe của nhau bằng cách gửi tấm cạtzansho mimaitrong khoảng thời gian từ cuối tháng bảy đến đầu tháng tám vào lúc gần cuối .

 

30.

mushiatsuki
kakigoori
kutte
kimochi
ii!

(trời oi bức khó chịu
uống
được một ly nước đá nhận
người
cảm thấy khỏe ghê!)

(1975)

 

May 27, 2022