|
NÉT HỘI NHẬP
VĂN HÓA NƠI NHÀ THỜ CHÍNH TOÀ LẠNG SƠN
Nguồn :
Dũng Lạc
I. TÌNH TRẠNG NGHỆ THUẬT THÁNH TRONG GIÁO PHẬN
Lịch sử sơ lược. Năm 1913 Giáo phận Lạng sơn được thành lập, gồm
phần đất tỉnh Lạng sơn – Cao bằng và một phần thuộc tỉnh Hà giang,
đặt dưới sự coi sóc của các linh mục dòng Đa-minh Lyon Pháp. Cha
chính Bertrand Cothonay, vị phủ doãn tông toà đầu tiên đã cho xây
dựng nhà thờ chánh toà, tiểu chủng viện thánh Tê-rê-xa bên Mỹ sơn,
nhà thờ Mỹ sơn… Tiếp đó các đấng kế vị như Đức Cha Félix Hedde và
Đức Ca André Jacq tiếp tục cho xây dựng các cơ sở vật chất cho Giáo
phận. Tới năm 1954, Giáo phận đã có tổng cộng hai mươi hai nhà thờ,
một tiểu chủng viện, và một số cơ sở tôn giáo khác trên núi Mẫu sơn.
Riêng tại tỉnh Lạng sơn có mười hai nhà thờ, Cao bằng có mười và Hà
giang chưa có. Nhằm giúp hơn năm ngàn tín hữu sống rải rác, hầu hết
các công trình lúc đó thường xây dựng nhỏ bé vừa phải, phù hợp với
nhu cầu thực tế, nhưng không thiếu tính mỹ thuật, lại phù hợp với
hoàn cảnh và văn hoá vùng cao, như nhà thờ Bản Lìm, nhà thờ Thất Khê
hay nhà thờ Mỹ Sơn.

Sau biến cố năm 1954 và cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, Giáo
phận Lạng sơn gặp nhiều khó khăn vì giáo dân bỏ xứ đi nơi khác sinh
sống. Số còn lại phải lầm than vất vả, nhiều nhà thờ phải đóng cửa
vì không có chủ chăn, hoặc đổ nát, vì không có người thường xuyên
lui tới. Nhà thờ chánh toà cũng chung số phận, do bom đạn tàn phá.
Giáo phận tạm dùng một căn nhà nhỏ bé, chật chội ở khu đất Cửa nam,
Văn miếu, để làm nhà thờ chánh toà trong suốt hai mươi lăm năm qua
với quả chuông được treo trên cành nhãn.
Tới năm 1999 Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt về làm Giám mục Lạng
sơn - Cao bằng. Ngài đã bắt đầu cho tu bổ lại một số nhà thờ đổ nát,
xuống cấp và xây dựng nhà thờ chánh toà mới theo tinh thần hội nhập
văn hoá.
II. GIỚI THIỆU MÔ HÌNH KIẾN TRÚC NHÀ THỜ CHÁNH TOÀ LẠNG SƠN
Mô hình kiến trúc được kết hợp bởi kiểu nhà sàn các dân tộc Miền
Núi phía Bắc và bộ mái cong kiểu cung đình Việt nam. Có diện tích
chiều ngang ba mươi mét và sâu hai mươi lăm mét cả hành lang, có ba
lối để lên sàn nhà thờ, nhà thờ có hai mái bộ xếp lên nhau khoảng
cách bằng một bức tranh kính mầu, mái trên tượng trưng cho Trời, mái
dưới tượng trưng cho Con Người, sàn móng vuông tượng trưng cho Đất,
theo quan niệm Thiên, Địa, Nhân, Hoà, nghĩa là con người được hoà
giải với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô qua Mầu Nhiệm Thập giá. Cây
tháp chính năm tầng được xây dựng liền với tiền sảnh nhà thờ ngụ ý
nói đến Mầu nhiệm Năm Sự Sáng và năm yếu tố tổng hợp, vũ trụ quan
Đông phương: Kim-Mộc-Thuỷ-Hoả-Thổ.
Hai hướng Bắc-Nam của nhà thờ xây hai tháp nhỏ có hai tầng, mỗi
tháp treo một đèn lồng bằng gỗ thắp sáng; phía bắc ngầm nói đến ý
truyền giáo lên tỉnh Cao bằng và Hà Giang, phía nam nói đến công
việc truyền giáo cho tỉnh Lạng sơn. Tất cả các mái nhà thờ và mái
các tháp, đầu mái hơi cong lên, và được lợp ngói âm dương màu xanh,
diễn tả tâm hồn siêu thoát muốn vươn lên tới Chúa và ngầm hiểu về
con thuyền của nền Văn hoá Nông nghiệp Việt nam.
1. Khu sân chính
Cảnh đẹp thiên nhiên ở đây hài hoà với công trình kiến trúc, từ
cổng tam quan chay theo trục lộ Văn Miếu tiếp nối với đường Tổ sơn,
tạo cho người xem cảm giác dễ chịu. Đây là dãy tường thành cao hai
mét, được trang trí bằng những hoạ tiết thuyền, chim Lạc Việt, hạt
giống, trái tim, và thập giá. Tất cả đều muốn nói lên việc truyền
giáo ở Việt nam và tỏ lòng kính nhớ tổ tiên Lạc Hồng.
Từ hướng tam quan theo lối chính đến tiền sảnh nhà thờ, con đường
lớn rộng năm mét, dài ba mươi mét, nằm giữa khoảng sân tiếp nối
đường kiệu hình bát giác, có những lối đi nhỏ dẫn đến tượng đài Đức
Mẹ và thánh Đa Minh. Phía trước tiền sảnh nhà thờ, có đặt mười hai
trống đồng ngầm nhắc mọi người nhớ đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp
của cha ông.

2. Tượng đài Đức Mẹ và tượng thánh Đa Minh
Từ sân nhà thờ theo hướng Nam, du khách có thể đến xem tượng đài
Đức Mẹ theo những lối mòn qua những ụ đất thấp. Tượng đài được chạm
bằng một phiến đá quí màu trắng, cao hai mét sáu mươi, nặng gần một
tấn, do các nghệ nhân điêu khác nổi tiếng của vùng Non nước (Đà nẵng)
thực hiện. Tượng được tạc theo hình dáng một phụ nữ người Tầy và đặt
trong một hang đá nhỏ với quần thể núi non thấp, hình thác Bản Dốc,
một địa danh lừng lẫy của tỉnh Cao bằng.

Đối diện với tượng đài Đức Mẹ là tượng đài Thánh Đa-Minh, bổn
mạng của nhà thờ. Tượng Thánh nhân cũng được tạc trên một tảng đá
quý màu trắng, cao hai mét sáu mươi, nặng gần một tấn do các nghệ
nhân nói trên thực hiện. Gương mặt Thánh nhân tươi trẻ mang vóc dáng
và hình hài Việt nam, tay phải cầm ngọn đuốc cháy sáng, tay trái
mang sách Thánh Kinh. Thánh nhân đứng trên thửa ruộng bậc thang như
đứng trên cánh đồng truyền giáo để chiếu sáng Đức tin và rao giảng
Tin mừng, theo lý tưởng dòng tu ngài đã thành lập là Dòng Anh em
giảng thuyết (O.P: Ordo Praedicatorum).
3. Tiền sảnh nhà thờ
Khi đến tiền sảnh nhà thờ, du khách có thể nhìn xem tác phẩm Nước
thanh tẩy chạm vằng đá trắng, rộng ba mét rưỡi, dài mười hai mét
trải dài trên mặt sàn cầu thang. Tác phẩm chia làm ba phần: phần một
gợi nhớ tầu ông No-ê trên biển khơi lênh láng. Oâng No-ê đang ló đầu
ra khỏi tầu để xem có thấy chim bồ câu trở về báo hiệu trận lụt sắp
qua hay không. Phần hai nhắc lại cảnh ông Mô-sê đưa người Do thái
vượt qua Biển đỏ cùng với hành trang và gia súc. Nước rẽ ra sừng
sững như từng thành hai bên tả hữu. Phần ba mượn hình ảnh xe nước (cũng
gọi là cọn) của dân tộc miền núi. Cọn nước muốn liên tưởng đến phép
rửa, nguồn mạch sức sống mới do Chúa Kitô mang lại cho những ai tin
và đón nhận Người.

4. Giếng rửa tội và tấm bình phong
Giếng rửa tội hình Thánh giá được ghép bằng đá quí đào lấy ngay ở
sảnh chính, lòng giếng ghép bằng đá trắng, mặt trên được bao phủ
bằng những tảng đá cuội rộng một mét rưỡi, dài ba mét, sâu bảy mươi
lăm phân cùng bảy bậc lên xuống. Giếng này mô phỏng giếng làng của
dân địa phương.

Bình phong được dùng để che cửa chính nhà thờ theo quan niệm
truyền thống cung đình Việt nam, làm cho ngôi nhà thờ được kín đáo
theo luật phong thuỷ, đồng thời cũng tỏ lòng kính trọng nơi tôn
nghiêm. Đây là một phiến đá trắng rộng ba mét rưỡi, cao hai mét sáu
lăm phân và dày hai mươi phân, diễn tả cảnh Chúa Giêsu đang nói
chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri. Trong tư thế nhẹ nhàng, Chúa ngồi
bên bờ giếng giữa ánh nắng ban trưa, còn thiếu phụ ở đó để nghe
Người nói. Chị ta mặc y phục nùng, bàn tay như muốn rời khỏi vòi
nước để đi báo cho những người khác chuyện lạ mình mới được nghe.
5. Phần nhà thờ.
Những hàng cột vuông vững chắc ngoài hành lang có các bệ đỡ đầu
cột, kết hợp với hình Thánh giá nhỏ cùng xà dây như hai cánh tay
giang ra để đón những hình người đau khổ chịu đóng đinh. Cửa chính
nhà thờ là tấm vách gỗ chạm hai Thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô.
Thánh Phê-rô tay cầm chìa khoá, đang ngước mắt lên trời. Dưới hồi
cửa là hình con gà đang gáy. Còn Thánh Phao-lô, tay ôm sách Thánh,
nét mặt đăm chiêu. Bên dưới hồi cửa có chạm thanh kiếm sắc và những
bông hồng.
Cửa hông mặt tiền nhà thờ, về phía nam là hình Thánh Gio-an và
Lu-ca, về phía bắc là hình Thánh Mát-thêu và Mác-cô. Bốn vị này mang
khuôn mặt Việt nam, mặc y phục Nùng, tay cầm bút nghiên.
Thánh Mát-thêu mang hình mặt người, vì Tin Mừng thứ nhất bắt đầu
từ gia phả Chúa Giêsu theo bản tính loài người. Thánh Mác-cô theo
hình mặt sư tử, vì đầu sách Tin Mừng thứ hai nói về Thánh Gio-an
Bao-ti-xi-ta là tiếng kêu trong hoang địa có sư tử, cầm thú. Thánh
Lu-ca mang hình bò mộng vì đầu sách Tin Mừng thứ ba nói đến tư tế
Gia-ca-ri-a dâng chiên bò tế lễ Thiên Chúa. Thánh Gio-an mang hình
chim ưng, vì đầu sách Tin Mừng thứ bốn nói về Ngôi Lời Nhập thể chứa
đựng Mầu nhiệm siêu việt tựa cánh chim bay cao vút.
Phần còn lại là các cửa ra vào bên hông và cửa sổ. Tất cả những
thứ này đều mang hình Thánh giá, hoa hồi và hạt giống.

6. Cung Thánh
Cung Thánh được bao bọc bằng gỗ màu gụ gợi ý trầm tư, với rèm
trang trí chạm hình thiên thần, cây trường sinh, sồi Mam-rê, bách
tùng và những trái đào trường thọ. Kiểu cách này ngụ ý diễn tả sự
sống vĩnh cửu nơi Thiên Chúa. Aùnh sáng nhẹ nhàng phát ra từ những
tấm kính mầu là có ý tạo ra một bầu khí êm ả, thích hợp cho sự cầu
nguyện riêng tư thầm kín, ngoài những buổi cử hành phụng vụ cộng
đồng.

7. Bàn thờ
Bàn thờ là một phiến đá quí. Màu trắng nổi bật, dài hai mét năm
mươi phân, rộng chín mươi phân, cao chín mươi sáu phân được chạm
khắc tinh vi bằng những hoạ tiết như bánh trường sinh, nho, lúa miến,
hoa hồi theo nghệ thuật truyền thống và hiện đại. Bàn thờ được đặt
nơi trang trọng nhất trong cung Thánh.

8. Giảng đài
Giảng đài đặt tại phía nam gian cung Thánh, làm bằng một phiến đá
quí màu xanh, chạm hình cọn nước đang quay, ngụ ý nói Lời Chúa như
nước chảy, được kín múc để tưới vào cánh đồng khô cạn là tâm hồn con
người. Cọn nước là một phát minh của dân tộc miền núi.

9. Nhà Tạm và Hương án Lời Chúa.
Nhà Tạm làm bằng gỗ, được thiết kế theo mẫu nhà sàn của các dân
tộc vùng núi miền Bắc và đặt ở phía nam cung Thánh. Cửa chính nhà
Tạm chạm hình trái tim đang bốc lửa cháy.

Hương án Lời Chúa được thiết kế theo kiểu đình làng Việt nam, đặt
tại phía bắc cung Thánh với bốn cột thông thoáng. Giữa cột đình có
một ngai nhỏ để sách Thánh Kinh. Đình làng là nơi qui tụ dân chúng
thì hương án Lời Chúa cũng là nơi tập hợp tín hữu lại để nghe Lời
Chúa.
10. Thánh giá, huy hiệu Giám mục
Thánh giá này nhỏ, được chạm bằng gỗ quí, cao bảy mươi phân, rộng
năm mươi phân diễn tả cảnh Chúa chịu chết đang hấp hối trên thập giá.
Thánh giá được gắn vào một cây trúc, đặt ở phía bên trái cạnh bàn
thờ và có thể làm Thánh giá để đi kiệu.
Huy hiệu Giám mục được chạm bằng tấm đá màu trắng đục, rộng năm
mươi phân, cao bảy mươi phân, được đặt bên phải cung Thánh kèm theo
khẩu hiệu Chạnh lòng thương với các họa tiết trái tim, hoa hồng,
chuỗi Mai-khôi.

11. Tranh sơn dầu Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và Thập giá.
Bức tranh sơn dầu, diễn tả Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và thập giá có
kích thước cao hai trăm năm mươi phân và rộng hai trăm ba mươi phân,
tả cảnh Đức Giêsu Ki-tô chịu khổ hình thập giá, hiệp thông với Chúa
Cha và Chúa Thánh Thần.
Chúa Giêsu ngước mắt lên cùng Chúa Cha, vẻ tha thiết nguyện cầu,
cạnh một khoảng cách nhỏ tượng trưng Chúa Thánh Thần. Chúa Cha đầy
lòng trắc ẩn, đang nhìn Chúa Con thắm thiết yêu thương; các Đấng có
khuôn mặt giống nhau.
12. Trần gỗ
Mặt bằng trần gỗ với diện tích bảy trăm năm mươi mét vuông, giật
lên bảy cấp, được trang trí chạm khắc mười sáu lồng đèn gỗ, toả ánh
sáng vàng. Đỉnh trần cao nhất là hình hoa hồi tám cánh, nơi có hình
vòng tròn đồng tâm diễn tả lửa tình yêu và cánh thiên thần bay lượn,
xoay quanh hình chén cứu độ.

13. Kính mầu
Hai mươi kính mầu cửa sổ có kích thước một trăm năm mươi phân
trên hai trăm phân diễn tả mầu nhiệm Mai khôi, bao bọc chung quanh
nhà thờ, bắt đầu từ tay phải Cung Thánh, đi từ Năm Sự Vui đến Năm Sự
Sáng. Các Mầu nhiệm này được trình bày theo các nét văn hoá
Việt-Nùng.

14. Phù điêu người gieo giống
Hai bức hình có kích thước rộng một thước bốn mươi lăm, dài hai
thước bốn mươi được gắn tại hai bức tường nhỏ phần cuối nhà thờ:
phía Bắc là tấm phù điêu Người gieo giống, diễn tả cô gái Nùng đang
vãi hạt giống trên thửa đất gồ ghề, sỏi đá; bức thứ hai là phục vụ,
diễn tả cảnh Chúa Giêsu đang rửa chân cho các Tông đồ. Các vị mặc y
phục miền núi.

15. Đường Thánh giá
Mười bốn bức sơn mài dài bảy mươi phân rộng năm mươi phân diễn tả
cảnh Đức Mẹ và các nhân vật ăn mặc theo lối Việt-Nùng. Những bức
tranh này do các nghệ sĩ Hội Mỹ Thuật thành phố Hồ Chí Minh thực
hiện.

16. Chuông nam
Chuông cao một mét chín mươi, được đúc bằng đồng thau, do các
nhóm nghệ nhân thuộc phường đúc xứ Huế thực hiện, trên chuông có
khắc hoa văn các dân tộc miền núi, lời thánh vịnh và thơ công giáo.
Chuông được treo tại tầng thứ hai của cây tháp.

Trên đây là mấy ý tưởng nói về nhà thờ chánh toà giáo phận Lạng
sơn vừa được cung hiến vào ngày mồng hai tháng 10 năm 2004. Hai vị
Hồng y và nhiều Giám mục, đông đảo các linh mục, tu sĩ nam nữ cùng
bà con tín hữu gần xa tới tham dự. Giáo phận Lạng sơn là một trong
những giáo phận nhỏ bé nhất Việt nam tính theo con số giáo dân và
nhà thờ hiện tại. Vì thế công trình để giới thiệu chỉ có nhà thờ
chánh toà vừa được xây dựng là một công trình mang tính nghệ thuật,
(kèm theo một số hình ảnh chụp lại sau đây). Các công trình lịch sử
quí không có, công trình khác cũng không, nghệ sĩ sáng tác chỉ có
một, cũng là người vừa phụ trách trang trí nhà thờ chánh toà, và
đang lo giúp các công trình khác tu bổ hay xây dựng mới.
.
Tác giả Jos ngọc huấn
|