Nhà thờ Chính Ṭa Thái B́nh

 

Vào năm 1906, khi Thái B́nh c̣n nằm trong địa phận Trung, Cố Tây Ban Nha An-rê Kiên (Andres Kiên) đă lănh trách nhiệm chỉ đạo việc xây cất ngôi Thánh đường với chiều dài c̣n rất hạn chế.

Năm 1936, Toà Thánh tách Thái B́nh và Hưng Yên ra khỏi Giáo Phận Bùi Chu, thành lập Giáo phận mới. Cha Ca-sa-đô Thuận, thuộc ḍng Đaminh, được Toà Thánh tấn phong giám mục cai quản địa phận mới. Ngài là vị Giám mục đại diện tông ṭa tiên khởi (vicarius Apostolicus) của Toà Giám Mục và địa phận Thái B́nh.

Vào năm 1937, khi giáo phận vừa được sinh ra từ giáo phận mẹ Bùi Chu, ngôi thánh đường xứ thị xă Thái B́nh trở thành Nhà Thờ Chính Ṭa của giáo phận. Đức Giám mục đại diện tông ṭa tiên khởi, Gio-an Ca-sa-đô Thuận, truyền cho Cố Tây Ban Nha là Ren-ghen (Rengel) Lễ, lúc bấy giờ là cha sở xứ Thái B́nh, đốc công xây cất thêm phần nhà thờ từ cánh Thánh giá trở lên. Ngài cũng cho lập bàn thờ sơn son thiếp vàng, làm cho ngôi thánh đường trở nên bề thế và khang trang hơn nhiều, xứng với tầm vóc của ngôi Thánh đường Mẹ.

Thời điểm ngôi thánh đường Nhà thờ Chính Ṭa được xây dựng (1936), thị xă Thái B́nh mới chỉ có một vài ṭa nhà cao tầng; thế nên, cùng với cơ sở nhà ba tầng của Ṭa Giám mục, lúc bấy giờ, ngôi nhà thờ đă từng là một trong những công tŕnh bề thế vào bậc nhất trong thị xă Thái B́nh nhỏ bé. Nằm cạnh ḍng sông Trà Lư hiền ḥa, qua năm tháng vẫn kiên nhẫn chở phù sa về bồi đắp cho ḷng đất mẹ, ngôi nhà thờ lại càng trở nên bề thế và uy nghi. Thánh đường đă cùng với ḍng sông ấy chứng kiến những mất mát, đau thương trong những năm chiến tranh, cũng như chung hưởng niềm vui chiến thắng của con dân thị xă Thái B́nh. Cũng kể từ đó, từng nhịp thở, từng bước đi của nhà thờ đều gắn liền với nhịp sống không phải của riêng chi thể giáo xứ thị xă Thái B́nh nữa mà với toàn thân giáo phận. Mọi biến cố thăng trầm, mọi thay đổi thời cuộc, mọi sinh hoạt của giáo dân đều được ảnh hưởng, được chia sẻ chung phần ở nơi đây. .........

........... Rồi chiến tranh cũng qua đi, ḥa b́nh lại trở về trên mảnh đất mẹ. Thái B́nh trở về đúng với cái tên của nó. Nhà thờ Chính Ṭa lại trở nên náo nhiệt với những cuộc đại lễ diễn ra giữa những hoa đăng rực rỡ, tưng bừng.

Ngày 13 tháng 10 năm 2007,  25 Đức Giám mục, các linh mục trong các giáo phận và đông đảo cộng đoàn Dân Chúa trong nước cũng như hải ngoại về chia vui với giáo phận Thái B́nh và tham dự nghi thức cắt băng khánh thành, cung hiến Nhà thờ chính ṭa và thánh lễ tạ ơn. Dưới đây là vài h́nh ảnh nhá thờ chính ṭa Thái B́nh. Có thể xem thêm về nhà thờ này ở cuối trang.

 

 

 

 

 

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                   

 

 

 

                   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

    

 

 

 

    

 

 

 

 

 

    

 

 

 

 

 

 

 

 

GIỚI THIỆU VỀ NGÔI THÁNH ĐƯỜNG NHÀ THỜ CHÍNH T̉A MỚI
I - TỔNG QUAN Tọa lạc trên một khu đất rộng chừng 1.500m2, Nhà thờ Chính Ṭa Thái B́nh được thiết kế theo lối kiến trúc Gothique kết hợp với phong cách kiến trúc Phương Đông pha chút hiện đại, tạo thành một tổng thể hài ḥa. V́ thế, ngôi thánh đường mới vẫn giữ được nét truyền thống của một ngôi nhà thờ Phương Tây, với hai tháp đối xứng, đồng thời, cũng mang phong cách Phương Đông với mái cong, cột tṛn, con sơn được cách điệu thành dạng khối…

Ngôi thánh đường được thiết kế hai tầng, có tổng chiều dài là 69 mét; rộng 18 mét ḷng sử dụng và hai hành lang chạy dài với chiều rộng 3 mét. Tầng trên của nhà thờ được dùng để cử hành Thánh Lễ và các nghi thức phụng vụ.

Ngôi thánh đường khoác trên ḿnh chiếc áo màu kem sáng, thiên về màu phù sa, gợi nhắc một miền quê lúa đă một thời đi vào lịch sử. Nằm ở lưu vực của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Trà Lư, quê hương Thái B́nh đă được bồi đắp và nuôi sống bởi lớp phù sa màu mỡ, giúp cho Thái B́nh một thời là vựa lúa của cả miền Bắc Việt. Chính mảnh đất đầy tiềm năng ấy đă tạo ra những con người Thái B́nh hiền lành, chất phác, chịu thương chịu khó trong đời thường nhưng can trường trong những thử thách đức tin.

 

II – KHUÔN VIÊN

 Thánh đường nhà thờ Chính Ṭa mới được xây dựng trên nền đất và hướng trục tâm của ngôi nhà thờ trước. Tuy nhiên, nó đă được dịch chuyển lên phía đầu nhà thờ khoảng 30 mét, để tạo một khoảng không gian rộng lớn phía cuối nhà thờ trở thành quảng trường trong những dịp lễ đại triều.

Về tổng thể, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, không gian kiến trúc thiên về thiên nhiên đă được đưa vào nhiều hơn. Đặt chân tới khuôn viên nhà thờ, người ta như bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ. Bởi nơi đây, họ đă t́m lại được sự b́nh yên, và những phút thanh tịnh hiếm hoi sau những ngày làm việc vất vả.

Đây thực sự là không gian lư tưởng giúp chúng ta dễ dàng tiếp xúc với Thiên Chúa và t́m lại chính ḿnh. Chúng ta sẽ khó có thể gặp được Thiên Chúa trong những ồn ào, náo nhiệt nhưng; chúng ta sẽ gặp được Ngài trong thinh lặng và trong thâm sâu tâm hồn của mỗi người.

 

1 - CỔNG CHÍNH

 Trên hai trụ cổng chính của ngôi Thánh đường mới có bức tượng hai Thiên Thần đang thổi loa. Cũng giống như tượng các thánh Tông Đồ, hai bức tượng này được tạc theo mô-típ những bức tượng thời Phục Hưng. Bên ngoài được phủ một lớp nhũ đồng sáng, càng làm cho hai bức tượng thêm phần uy nghiêm.

Thiên Sứ, c̣n gọi là Thiên Thần, là những thụ tạo vô h́nh, được Thiên Chúa tạo dựng. Bổn phận của các ngài là đêm ngày phụng sự Thiên Chúa và phục vụ chương tŕnh của Ngài dành cho con người. Cả Thánh Kinh Cựu ước và Tân ước đều nói đến các Thiên Thần. Các ngài luôn xuất hiện trong dáng vẻ uy nghi cao cả như được diễn tả trong sách Khải Huyền: “Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác sức mạnh lắm, ở từ trời xuống, có đám mây bao bọc lấy. Trên đầu Người có mống, mặt Người giống như mặt trời và chân như trụ lửa.” (Kh 10,1)

 Sự có mặt của các ngài luôn với tư cách là sứ giả của  Thiên Chúa, mang đến cho con người những thông điệp từ trời cao. “Thiên sứ trả lời rằng: Ta là Gabriel, đứng trước mặt Thiên Chúa; Ngài đă sai ta đến truyền cho ngươi và báo tin mừng này.” (Lc 1.19)

Hai bức tượng Thiên Thần cầm loa gợi lại h́nh ảnh các Thiên Thần trong Khải Huyền của Gioan: “Rồi tôi thấy bảy Thiên Thần đứng chầu trước nhan Thiên Chúa; các vị ấy lănh nhận bảy chiếc kèn” (Kh 8,2).

Tiếng kèn của các thiên sứ như nhắc nhở chúng ta hăy ư thức thân phận của chính ḿnh, phải biết sẵn sàng chuẩn bị tâm hồn để đón chờ ngày Chúa Kitô quang lâm. Ngày ấy, Đức Kitô sẽ từ trời ngự xuống giữa mây trời và các Thiên Thần của Ngài để xét xử muôn dân tộc. Nhưng tiếng kèn cũng là lời mời gọi chúng ta hăy vui mừng và tin tưởng vào t́nh yêu và lượng từ bi hải hà của Thiên Chúa. V́ trong ngày Đức Kitô trở lại, Ngài sẽ đón chúng ta về cùng Chúa Cha: “Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Ngài sẽ sai các Thiên Sứ đi, và Người sẽ tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời” (Mc 13, 26-27).

 

2 - LINH ĐÀI ĐỨC MẸ LAVANG

 Nổi bật trong toàn bộ khuôn viên của ngôi thánh đường Nhà thờ Chính ṭa Thái B́nh là linh đài Đức Mẹ Lavang. Thoạt nh́n, du khách có thể hơi ngỡ ngàng về toàn cảnh linh đài Mẹ, bởi có một nét ǵ đó quen quen… Điều đó cũng dễ hiểu, v́ Linh đài Mẹ Lavang Thái B́nh được mô phỏng theo linh đài thật ở thánh địa Lavang – thuộc địa hạt huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam. Để xây dựng linh đài này, các nghệ nhân đă phải nhiều lần đến Lavang, để đo đạc, chụp h́nh, cũng như sống trong tâm t́nh của người con cái Mẹ.

Trở về nguồn gốc của tên gọi “Lavang” cũng có nhiều cách giải thích khác nhau. Có tài liệu cho rằng: Ngày xưa, dưới thời vua Tây Sơn Quang Toản có chính sách chống đạo Kitô giáo, cho nên nhiều người theo Công giáo ở vùng Quảng Trị để tránh sự trừng phạt của nhà Tây Sơn đă chạy lên vùng đất này. Do đây là vùng đất đồi núi cho nên để gọi nhau được họ phải "la" lớn mà "la" lớn th́ "vang". Cái tên La Vang ra đời.

Một cách giải thích khác là khi những người theo đạo Công giáo chạy lên vùng đất này th́ bị dịch bệnh, lúc bấy giờ Đức Mẹ đă hiện ra và chỉ dẫn cho họ đi t́m một loại lá gọi là “lá vằng” – uống vào sẽ chữa khỏi bệnh. Viết "lá vằng" không dấu thành La Vang.

Về sự tích Đức Mẹ Lavang, người ta kể rằng: Dưới triều đại vua Cảnh Thịnh (lên ngôi năm 1792), với chiếu chỉ cấm đạo ngày 17 tháng 8 năm 1798, một số các tín hữu ở gần đồi Dinh Cát (nay là thị xă Quảng Trị) phải t́m nơi trốn ẩn. Họ đă đến lánh nạn tại núi rừng La Vang - nơi rừng thiêng nước độc, hoàn cảnh ngặt nghèo, thiếu ăn, bệnh tật, sợ hăi quan quân, sợ thú dữ. Các tín hữu chỉ biết một ḷng tin cậy phó thác vào Chúa và Đức Mẹ. Họ thường tụ tập nhau dưới gốc cây đa cổ thụ, cùng nhau cầu nguyện, an ủi và giúp đỡ nhau.

Một hôm đang khi cùng nhau lần hạt kính Đức Mẹ, bỗng họ nh́n thấy một người nữ xinh đẹp, mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng, có hai thiên thần cầm đèn chầu hai bên. Họ nhận ra ngay Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ tỏ vẻ nhân từ, âu yếm, và an ủi giáo dân vui ḷng chịu khó. Mẹ dạy hái lá chung quanh đó, đem nấu nước uống, sẽ lành các chứng bệnh. Mẹ lại ban lời hứa: “Mẹ đă nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn Mẹ tại chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ư nguyện”. Sự kiện xảy ra trên thảm cỏ gần gốc cây đa cổ thụ nơi giáo dân đang cầu nguyện. Sau đó, Mẹ c̣n hiện ra nhiều lần như vậy để nâng đỡ và an ủi con cái Mẹ trong cơn hoạn nạn. Từ đó đến nay sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại núi rừng La Vang, qua các thế hệ được loan truyền khắp nơi. Và nhiều người chân thành tin tưởng, đến cầu khấn Mẹ đều được ơn theo ư nguyện.[1]

Qua ḍng thời gian, với những biến cố thăng trầm của lịch sử, cả giáo phận cũng như từng mỗi người tín hữu Thái B́nh đă nhận được biết bao ơn lành của Thiên Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ. Cũng như cha ông xưa, hôm nay, những người con Thái B́nh cũng muốn bày tỏ ḷng sùng kính và mến yêu Mẹ, bằng việc xây dựng linh đài Mẹ Lavang ngay trên chính mảnh đất Thái B́nh. Linh đài Mẹ Lavang Thái B́nh vừa được Đức Cha F.X Nguyễn Văn Sang, Giám mục giáo phận, long trọng cắt băng khánh thành vào đúng ngày lễ Đức Maria linh hồn và xác lên trời (15/8/2007). Để bày tỏ ḷng quư yêu Mẹ Lavang, ngài đă cho đề bài thơ dâng kính Mẹ được trang trọng khắc trên một phiến đá đặt dưới chân linh đài Mẹ. Bài thơ viết:

Trúc xinh trúc mọc đầu đ́nh

Maria  đứng một ḿnh vẫn xinh

Maria Đức Mẹ Đồng Trinh

Hiện ra để cứu chúng sinh thương t́nh

Giờ đây Mẹ lại hiện h́nh

Dủ thương tín hữu Thái B́nh chúng con,

Giờ đây con Mẹ, Mẹ con

Sớm chiều mưa nắng sắt son một niềm.

Giờ đây tín hữu Chúa chiên

Chung lời khấn nguyện Mẹ hiền Lavang

Giờ đây ơn phúc chứa chan

Như sông, như suối tràn lan mọi người.

 

III – KIẾN TRÚC NHÀ THỜ

Xét về tổng thể, ngôi thánh đường nhà thờ Chính Ṭa mang đậm nét kiến trúc Việt. Bởi đối với một đất nước mà đại bộ phận dân chúng sống bằng nghề nông nghiệp như nước ta th́ việc xây nhà không chỉ làm nơi để ở, để sinh hoạt, mà c̣n là nơi vững chắc để đối phó với những khắc nghiệt của thiên nhiên như: nóng lạnh, nắng mưa, gió băo – một trong những yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho họ có một cuộc sống định cư ổn định. Có an cư th́ mới lạc nghiệp. Để ứng phó với môi trường tự nhiên, tiêu chuẩn của ngôi nhà Việt Nam về mặt cấu trúc là nhà cao cửa rộng. Kiến trúc Việt thường là kiến trúc “MỞ” để tạo không gian thoáng mát, giao ḥa với tự nhiên; khác với kiến trúc phương Tây “ĐÓNG” (nhà nhỏ, trần thấp, tường dày, cửa ít) để giữ hơi ấm.

 Cái “cao” của ngôi nhà Việt gồm hai yêu cầu: Sàn/ nền so với mặt đất và mái cao so với sàn/ nền. Nhà sàn đáp ứng nhu cầu “cao” thứ nhất (sàn nền cao so với mặt đất) và có tác dụng ứng phó với lụt lội, ẩm ướt, côn trùng… Nhà Việt Nam nay phần nhiều đă chuyển sang dạng nhà đất, nhưng nhà đất lư tưởng vẫn phải có nền cao; nhiều nơi hay ngập lụt, nền nhà cứ phải nâng cao dần. C̣n yêu cầu “cao” thứ hai – mái cao so với sàn/ nền – là nhằm tạo ra một khoảng không gian rộng, thoáng mát để ứng phó với nắng nóng. Mái cao c̣n tạo ra một độ dốc lớn để ứng phó với lượng mưa nhiều, khiến cho nước thoát nhanh, tránh dột, tránh làm hỏng mái. Nhà cao nhưng cửa không cao mà phải rộng. Cửa không cao để tránh nắng chiếu xiên và tránh nước mưa hắt vào nhà. C̣n phải làm cửa rộng để đón gió mát và tránh nắng nóng, đồng thời cũng để tránh gió độc, gió mạnh.[1]

Để đảm bảo yếu tố nhà cao cửa rộng, phù hợp với môi trường và khí hậu khắc nghiệt của miền Bắc Việt Nam (nóng ẩm, mưa nhiều), nhà thờ Chính Ṭa được thiết kế hai tầng, có hành lang rộng và mái hiên xung quanh. Ngày mưa gió, vẫn có thể tổ chức những cuộc rước kiệu, cung nghinh Thánh Thể xung quanh nhà thờ mà không lo thời tiết đổi thay thất thường.

 

1 - THÁP CHUÔNG

 Dù không nổi bật giữa những ṭa nhà cao tầng đang ngày một nhiều trong ḷng thành phố Thái B́nh, nhưng đứng trên cầu Thái B́nh hoặc trên hai bờ tả ngạn của ḍng Trà Lư, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra hai ngọn tháp của ngôi thánh đường nhà thờ Chính Ṭa mới đang hiên ngang vươn lên trời xanh.

Với chiều cao 46 mét, tháp chuông được thiết kế theo lối Gothique nhưng đă được cách điệu cho đơn giản, phù hợp với xu hướng hiện đại. Điều đó đă tạo cho hai cây tháp một dáng dấp độc đáo, không giống với bất cứ ngọn tháp nào của các ngôi nhà thờ trong giáo phận. Nếu nh́n từ xa, hai ngọn tháp như hai ngọn nến cháy sáng, được nâng niu bởi đôi bàn tay vững chăi đang hướng thẳng lên trời cao.

Theo truyền thống từ ngàn xưa của Giáo Hội, tiếng chuông chính là tiếng Chúa mời gọi các tín hữu đến Nhà Thờ cầu nguyện và tham dự các nghi thức cử hành Phụng vụ. Tiếng chuông c̣n loan báo tin vui buồn cho cộng đoàn. Tiếng chuông được ví như tiếng Chúa nhắc nhở mọi người tín hữu chúng ta t́m về cơi Thiêng Liêng. Như lời Thánh Augustinô đă thốt lên: “Lạy Chúa, tiếng chuông ngân vang, thấm vào hồn, dạy con hăy lắng nghe tiếng Chúa, là Đấng sâu thẳm hơn cả sự sâu thẳm của tâm hồn con”.

Là người tín hữu, chúng ta sẽ cảm thấy được yên ủi biết bao khi tới một nơi hoàn toàn xa lạ, ta gặp được một tháp chuông nhà thờ. V́ chúng ta biết rằng, ở nơi đó, có Chúa đang hiện diện, nơi đó, ta sẽ gặp được những người đồng đạo, những người chung một niềm tin. Những lúc như thế, hẳn chúng ta sẽ cảm thấy ḷng như ấm lại, và được tiếp thêm một sức mạnh mới trên hành tŕnh đức tin của ḿnh.

Từ bao đời nay, tháp chuông nhà thờ, ngoài việc diễn tả niềm tin tôn giáo, c̣n luôn là đề tài bất tận cho các văn nghệ sỹ… Cùng nhớ lại một lần đi kinh lư và làm lễ khánh thành tháp chuông của một giáo xứ trong giáo phận, trong bài giảng của ḿnh, Đức Cha Phanxicô Xaviê, vị chủ chăn của giáo phận đă từng ví tháp chuông nhà thờ như ngón tay chỉ đường về trời. C̣n nhạc sĩ Văn Cao, trong ca khúc “Làng tôi” đă từng miêu tả tiếng chuông nhà thờ thật ư nghĩa. Ông viết: “Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ ngân…”. Qua cảm nhận rất riêng của một nhạc sỹ, dù không cùng niềm tin tôn giáo, chúng ta vẫn có thể h́nh dung được tiếng chuông nhà thờ gần gũi và dường như đă đi vào nhịp thở của ông cũng như những con người ở miền quê ấy. Như vậy, tiếng chuông không chỉ là lời mời gọi của Thiên Chúa, lời giục giă của Giáo hội, nhắc nhở những người con cái của ḿnh đến nhà thờ để dâng thánh lễ, để chung lời tạ ơn Thiên Chúa qua những câu kinh, điệu hát; mà tiếng chuông c̣n là lời loan báo b́nh an. Bởi cũng như lời của nhạc sỹ Văn Cao: “Làng tôi khi quân Pháp sang, tiếng chuông không c̣n ngân”. Vâng, tiếng chuông c̣n ngân sao được khi đất nước đang ch́m trong khói lửa, đồng bào đang quằn quại trong thương đau, gia đ́nh phải chia ĺa, li tán… Tiếng chuông nhà thờ vang lên khi một sinh linh mới chào đời, được đưa đến nhà thờ để lănh bí tích Rửa tội, và cũng ngậm ngùi từng tiếng khi báo tin một người trong giáo xứ đă ra đi. Phải chăng v́ thế mà, tiếng chuông nhà thờ, không biết tự lúc nào đă ăn sâu vào tâm khảm của những con người ở mọi miền quê đất Việt, mặc dù không phải tất cả đều có chung một niềm tin vào Đạo Chúa. Nên dù có đi đâu, làm ǵ, h́nh ảnh ngôi thánh đường, tháp chuông, và tiếng chuông luôn nhắc nhớ về những kỷ niệm đẹp.

Nhà thờ cũ trước đây đă có 2 quả chuông nhỏ. Nhân dịp xây dựng ngôi thánh đường mới, Đức Cha giáo phận đă cho đúc thêm một quả chuông lớn với trọng lượng 1,8 tấn,  cung mi giáng (MI­­­­b) với thánh hiệu là Phanxicô Xaviê. Trên thành quả chuông có khắc trổ những hàng sau đây:

“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa”

  Không  trung  loan  báo  việc  tay  Người  làm”

                                                                   (Tv 19,15)

Quả chuông này được chế tác từ đôi tay của các nghệ nhân xuất thân từ quê hương giáo phận mẹ Bùi Chu. Tiếng chuông ấy đă trang trọng gióng lên những tiếng đầu tiên để chung với niềm vui của cả giáo phận, khi ngày đó, ngày 04/8/2007, giáo phận Thái B́nh vui mừng đón nhận chín tân linh mục và sáu họ giáo được nâng lên hàng giáo xứ.

Thật là :           Bảy (mươi) lăm ông lăo sinh con,

                      Chín chàng mục tử “mẹ tṛn con vuông”

                      Chín mươi giáo xứ Chúa thương

                      Là phúc thứ chín con đường Chúa ban.[1]

2 - MÁI CONG

Khác với những ṭa nhà to lớn được lợp bằng mái ngói với màu đỏ tươi gợi nhắc một sự cổ kính, ngôi nhà thờ được lợp bằng tôn màu xanh nước biển, thể hiện một dáng vóc trẻ trung và mới mẻ nhưng cũng mang đậm tính cách Á Đông. Khi ngắm nh́n đường nét vút cong của mái nhà thờ, người ta dễ liên tưởng tới mái của những ngôi đ́nh, ngôi chùa mà đâu đó, người ta vẫn trông thấy ở những miền quê.

Nhiều người quen nghĩ rằng đặc điểm mái cong này là sự vay mượn của kiến trúc Trung Hoa. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Nhà sàn Việt Nam từ thời Đông Sơn (chưa hề giao lưu với Trung Hoa) đă có mái cong rồi. Nhà rông, nhà mồ Tây Nguyên đến giờ vẫn làm mái cong, tuy rằng cũng không hề có giao lưu với Trung Hoa. Tháp Chàm cũng có loại mái cong, trong khi đó, nhà Trung Hoa thời Hán mái vẫn thẳng; đến cuối đời Đường, lối làm nhà mái cong mới thâm nhập dần từ Nam lên Bắc. [1]

Theo tác giả của cuốn sách “Nhà thờ Đức Mẹ Việt Nam: Lối kiến trúc và ư nghĩa theo Văn hóa Việt” cho rằng: mái cong là đường nét kiến trúc kết hợp hài ḥa giữa vuông và tṛn. Trong thấy mái cong là thấy ngay đường nét uốn lượn, uyển chuyển, sinh động, vươn lên, chảy dài như sóng nước thủy triều, như vũ điệu… cũng theo tác giả của cuốn sách này, mái cong c̣n là biểu tượng hai cánh phượng hoàng đang giang rộng bay lên. Phượng là loài chim lạ và quư hiếm. Đông phương coi là Linh Điểu, một trong tứ linh: Long – Ly -  Quy – Phượng. Phượng Hoàng là vua các loài chim, có sức mạnh và khả năng bay cao, đường bay huyền ảo, không một loài chim nào có thể theo kịp.

 

3 - CÁC BỨC TƯỢNG THÁNH

Khi nhắc đến Thái B́nh, người ta thường nhắc tới một giáo phận có ḷng sùng kính, mến yêu Đức Maria và các thánh cách đặc biệt. Chính v́ thế mà chung quanh mái của ngôi nhà thờ mới được trang trí bằng những pho tượng Thánh Thiên Thần, các Thánh nam nữ và đặc biệt là các vị thánh Tử  Đạo Việt Nam.

Nói đến các vị thánh Tử  Đạo Việt Nam, là những thế hệ cháu con, người giáo dân Thái B́nh hôm nay có quyền tự hào về truyền thống hào hùng và tinh thần giữ đạo bất khuất của các thế hệ cha ông trong giai đoạn đức tin bị thử thách cam go nhất. Trong hàng trăm ngàn người đă đổ máu đào minh chứng cho đức tin, Giáo phận Thái B́nh đă hân hoan dâng lên Thiên Chúa 19 vị Tử Đạo trong 117 Hiển Thánh Tử  Đạo Việt Nam. Các ngài thực sự là những hoa quả đầu mùa, là hạt giống để sinh ra những tín hữu Thái B́nh hôm nay.

Khi nh́n ngắm những pho tượng Thánh với dáng vẻ sống động, chúng ta mới hiểu được rằng, nghệ nhân đă gửi gắm nơi mỗi tác phẩm của ḿnh không chỉ là kinh nghiệm, là tŕnh độ điêu khắc, nhưng c̣n là cả tâm hồn và niềm tin tôn giáo nữa.

 

4 - BỨC CUỐI

 Xung quanh hai bệ tháp là tượng mười hai Thánh Tông đồ đang đứng hiên ngang như một minh chứng cho sự trường tồn của niềm tin Tông truyền trên mảnh đất Thái B́nh. Mỗi bức tượng Thánh Tông đồ cao 2,2 mét, được tạc phỏng theo phong cách những pho tượng thời Trung cổ nhưng cũng có những nét rất riêng. Song điều đặc biệt là, những bức tượng đó lại được tạc nên bởi những đôi bàn tay khéo léo của chính những nghệ nhân là con dân đất mẹ Thái B́nh. Dáng vẻ uy nghi của mười hai pho tượng các Thánh Tông đồ nơi bức tường cuối nhà thờ Chính ṭa như một nhắc nhớ về h́nh ảnh được ghi trong sách Khải Huyền của thánh tông đồ Gio-an khi trong thị kiến: “Thành Thánh của Thiên Chúa là Giêrusalem từ trời mà xuống… tường thành xây trên mười hai nên móng, trên đó có tên mười hai tông đồ của Con Chiên” (Kh 21,14). Các Tông đồ chính là nền móng để dựng xây ngôi nhà Thiên Chúa; trên đó, Thiên Chúa xây dựng Hội Thánh của Ngài, như lời Chúa phán cùng Simon Phêrô rằng: “Phêrô, con là đá, trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và cửa hỏa ngục sẽ không thắng được” ( Mt 16,18).

 

5 - MÁI V̉M CUỐI NHÀ THỜ

Mái ṿm của ngôi nhà thờ mới được tạo nên bởi những đường cong lớn nối liền hai chân của tháp chuông. Nh́n từ ngoài, mái ṿm trông như cánh hoa đang hé nở theo hướng đi lên; giao điểm của hai đường cong gặp nhau tại tâm của cây Thập giá. H́nh ảnh ấy như lời mời gọi mọi người hăy hướng tâm hồn lên tới Chúa là Đấng nhân hậu và giàu ḷng xót thương, mà trung gian duy nhất là Đức Giêsu Kitô. Đồng thời cũng nhắc nhở mỗi người tín hữu Chúa, những người đang trong cuộc lữ hành trần thế luôn biết nh́n lên cây Thập giá, là con đường dẫn đưa chúng ta về trời, bởi v́: Qua Thập Giá - tới vinh quang.

Với tính năng của một mái che, mái ṿm nhà thờ như đôi bàn tay, giúp che nắng, che mưa cho cộng đoàn lúc trước và sau khi diễn ra Thánh lễ. Đứng dưới mái ṿm, người ta có thể an tâm để hàn huyên tâm sự, chia sẻ cho nhau những vui buồn sau một tuần làm việc vất vả. Trong những dịp lễ lớn, mái ṿm trở thành một sân khấu lớn để tổ chức giao lưu văn nghệ ngoài trời. Nếu tổ chức biểu diễn ở đây, không chỉ cộng đoàn tập trung ở sân cuối nhà thờ mà cả những ai đứng ở con đường phía trước mặt cũng có thể dễ dàng tham dự.

 

6 - BẬC TAM CẤP

Để lên được nơi cử hành Thánh lễ của nhà thờ Chính Ṭa, chúng ta phải đi qua bậc tam cấp. Đây cũng là một đặc điểm kiến trúc của ngôi nhà Việt. Truyền thống văn hóa nông nghiệp của người Việt vốn coi trọng số lẻ (v́ lẻ là số dương = động = dành cho người sống). Thế nên, bước vào sân th́ phải qua cổng tam quan; lên nhà th́ phải qua bậc tam cấp; nhà dân thường có  ba gian hoặc năm gian; các kiến trúc lớn thường dựng theo lối tam ṭa. (Cổng Ngọ Môn – Huế; nhà thờ đá – Phát Diệm…); các ṭa thành (như Cổ Loa, Huế) đều có kiến trúc ba ṿng…

Để lên đến nhà thờ, ngoài bậc tam cấp, công tŕnh cũng được thiết kế thêm hai đường dốc thoai thoải, kèm theo tay vịn hai bên để tạo điều kiện cho những người cao tuổi có thể lên xuống dễ dàng.

 
7 - GIẾNG RỬA TỘI Qua bậc tam cấp, ta như rũ bỏ được những lắng lo, những vấn vương của cuộc sống thường nhật để bước vào một thế giới hoàn toàn khác biệt – thế giới tâm linh – nơi đó, con người có thể an tâm mà sốt sắng cử hành Thánh lễ, an tâm chia sẻ những vui buồn và thanh thản dâng những lời nguyện cầu lên Thiên Chúa.

Nhưng để vào thánh điện nhà Chúa với một tâm hồn hoàn toàn trong trắng, cần phải ḥa giải với Thiên Chúa và với anh chị em qua giếng nước rửa tội. Đối với người Công Giáo, giếng nước rửa tội nhắc nhớ chúng ta ngày lănh bí tích Thánh Tẩy. Chúng ta thề sẽ từ bỏ sa-tan, từ bỏ những quyến rũ của nó. Và cũng trong ngày ấy, chúng ta đoan hứa tin vào một Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con và Thánh Thần… Vậy hôm nay đây, lời đoan hứa đó liệu có c̣n hay đă lăng quên?! Tấm áo trắng chúng ta nhận ngày chịu phép rửa tội, nay có c̣n trinh nguyên hay đă bị hoen ố theo ḍng thời gian?

Giếng rửa tội là nơi tái sinh người tín hữu. Việc lănh bí tích Rửa tội không phải là một thủ tục nhưng là một điều kiện tất yếu để được vào Nước Trời. Trong cuộc đối thoại với Nicôđêmô, Đức Giêsu đă quả quyết: “Thật, tôi bảo thật ông, không ai có thể vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5). Khi lănh Bí Tích Rửa tội, chúng ta được d́m, được hội nhập vào mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô và được hưởng hồng ân cứu độ. Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở cái chết đau khổ và nhục nhă, mà Ngài đă Phục Sinh vinh hiển. Tử Nạn và Phục Sinh là một tiến tŕnh duy nhất, một mầu nhiệm Vượt Qua của Con Thiên Chúa làm người để cứu độ con người. Chúa Giêsu chỉ chết và sống lại một lần, người tín hữu cũng chỉ lănh nhận một lần trong đời.

Giếng rửa tội của nhà thờ chính ṭa được thiết kế hết sức độc đáo. Ḷng giếng được thiết kế h́nh một chiếc lá sen; chung quanh có một bông hoa sen trắng và một đài sen vàng. H́nh ảnh lá sen xanh, bông sen trắng và có nhị vàng rất đỗi quen thuộc đối với người Việt Nam chúng ta:

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh

Mừng Em rửa tội làm con Chúa Trời

Làm con Thiên Chúa Ba Ngôi

Làm con Hội Thánh đời đời vinh quang.

H́nh ảnh bông hoa sen trắng giữa bùn lầy đă phản ánh phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Trải qua biết bao nhiễu nhương trong cuộc đời, phải sống giữa một xă hội có nhiều những cám dỗ về mọi mặt dễ làm cho con người trở nên ô uế, nhưng con người Việt Nam vẫn vượt lên trên mọi hoàn cảnh khó khăn, và quan trọng hơn, họ đă vượt lên chính ḿnh để chiến đấu và chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng số phận.

Phía trước chiếc lá sen xanh có bức tượng Đức Giêsu đang đứng giang tay và một ḍng nước chảy ra từ chính đôi bàn tay của Ngài. Ngắm nh́n h́nh ảnh đó, ta như cảm thấy, không phải linh mục, nhưng là chính Chúa Giêsu đang làm phép rửa cho các thụ nhân. H́nh ảnh ḍng nước tuôn trào gợi lại h́nh ảnh thị kiến: Tôi đă thấy ḍng nước từ cửa Đông đền thờ tuôn ra. Và nước ấy chảy đến người nào th́ tất cả đều được cứu độ và hát lên rằng: Allêluia! Allêluia! (x.Kh 22) Đức Giêsu chính là mạch nước hằng sống đó. Từ nơi Ngài phát xuất ḍng nước trong lành, có sức tẩy rửa và cứu độ toàn thể nhân loại.

 

8 - CỬA CHÍNH (CỬA ĐẠI HỘI)

 Cửa chính của nhà thờ chính ṭa có h́nh vuông, ở giữa hai cánh cửa chính là một h́nh tṛn – một sự thể hiện rơ nét triết lư âm dương. Có vuông có tṛn, tức là có âm có dương; vuông tượng trưng cho đất (thuộc âm), tṛn tượng trưng cho trời (thuộc dương). Theo quan niệm về âm dương th́: trong âm có dương và trong dương có âm. Nói vuông tṛn là nói đến sự hoàn thiện. Thành ngữ có câu: Mẹ tṛn con vuông, Ba vuông bảy tṛn… Ca dao th́ có: Ba vuông sánh với bảy tṛn. Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu… hay: Lạy trời cho đặng vuông tṛn. Trăm năm cho trọn ḷng son với chàng!

Hai cánh cửa được làm bằng một loại gỗ quư, bên cạnh có hai bức phù điêu bằng đồng đắp nổi. Chung quanh cửa có những đường gân khác nhau dẫn đến cây thánh giá ở chính giữa hai cửa.

 H́nh ảnh cây thánh giá hiện diện ở cửa chính của ngôi thánh đường vẫn luôn là biểu tượng của Đức Kitô Tử Nạn và Phục Sinh. Thánh giá là dấu chỉ t́nh yêu Thiên Chúa đối với loài người và mỗi người. Chúa Giêsu mang lấy các tật nguyền và gánh lấy các bệnh hoạn của ta. (Ga 1,29). Thánh giá là màu nhiệm của sự đau khổ và sự chết, đồng thời cũng là biểu tượng của vinh quang. Làm thế nào có thể nói đến Phục Sinh mà không nói đến cái chết? Phúc Âm theo Thánh Luca đă hai lần khẳng định: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ h́nh như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26;46). “Khi các ông treo Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu”; “Phần tôi, khi được treo lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 8,27; 12,32)

Thánh giá c̣n là biểu tượng của sự ḥa giải, liên kết, quy tụ muôn người, nói lên chiều kích trọn vẹn của con người. Chiều cao liên kết con người với Thiên Chúa. Chiều ngang liên kết mọi người với nhau. Như lời thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Eâphêxô: “Nhờ thập giá, Người đă làm cho đôi bên được ḥa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đă tiêu diệt sự thù ghét” (Ep 2,16).

 Ở bốn đầu của cây thập giá có tạc h́nh của bốn vị Thánh sử (Mátthêu, Maccô, Luca và Gioan). Sự hiện diện của các ngài như một sự nhắc nhớ về sự hiện diện và tầm quan trọng của Lời Chúa. Chính Đức Giêsu đă từng phán: Người ta không chỉ sống nguyên bởi cơm bánh, nhưng c̣n bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. Lời ấy là Tin Mừng mà chúng ta đang đón nhận. Chúng ta chỉ có một Tin Mừng duy nhất là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, Tin Mừng ấy là tin mừng cứu độ. Như vậy, Thánh giá không chỉ là niềm hy vọng, mà c̣n là tin mừng cho nhân loại. “Người đă đến loan Tin Mừng b́nh an: b́nh an cho anh em là những kẻ ở xa, và b́nh an cho những kẻ ở gần” (Ep 2,17). Vậy chúng ta có thể hănh diện như Thánh tông đồ Phaolô mà nói lên rằng: “Ước chi tôi chẳng hănh diện về điều ǵ, ngoài thập giá Đứu Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14).

Nổi bật trên đầu của cây thập giá là h́nh ảnh một bông lúa chín vàng. Phía bên trên có một bức phù điêu h́nh Thiên Chúa Cha đang một tay nâng trái đất và một tay giơ ra để chở che nhân loại. Những đường gân được điểm xuyến bằng những mũ đinh nổi, thường thấy ở cánh cửa chính của những ngôi thánh đường lớn ở châu Aâu. H́nh ảnh đó gợi nhắc đến cuộc sống lữ hành trần thế của người tín hữu hôm nay; có nhiều con đường dẫn đưa chúng ta đến với Thiên Chúa. Tất cả đều là những con đường hẹp, nhiều hiểm nguy và lắm chông gai. Nhưng chúng ta tin tưởng rằng, trên hành tŕnh đó, chúng ta không đi một ḿnh, mà có Chúa cùng đồng hành. Và kết quả là, qua con đường của thập giá, chúng ta sẽ thu lượm được thành quả mỹ măn là bông lúa chín vàng.

 

IV – NỘI THẤT

1 - CUNG THÁNH

Bước vào nhà thờ, chúng ta có cảm một cảm giác linh thiêng và huyền nhiệm. Nội thất của ngôi thánh đường được sơn một gam màu trầm. Nổi bật lên giữa gam màu trầm lắng đó là sự rực sáng lung linh của bàn ṭa chính mới được thiếp vàng.  Sự kết hợp hài ḥa giữa gam màu trầm của nội thất nhà thờ và màu sáng của gian cung thánh giúp cộng đoàn không bị xao nhăng, nhưng dễ dàng tập trung vào việc tham dự thánh lễ và các cử hành phụng vụ nơi đây.

 Bàn ṭa của nhà thờ cũ vẫn được giữ ǵn nguyên vẹn, không mất đi dù một chi tiết nhỏ. Quan sát những đường nét hoa văn được chạm trổ một cách tinh vi, chúng ta càng cảm phục đôi bàn tay tài hoa của những nghệ nhân thế hệ trước. Gian cung thánh của ngôi nhà thờ mới được thiết kế rộng … Nền của cung thánh được lát bằng đá garanit màu đỏ, nếu nh́n từ trên cao, như một tấm thảm đỏ khổng lồ. Mới thoáng nh́n, người xem có thể nhận thấy sự trang trọng, uy nghi của gian cung thánh - xứng đáng là nơi diễn ra các cử hành Thánh Thể. Nhưng quan sát kỹ, chúng ta lại có một cảm giác thật gần gũi giữa cộng đoàn và bàn tiệc Thánh Thể.

Nhiều người có cảm giác, gian cung thánh như một chiếc trống đồng lớn. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi chân của cung thánh được trang trí bằng bức phù điều lớn mang các họa tiết vẫn được trạm khắc trên các trống đồng: những cánh chim Lạc Việt, những cảnh sinh hoạt thường ngày như săn bắn, hái lượm…  những h́nh ảnh tuy đơn sơ nhưng lại được diễn tả một cách sống động dưới bàn tay tài t́nh của những nghệ nhân.

Các thế hệ con Lạc cháu Rồng qua bao đời nay vẫn từng tự hào về những chiếc trống đồng. Bởi nó chính là hiện vật tiêu biểu của các nền văn hoá phát triển từ thời đại đồng thau sang thời đại đồ sắt ở một số nước thuộc vùng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam chúng ta.

 

2 - BÀN THỜ

Nổi bật giữa gian cung thánh là bàn thờ được làm từ đá cảm thạch. Trông xa, bàn thờ như một tấm bánh trắng lớn, được nâng lên bởi những đôi bàn tay xinh xắn của hai thiên thần bé nhỏ.

 Mặt bàn thờ h́nh tṛn (tượng trưng cho trời) được đặt trên một trụ có chân h́nh bát giác – biểu tượng rơ nét triết lư âm dương. H́nh bát giác biểu tượng của Bát quái. Theo Kinh Dịch, tŕnh bày nguyên lư h́nh thành vũ trụ dưới dạng: Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quát. Cũng theo Kinh Dịch, Bát quái có 8 quẻ (Càn, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn); mỗi quẻ biểu thị bằng 3 vạch liền (= lẻ, dương) và/ hoặc đứt (= chẵn, âm). Bát quái Tiên thiên (có trước), biểu tượng cho 8 hiện tượng tự nhiên. Trời – Đầm – Lửa – Sấm – Gió – Nước – Núi – Đất. Bát quái Hậu thiên (có sau), biểu tượng cho cha mẹ và 6 con trong gia đ́nh. Để trừ tà ma, trong khi dân gian phương Nam sử dụng Ngũ hành (bùa ngũ sắc, tranh Ngũ hổ), th́ người phương Bắc dùng bát quái làm bùa. Đối với người Công giáo, h́nh bát giác thể hiện Bát phúc (8 mối phúc); đây là 8 phương thế và cũng là 8 con đường dẫn đưa chúng ta về quê trời.

Xung quanh bàn thờ được trạm trổ h́nh những chùm nho và lúa miến. Đó cũng là những tinh hoa của ruộng vườn, tượng trưng cho lao công vất vả của con người và ân huệ của Thiên Chúa, làm thành tấm bánh tiến dâng lên Thiên Chúa t́nh yêu.

Tấm bánh ấy cũng chính là Đức Kitô. V́ trong hy lễ Thánh Thể, chính Đức Kitô vừa là người dâng, vừa là của lễ dâng lên Chúa Cha (PV 7).  Tấm bánh Giêsu hôm nay vẫn không ngừng được bẻ ra cho thế giới: “Các con hăy cầm lấy mà ăn. V́ này là ḿnh Thầy”. (Kinh Nguyện Thánh Thể)

Bàn tṛn c̣n thể hiện một sự b́nh đẳng. Mọi người tham dự bàn tiệc này đều có phẩm giá như nhau, không phân biệt lớn - nhỏ, sang - hèn…, v́ thế, cộng đoàn sẽ có một cảm giác gần gũi khi đi tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Nếu xét về ư nghĩa, bàn thờ là nơi trên đó cử hành hy lễ Thánh Thể, là trung tâm của tất cả cử hành thánh lễ (GL 1235; RM 296). Nơi hy lễ này, Chúa Kitô mời gọi chúng ta đến lănh nhận Ḿnh và Máu Người như lương thực thần linh. V́ thế, bàn thờ thực sự là bàn tiệc thần linh, nơi đó, mọi người tín hữu được mời gọi tham dự vào bữa ăn của Chúa.

Dưới chân bàn thờ được trang trí bằng một tấm thảm lớn, trên đó được điểm xuyến bằng h́nh những mặt trống đồng. Giữa mặt trống là h́nh ngôi sao 12 cánh, xen giữa các cánh sao là họa tiết lông công và những đường vạch chéo có h́nh tam giác lồng vào nhau.

 

 

3 - NHÀ TẠM

 Trên cung thánh có hai nhà tạm đều được làm bằng đá cẩm thạch: một để Ḿnh Thánh Chúa và một để Lời Chúa.

Nơi Nhà Tạm để Ḿnh Thánh Chúa có khắc hai câu thơ được trích trong bài thơ “Chiếc đèn chầu” của nhà thơ Bạch Lạp (bút danh của Đức Cha Phanxicô Xaviê, giám mục giáo phận Thái B́nh) như sau:

“Linh hồn con như chiếc đèn chầu

Âm thầm tỏa sáng trong đêm thâu”.

Xét về nguồn gốc, “nhà tạm” theo cách hiểu của chúng ta hiện nay chỉ có từ thế kỷ XVI, đặc biệt khi Giáo Hội phải đương đầu với những người chống đối sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Quả thật, trong những thế kỷ đầu, với những người chống đối sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, nhà tạm được hiểu là nơi cất giữ Ḿnh Thánh Chúa cho bệnh nhân và những người vắng mặt; nơi cất giữ này chưa chiếm vị trí trung tâm của cung thánh như hiện nay. Thế rồi, từ việc cất giữ Ḿnh Thánh cho bệnh nhân, người ta ngày càng khám phá ra ư nghĩa sâu xa sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Từ đó, ḷng tôn thờ Chúa phát triển mạnh mẽ qua việc chầu Thánh Thể. 

Qua ḍng thời gian, Giáo Hội thấy cần phải cổ vơ cho con cái ḿnh về ḷng yêu mến và thực hành Lời Chúa, nên đă cho phép làm thêm một nơi trang trọng trên cung thánh, ngang hàng với nơi đặt Ḿnh Thánh Chúa, để làm nơi suy tôn Lời Chúa. V́ vậy, đối diện với Nhà Tạm Ḿnh Thánh Chúa trong Nhà thờ Chính Ṭa Thái B́nh, có thêm một Nhà Tạm tương tự để đặt Sách Thánh. Trên ngôi nhà tạm này cũng có khắc hai câu thơ của nhà thơ Bạch Lạp:

“Lấy Kinh Thánh rọi soi lối bước

Đem Tin Mừng chiếu sáng đường đi”

          Khi cho phép điêu khắc ngôi nhà tạm để Sách Thánh giống như nhà tạm để Ḿnh Thánh Chúa, Đức Cha giáo phận muốn nhắc nhở giáo dân hăy ư thức tôn kính Lời Chúa như tôn kính Ḿnh Thánh Chúa, lấy Lời Chúa làm kim chỉ nam cho đời sống đức tin theo tinh thần của Công Đồng Vatican II.

 

4 – HAI CÂY BẠCH LẠP

Hai cột trụ dưới bàn ṭa chính được thiết kế trở thành hai cây bạch lạp với ngọn lửa hồng rực sáng. Ngắm nh́n hai cây nến cháy sáng rực, người tín hữu ngay lập tức liên tưởng đến cột mây và cột lửa ngày đêm dẫn đường cho dân Ít-ra-en đi trong hành tŕnh sa mạc suốt bốn mươi năm sau khi họ được Thiên Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập và đưa về Đất Hứa là đất Ca-na-an.

Ngọn lửa cháy bừng bừng của đôi bạch lạp cũng giúp chúng ta gợi nhớ về biến cố khai sinh Giáo Hội sau khi Chúa Giêsu về trời, đó là vào ngày lễ Ngũ Tuần của người Do thái, khi các Tông Đồ đang cầu nguyện trong ngôi nhà cửa đóng kín v́ sợ người Do Thái, th́ Thánh Thần Chúa lấy h́nh lưỡi lửa bay đến đậu trên từng người và tất cả đều được đầy tràn Chúa Thánh Thần. Có sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ đă không c̣n sợ hăi và đóng kín nữa, nhưng đă mạnh dạn ra đi công bố Tin Mừng cho khắp muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem và cho đến tận cùng trái đất.

 

5  - GIẢNG ĐÀI

V́ phẩm giá Lời Chúa phải có một nơi thích hợp trong nhà thờ để Lời Chúa được loan báo, và giáo dân tự nhiên hướng về đó trong phần phụng vụ Lời Chúa. Do đó, giảng đài là nơi xứng hợp cho việc cử hành này.

Chính nơi đây, hằng ngày, các tín hữu sẽ được nuôi dưỡng bằng bữa tiệc Lời Chúa. Những thực hành sống đạo, những răn dạy của Giáo Hội được truyền đạt qua lời của các vị mục tử…

Giảng đài của nhà thờ Chính Ṭa mới được làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối. Ơû phía trước có trạm trổ bức phù điêu h́nh cây thập giá và con cá – thể hiện cho Đức Kitô.

 

6 - ĐÀNG THÁNH GIÁ

 Khác hẳn với những thánh đường khác, mười bốn đàng thánh giá của nhà thờ Chính ṭa Thái B́nh được liên kết bởi những bức phù điêu chạy dài, dọc hai bên nhà thờ tạo thành một tổng thể liên hoàn. Những chặng đàng thánh giá được phủ một màu đồng với những h́nh khối uốn lượn, tạo nên một quang cảnh thật sống động. Dù chưa một lần hành hương Thánh địa, chúng ta cũng có thể h́nh dung ra được h́nh ảnh Palestin, quê hương Chúa, và phần nào cảm nghiệm được con đường khổ nạn mà Chúa Kitô đă đi qua khi chiêm ngắm những bức phù điêu đàng Thánh Giá trong Nhà Thờ Chính Ṭa. Quả thật, để làm được những tác phẩm điêu khắc này, nghệ nhân đă phải trải qua biết bao t́m ṭi, trăn trở, khám phá, để cuối cùng có được những tác phẩm nghệ thuật mang hồn sống mà ai ai cũng đều cảm nhận được sự độc đáo của nó. Dáng vẻ hung dữ của những tên lính, nét mặt đầy căm phẫn của những người biệt phái và luật sĩ; và đối nghịch lại, là vẻ dịu hiền, nhân từ và nhẫn nại của Đức Giêsu, được diễn tả một cách thật sinh động. Và để tô điểm cho những cảnh khác nhau trên quăng đường khổ giá, nghệ nhân đă đưa vào những quang cảnh thiên nhiên: xa xa, thấp thoáng những ngôi nhà ẩn hiện dưới những hàng cây cọ dừa – một loại cây đặc trưng của đất nước Palestin; những ngọn đồi trọc không một bóng cây, trơ trụi toàn những đá, đang ngất ngưởng như những chiếc đầu trọc, càng làm cho cảnh vật thêm hoang vu, cô quạnh.

Chiêm ngắm chặng đàng thánh giá, chúng ta có thể nhận ra chính những cảnh huống khác nhau của cuộc sống hôm nay; và qua đó, chúng ta có thể nhận ra gương mặt của chính ḿnh. Chúng ta chỉ có thể t́m thấy gương mặt con người hoàn hảo nhất nơi Đức Giêsu Kitô. Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật, là Đấng chẳng hề biết tội là ǵ, nhưng Ngài đă tự nguyện trở nên như một tội nhân để gánh lấy muôn vàn tội lỗi cho loài người chúng ta. Ngài đă chấp nhận con đường khổ giá, chịu người ta hành hạ, sỉ vả, vu khống; bị bạn bè, môn đệ bỏ rơi trong những lúc hiểm nguy nhất của cuộc đời. Và cuối cùng Ngài đă tự nguyện giơ hai tay cho người ta đóng đinh vào thập giá. Có đau khổ nào của chúng ta mà Đức Kitô không phải gánh chịu. Hiểu được như vậy, mỗi khi suy niệm về đàng thánh giá Chúa, chúng ta được yên ủi biết bao.

 

7 - TẦNG HẦM

Kiến trúc của ngôi nhà Việt cũng phản ánh rơ nét triết lư âm dương; có phần nổi và có phần ch́m. Phần nổi là “động”, phần ch́m là “tĩnh”. Kiến trúc theo lối nhà sàn (có tầng hầm) cũng không ngoài ước muốn hướng tới một cuộc sống hài ḥa. Người Việt vẫn quan niệm: Thứ nhất dương cơ, thứ nh́ âm phần. Do đó, việc ngôi nhà có sàn cao, ngoài nhiệm vụ để ứng phó với môi trường, khí hậu nhiệt đới, có độ ẩm cao th́ tầng hầm c̣n thể hiện phần lắng sâu tâm hồn.

 Tầng hầm của nhà thờ Chính Ṭa là nơi hàng năm, cử hành Thánh lễ trọng thể để cầu nguyện cho các linh hồn, và xin ơn tha thứ cho những người đă ra đi trước chúng ta, đặc biệt là những người con Thái B́nh. Ngoài ra, tầng hầm c̣n được sử dụng vào việc tổ chức các sinh hoạt của cộng đoàn dân Chúa giáo xứ Chính Ṭa, như sinh hoạt giáo lư và hội họp của các đoàn thể Công giáo trong giáo phận.

Ở chính giữa của tầng hầm, có đặt bức tượng Mẹ Sầu Bi được tạc một cách hết sức tinh xảo. Nh́n ngắm tượng Mẹ Maria đang ôm xác Đức Giêsu - con của Mẹ – chúng ta được yên ủi rất nhiều. Bởi v́ trong nỗi đau khổ tột cùng của kiếp nhân sinh là cái chết, chúng ta đă có Mẹ Maria đồng cảm. Hơn ai hết, Mẹ là người thấu hiểu nỗi đau của người mẹ mất con, nỗi xót xa của những gia đ́nh, họ hàng, bè bạn… khi mất đi người thân yêu của ḿnh.

Dưới chân tượng Mẹ Sầu Bi là phần mộ của hai Đức Cố Giám Mục Đaminh Đinh Đức Trụ và Giuse Maria Đinh Bỉnh. Cả hai ngôi mộ đều được ốp bằng đá sà cừ, trên đó đặt một bảng đồng chạm trổ các hoa văn theo lối cổ điển, đề tên và ngày qua đời của các ngài.

 Trong niềm tin vào sự sống lại và sự sống đời sau, với tâm t́nh của người con thảo, chúng ta hăy cùng gửi gắm hai Đức Cố Giám Mục, các linh mục và tất cả những ai đă an nghỉ… cho ḷng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa và bàn tay từ mẫu của Mẹ Maria Sầu Bi.

 

                                                                     CHƯƠNG IV

                                                                    THAY LỜI KẾT

“Bấy giờ tôi thấy một trời mới đất mới, v́ trời đất cũ đă biến mất, và biển cũng không c̣n nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mời, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang.” (Kh 21, 1-2)

Những thị kiến mà Gioan đă tŕnh bầy trong sách Khải Huyền, có lẽ cũng là tâm t́nh của giáo phận Thái B́nh hôm nay. Trong niềm hân hoan mừng ngôi thánh đường nhà thờ Chính ṭa mới được khánh thành, những người tín hữu Thái B́nh c̣n biết nói ǵ hơn lời cảm tạ Thiên Chúa.

Có thể nói, ngôi nhà thờ mới chính là hoa quả đầu mùa, là kết tinh của bao công khó của tất cả mọi thành phần dân Chúa trong giáo phận. Nhưng công lao đầu tiên và trên hết, phải kể đến Đức Cha Phanxicô Xaviê – vị cha chung của giáo phận.

Kể sao cho hết những ưu tư lo lắng của vị mục tử giáo phận khi đă ở vào độ tuổi “xưa nay hiếm”. Ngài đă trăn trở, lo toan, từng ngày từng giờ để săn sóc, cho công tŕnh nhà thờ Chính Ṭa được thành toàn. Có thể ví những lo lắng của ngài đối với ngôi nhà thờ Chính Ṭa như người mẹ hiền lo cho đứa con ḿnh đang cưu mang trong dạ.

Kể sao hết những khi trái gió trở trời, đứa con khó ở, quẫy đạp, người mẹ hiền lại quằn người đau đớn; kể sao hết những tháng ngày người mẹ ấy tần tảo sớm hôm, biết bao những giọt mồ hôi và cả những nước mắt… tất cả không ngoài mục đích lo chuẩn bị để đón chở ngày đứa bé chào đời.

Kể từ khi có kế hoạch xây lại ngôi thánh đường nhà thờ Chính Ṭa, Đức Cha đă phải nhiều lần lặn lội sang tận trời Tây để lo tài chính cho công tŕnh; không phải lần nào cũng thuận buồm, xuôi gió. Những lần như thế không tránh khỏi những hiểu nhầm, nghi ngại…

Để có được ngôi thánh đường nguy nga lộng lẫy như ngày hôm nay, giáo phận Thái B́nh không thể quên được công lao của các đấng bậc trong giáo phận; các kỹ sư thiết kế, các tổ thợ thi công… và cũng không thể không nhắc đến những tấm ḷng hảo tâm, đă hy sinh công của, chung sức với giáo phận để xây lên ngôi đền thánh này. Có những người được giáo phận biết đến để ghi ơn; nhưng cũng không thiếu những người chỉ âm thầm chắt chiu từng đồng xu nhỏ của ḿnh nhưng là cả số tài sản lớn, như đồng tiền của bà góa xưa được Tin Mừng nhắc tới. Có những người âm thầm hiến tặng những ngày công, hay những cụ già chỉ đóng góp bằng những lời cầu nguyện…

Mỗi thành phần dân Chúa, trong và ngoài giáo phận bằng sự đóng góp của ḿnh đă như là những viên gạch để xây lên ngôi nhà thờ Chính Ṭa Thái B́nh hôm nay. Không ai khác, ngoài một ḿnh Thiên Chúa có thể chứng giám và trả công cho các đấng bậc và quư vị.

Việc ngôi nhà thờ Chính ṭa mới được khánh thành, lại một lần nữa, khẳng định sức sống và niềm tin của giáo phận Thái B́nh. Trong ánh nắng ban mai huy hoàng, ngôi nhà thờ đang và sẽ măi vươn cao như thách thức với thời gian, như một sự tái khẳng định với con người, với cuộc đời rằng: cho dù đất trời có đổi thay, nhưng ḷng những người con dân Thái B́nh vẫn luôn son sắt thủy chung.

Giáo phận Thái B́nh bước sang một trang sử mới. Kể từ nay, chúng ta có thể nói như sách Khải Huyền rằng: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, c̣n chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Sẽ không c̣n sự chết; cũng chẳng c̣n tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, v́ những điều cũ đă biến mất” (Kh 21, 3-4).

Cũng trong viễn cảnh của sách Khải Huyền, người tín hữu Thái B́nh có quyền hy vọng vào một tương lai tốt đẹp đang đón chờ chúng ta ở phía trước. Cùng với ngôi thánh điện mới, chúng ta cũng hăy đổi mới con người, đổi mới ngôi nhà thờ tâm hồn, để xứng đáng trở nên ngôi đền thờ cho Thiên Chúa ngự trị.

Lạy Chúa Giêsu, xin hăy đổi mới cuộc đời mỗi người chúng con. Amen.

 

Nguồn :

 

Trang web của Giáo phận Thái B́nh : http://giaophanthaibinh.net/home/index.php
Trang Lịch sử Giáo Phận và nhà thờ Thái B́nh : http://giaophanthaibinh.net/home/type.php?iCha=3&iCat=24&module=news

H́nh ảnh : http://www.flickr.com/photos/celiasu/sets/72157613004305724/detail/?page=3

http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=48182

Có thể xem thêm nhiều h́nh ảnh nhà thờ Thái B́nh ở địa chỉ sau :

http://giaophanthaibinh.net/home/channel.php?iCha=6&module=gallery