|
Lược Sử Giáo Phận Đà Nẵng
Nh́n vào trang sử h́nh thành và phát triển của các giáo phận ở
Việt Nam, giáo phận Đà Nẵng được thiết lập năm 1963, là một trong
các giáo phận đàn em, nhưng Đà Nẵng là nơi đóng góp những trang sử
đầu, chính thức khai mở công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, đặc biệt
tại Đàng Trong. Sự kiện ngày 18-1-1615, ba thừa sai ḍng Tên, dẫn
đầu là cha F. Buzomi đặt chân lên đất Cửa Hàn, Hội An, và tháng
7-1615 lên Quảng Nam bắt đầu công cuộc truyền giáo.
Ngày 18-1-1615, tàu Bồ Đào Nha từ Macao cập bến Đà Nẵng, chở hai
linh mục ḍng Tên là cha Francesco Buzomi (Ư), cha Diego Carvalho (Bồ
Đào Nha) và thầy António Dias (Bồ Đào Nha), hay thầy Giuse và Phaolô
(Nhật) đến Cửa Hàn (tên cũ của Đà Nẵng), rồi vào Hội An (Hải Phố)
truyền giáo. Lễ Phục Sinh năm 1615, các cha rửa tội cho 10 người tại
nhà nguyện cở Cửa Hàn. Phái đoàn lập cư sở đầu tiên tại Hội An. Sau
đó, các ngài lập thêm các cư sở Thanh Chiêm, Nước Mặn (Quy Nhơn).
Năm 1640, linh mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) trở lại để thay
cha Buzomi điều khiển công việc truyền giáo tại đây. Cha Đắc Lộ lập
hội Thầy Giảng để chăm sóc các họ đạo và như để thay thế các ngài
trong nhiều trường hợp. Nổi bật là thầy Anrê Phú Yên đă chết để làm
chứng cho Chúa tại Phước Kiều (nay là họ đạo Phước Kiều, thuộc giáo
xứ Vĩnh Điện) ngày 26-7-1644. Chân Phước Anrê Phú Yên là vị chứng
nhân chứng tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam. Năm 1654, cha Đắc Lộ bị
trục xuất và rời khỏi Đàng Trong.
Năm 1659, Ṭa Thánh thành lập hai giáo phận ở Việt Nam, Đà Nẵng
thuộc giáo phận Đàng trong do Đức cha P. Lambert de la Motte làm đại
diện tông ṭa đầu tiên, khi đó Đà Nẵng đă có nhiều cư sở, giáo xứ do
các cha ḍng Tên coi sóc. Tháng 12-1671, Đức cha Lambert de la Motte
tới thăm mục vụ tại vùng đất Đà Nẵng, tháng 1-1672 ngài tổ chức công
nghị tại Hội An.
Năm 1844, Ṭa Thánh chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận
Đông và Tây, Đà Nẵng thuộc giáo phận Đông Đàng Trong, trở thành một
trong những trung tâm truyền giáo mạnh nhất của giáo đoàn Đàng Trong
(từ sông Gianh trở vào), nơi dừng chân hoặc nơi ẩn náu cho các nhà
truyền giáo. Từ năm 1684, Hội An là nơi an nghỉ của Đức cha Guilaume
Mahot (1-6-1684), Đức cha F. Perez qua đời vào tháng 7-1729 ở Mỹ
Xuyên (Kẻ Thá), Đức cha Valère Rist làm phó giám mục, mất ở Hội An
năm 1737.
Năm 1850, Ṭa Thánh chia giáo phận Đông Đàng Trong thành giáo
phận Đông và Bắc, vùng đất Đà Nẵng thuộc giáo phận Đông. Thời kỳ
này, hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân phải chịu đau khổ do các vua
Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức cấm đạo. Năm 1885, khi phong trào Văn
Thân bách hại ở Quảng Nam có 5,428 giáo hữu bị chết, riêng tại giáo
xứ An Sơn và Vân Đơa, 400 giáo hữu bị thiêu sống trong nhà thờ hoặc
chôn sống hay quăng xuống giếng. Từ Phú Thượng, giáo hữu tiếp viện
và giải thoát cho Trà Kiệu và Trung Tín. Ở Trà Kiệu, để ghi ơn muôn
đời, giáo hữu dựng trên đỉnh ḥn Bửu Châu (ḥn Trọc) một đền thờ
dâng kính "Nữ Vương Phù Hộ Các Giáo Hữu". Năm 1960, Đà Nẵng có
82,000 giáo dân (trong đó 1/3 là giáo dân từ miền Bắc di cư vào
(1954) và 1/3 là tân ṭng).
Ngày 18-1-1963, Đức Thánh Cha Gioan XXIII ban Sắc Chỉ In Vitae
Naturalis Similitudinem, thành lập giáo phận Đà Nẵng, tách từ giáo
phận Quy Nhơn, gồm tỉnh Quảng Tín (cũ), tỉnh Quảng Nam và thành phố
Đà Nẵng. Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi làm giám mục tiên khởi. Ngài đă
cho xây dựng các cơ sở của giáo phận như ṭa giám mục, nhà hưu dưỡng
linh mục, Tiểu Chủng Viện Thánh Gioan, tu viện các thầy ḍng Gioan
Thiên Chúa, bệnh viện An B́nh ở An Thượng, Đại Chủng Viện Ḥa B́nh
và trường huấn nghiệp ở Ḥa Khánh. Tất cả các cơ sở trên đă được nhà
nước quản lư. Khi thành lập, giáo phận có 90,000 giáo dân, 58 linh
mục, 200 nữ tu và 30 chủng sinh học tại Chủng Viện Quy Nhơn và các
chủng viện khác.
Năm 1975, Đà Nẵng có trên 100,000 giáo dân, 105 linh mục (trong
đó có 6 linh mục ngoại quốc), 73 đại chủng sinh theo học tại các đại
chủng viện Huế, Ḥa B́nh (Ḥa Khánh), Đà Lạt, và 238 tiểu chủng
sinh, 308 nữ tu.
Từ năm 1975, một nửa số giáo dân đă bỏ đi lập nghiệp ở các tỉnh
phía Nam, đông nhất là Xuân Lộc, B́nh Tuy và Buôn Ma Thuột. Các vị
thừa sai về nước, một số linh mục nhập các giáo phận phía Nam. Đức
cha Phêrô Phạm Ngọc Chi hưu tại Trà Kiệu và mất ngày 21-1-1988.
Đức cha phó Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách lên cai quản giáo
phận từ năm 1988-2000. Ngài đă cho tu sửa nhiều thánh đường trong
giáo phận, tích cực trợ giúp những nạn nhân bảo lụt và các bệnh nhân
nghèo. Ngày 7-11-2000, ngài nghỉ hưu và Đức cha Phaolô Tịnh Nguyễn
B́nh Tĩnh lên thay.
B. Địa Lư và Dân Số
Ranh giới giáo phận: Giáo phận Đà Nẵng gồm thành phố Đà Nẵng và
tỉnh Quảng Nam. Bắc giáp Thừa Thiên Huế, Đông giáp biển Đông, Tây là
dăy Trường Sơn tạo nên biên giới Lào - Việt Nam giáp Kontum và Quảng
Ngăi.
Diện tích: 11,691 km2 với dân số 2,132,234 người.
Đa số dân làm nông nghiệp, trừ thành phố Đà Nẵng có một số làm
thợ thủ công, c̣n dân cư sống dọc theo bờ biển làm nghề đánh cá.
Sông Thu Bồn và sông Vu Gia là hai con sông lớn nằm trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam. Bà Nà - Núi Chùa, cao 1,480m, là điểm tham quan du
lịch và là nơi nghỉ mát lư tưởng. Ḥn Kẽm, Đá Dừng, Ngũ Hành Sơn
(Non Nước): là những điểm tham quan du lịch. Phố cổ Hội An, nơi đặt
những bước chân đầu tiên của các vị truyền giáo đầu thế kỷ XVII, là
cái nôi của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
Sắc tộc: các dân tộc thiểu số khoảng 70,000 người thuộc nhóm Hệ
Môn - Khơ Me như Cơ Tu, Co, Xơ Đăng, Gié Triêng (Thống kê 1999).
Nhà thờ Đà Nẵng. Nguồn : http://www.danang.gov.vn
|
|