|
|
Nhưng tại sao cứ đến ngày Tết chẳng ai bảo ai mà thiên hạ
cứ tự động kiêng như thế ? Kiêng theo tập tục? Kiêng v́ mê tín? Hay
kiêng như thế th́ có may mắn thực?
Tôi không biết. Chỉ thấy rằng ông bà tôi kiêng, rồi cha mẹ tôi
kiêng th́ đến tôi, tôi cũng cứ theo thế mà kiêng luôn. Và tôi chắc
rằng con tôi, cháu tôi, có thể có óc khoa học hơn tôi, nhưng rồi
cũng cứ sẽ kiêng như thế.
Lúc ấy, lễ giao thừa đă xong rồi. Giấc ngủ lúc hai ba giờ sáng
ngon lành hơn cả bao giờ. Gặp ngày thường th́ năm giờ sáng đă có
người đi lại ở ngoài đường rộn ră, nhưng sáng ngày mồng một Tết,
người ta ngủ muộn mà không sợ ai khinh động giấc ngủ ḿnh. Bảy giờ,
và có khi hơn bảy giờ mới dậy.
Nằm ở trên giường mở mắt nh́n th́ thấy cả cái nhà ḿnh mới hẳn ra,
cửa vẫn đóng kín mà lại sáng như cái động. Th́ ra đèn nến ở trên các
bàn thờ để suốt đêm không tắt, nhang ṿng vẫn cháy đưa ra một mùi
thơm ngạt ngào ḥa với hương hoa, ḥa với gió đàn của những cánh
đồng bao la lùa qua cửa sổ, ḥa với tiếng đàn của mùa xuân về trong
ư nhạc lời thơ. Rơ ràng anh mở mắt nhưng cảm như thấy tổ tiên ḿnh
về ngự ở trên bàn thờ tṛ chuyện với nhau, và phù hộ cho con cháu
thực. Âm dương không c̣n cách biệt xa vời nữa. Dương quang không
chỉ đầm ấm trong hơi sương ngọt ở ngoài kia, mà ngay ở trong mạch
máu của ḿnh. Anh thấy sinh khí len khắp nhựa cây mạch đất và thấm
cả vào trong da trong thịt của anh. Khúc nhạc hồn non nước thấm
nhuần anh, thử hỏi anh không yêu Việt Nam, nghĩ Việt Nam và cảm Việt
Nam sao được?
Từ mấy hôm trước, người vợ đă dặn đi dặn lại các con: ngày Tết
không được quét nhà, v́ sợ đuổi thần tài ra cửa, không được đánh vỡ
chén bát để tránh đổ vỡ suốt năm, không được khâu vá kim chỉ v́ kim
chỉ tượng trưng cho công việc làm ăn vất vả.
Bây giờ kiêng thế là giản tiện nhiều rồi đấy, chớ ngày xưa các cụ
c̣n kiêng gọi tên con khỉ, con chó, con lợn v́ nói đến tên chúng th́
không may mắn; người làm ruộng kiêng nói đến tên "cày" trước khi
cúng cái cày; các gia đ́nh lễ giáo kiêng viết lách trước khi làm lễ
khai bút; c̣n các nhà buôn bán th́ kiêng bán hàng trước khi làm lễ
tiên sư ở quầy hàng để xin trời đất phù hộ cho buôn may bán đắt.
Tất cả những sự kiêng kỵ đó, chồng con đă biết quá đi nhưng năm
nào người vợ cũng cứ phải nhắc đi nhắc lại như
thế, tuồng như không
nhắc th́ chịu không được.
Con cái trong nhà mà tỏ vẻ hoài nghi về các sự kiêng kỵ
đó th́
gọi là c̣n lôi thôi, rầy rà. Là v́ người vợ cho rằng tất cả những sự
kiêng kỵ đó không phải là dị đoan, mà là tin tưởng.
Phải, tại sao Tết lại đặt vào ngày cuối và đầu năm âm lịch, mà
không đặt vào ngày nào ấm áp như Đoan Ngọ hay Thất Tịch?
Ấy là v́ tổ
tiên ta lúc chọn ngày để đặt ư Nguyên Đán đă có một
ư định là
đem lại cho Tết Nguyên Đán một sự phù hợp với tính chất sinh hoạt
dân tộc: các cụ chọn một ngày rảnh nhất, một ngày có
ư nghĩa nhất
trong một năm để tưởng nhớ đến ông bà, rước xách thờ cúng và nghỉ
ngơi cho khỏe.
Đặt vào ngày cuối Đông đầu Xuân, ngày Tết Nguyên Đán c̣n có một
thâm ư sâu xa hơn nữa, theo Từ Nguyên, xuân có nghĩa " trai gái
vừa ḷng nhau " xuân là cựa động, băng gía tan hết, muôn vật đến mùa
xuân đều cựa động mà sống lại. Từ quan niệm ấy, người ḿnh tiến đến
tín ngưỡng thờ Thần Đất. Họ tin rằng trong không, thời gian mà Thần
Đất vắng mặt trên trần th́ không ai được động chạm đến đất, như cày
bừa cuốc xới đất lên hay giă gạo làm cho vang động đất. Ngày Tết,
do đó có ư nghĩa là đón sự trở về của Thần Đất: người ta chờ lúc cây
cối đâm lộc nảy mầm, muôn vật trở lại cuộc sống b́nh thường, chỉ sợ
v́ một cớ ǵ bí mật, không phồn thịnh và sản xuất như xưa nữa. Họ
tin rằng nếu không kiêng kỵ th́ Thần Đất sẽ không phù hộ loài người
và sẽ làm cho cây cối, con người, súc vật của cải không thể nào phát
triển. Đến bây giờ, người Tây mặc dầu có tiếng văn minh đáo để cũng
vẫn có những tin tưởng như vậy, thế th́ ta tin tưởng nếu kiêng th́
Thần Đất phù hộ cho mọi vật tăng gia sản xuất, chẳng có chi là kỳ
quặc.
Tục tiễn ông táo, tục không quét nhà, tục xông đất thoát thai từ
sự tin tưởng đó. Có người bảo rằng sự tin tưởng đó có từ lúc dân ta
bắt đầu định cư và sống về nông. Có từ lúc nào cũng được, nhưng tựu
trung th́ cũng chẳng có hại ǵ, v́ tin Thần Đất như thế cũng như thờ
cúng ông bà cha mẹ, ai cũng phải nhận là một tục hay mà người
phương Tây không thể cho là dị đoan, mê tín.
Người chồng không có ư kiến ǵ hết, nhưng cảm thấy rằng ngày Tết,
mọi người đều kiêng cữ mà ḿnh không kiêng th́ không được yên tâm.
V́ thế, mặc dầu viết báo đôi khi chế giễu tục này tục nọ, của ngày
Tết, mà về với gia đ́nh anh ta vẫn kiêng kỵ như ai và cảm thấy có
một thích thú nhẹ nhàng, kín đáo trong sự kiêng kỵ đó. Kiêng như thế
có " ăn tiền " không, cái đó không cần lắm; nhưng cần là làm như
thế ḿnh ḥa đồng với đồng bào, ḿnh tự động đoàn kết với anh em và cũng
như mọi người, ḿnh cũng nuôi một hoài băo là năm mới
có tiến bộ
mới và sự tiến bộ đó, muốn đạt, phải nghiêm chỉnh nghênh đón một
cách trang trọng từ ngày đầu năm.
Người ta thăm viếng nhau, chúc tụng nhau chính là để thi hành
nghiêm chỉnh sự tiến bộ đó và làm như thế, họ muốn cho năm mới không
xúi quẩy, trái lại, tươi tốt bằng mười năm cũ. Tục cắm nêu, vạch vôi
vẽ cung tên nhắm không cho quỉ ma quấy nhiểu là mong cho sức khỏe
tốt hơn, tục quấy nước sáng mồng một đổ đầy chum vại là mong cho của
cải đề đa, c̣n tục "bán dại" ở Nghệ Tỉnh trở vào Thừa Thiên ngày
trước là mong cho trí óc mở mang, khôn ngoan, minh mẩn hơn năm cũ.
Cứ tin như thế, người ta thấy đời đẹp hơn, đáng yêu hơn. Vừa lúc
đó, ở ruộng khoai lại nở những bông hoa tím, ở vườn cải lại có những
búp vàng, mưa xanh gió tím ôn ḥa, người dân vui sướng đến tận độ,
sáng lên mắt biếc, hồng xuống làn môi cũng là lẽ đương nhiên, không
có chi đáng lạ.
Có ai ở tỉnh thành ăn Tết ngày mồng một rồi đến mồng hai, mồng
ba đi về những vùng đất thơm ngát hoa đồng cỏ nội mới thật thấy
cái Tết của ta đẹp biết ngần nào, êm ái biết ngần nàọ Người nông dân
vất vả quanh năm, được mấy ngày ấy nhất định nghỉ không ra đồng. Chè
chén đă đành rồi, nhưng tội ǵ mà chẳng vui chơi để giải quyết sự
thèm khát giải trí mà vua quan ngày trước không hề nghĩ tổ chức bao
giờ. V́ thế nghe thấy đầu xuân có hát tuồng cổ " Quan Vân Trường quá
ngũ quan trảm lục tướng " hay " Dự Nhượng tam đả Long bào ", ở cách
xa nơi họ ở dăm mười cây số, họ cũng cố đi xem cho kỳ được. Tuy vậy,
vẫn cứ " tưng tức thế nào " cho nên tại vài làng mát mặt ở Bắc
Việt, các đàn anh vào dịp Tết vẫn rủ nhau rước ả đào, tuồng cổ,
phường chèo về diễn cho mọi người xem và được người ta nhớ măi :
Sang xuân đ́nh đám vui như Tết
Hết đám làng bên lại đám làng...
Em nhớ đào Nhâm phường Đặng Xá
Đóng bà Thị Kính mắc hàm oan.
Thị Mầu chọc ghẹo mà không chuyển,
Nhâm có đôi bàn tay rất ngoan.
Phần tôi nhớ nhất là một năm ăn Tết ở
Huế, đánh bài cḥi nghe
hát hôm mùng hai rồi đến mồng ba đi Hà Tĩnh, thăm một người bạn làng
Thượng, được em gái bạn dắt đi xem tuồng " Triệu Tử pḥ A Đẩu " rút
trong Tam Quốc. Thế th́ có ǵ lạ ? Quảng Lạc, Sán Nhiên Đài lại
không thủ tuồng đó hay sao mà lại phải lặn lội đến tỉnh Hà Tĩnh để
xem?
Không bao giờ tôi quên được đặc trưng của vở tuồng cổ đó, mà theo
người em gái của bạn tôi kể lại th́ Tết nào làng này cũng chỉ diễn
một đoạn ấy thôi - kỳ hơn nữa là diễn ban ngày, trong khi mọi người
đi lại nhộn nhịp trên bờ sông thật. Bởi v́ khung cảnh toàn là thật
cả, chớ không phải vẽ như ở trong rạp hát: sông thật, người thật,
thằng nhỏ thật, thuyền thật.... Diễn viên, từ ở trong đa'm người
đi lại trên sông tiến ra, làm điệu bộ và hát, rồi nhảy từ thuyền nọ
sang thuyền kia thực, múa gươm, chuyển từ hát khách sang tẩu mă
trước những lời khen lao nức nở của các o đứng nấp dáng sau những
cột đ́nh cười tít cả mắt đi.
Thôi th́ ngày Tết ở đâu mà chẳng vậy, trai gái dù là theo lễ giáo
đến mấy đi nữa cũng có quyền đùa giỡn chuyện tṛ ve văn nhau, ai cấm!
Có chàng trai tán tỉnh xa xôi:
Xuân về nở thắm muôn đào,
Xuân về nở thắm ḷng ta, ḷng nàng.
Có cô thiếu nữ đa t́nh khuyến khích:
Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ,
Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau
Nhưng cũng có chàng trai ngổ ngáo "dăng dện " sát sạt hơn:
Hỡi cô mặc cái yếm hồng
Đi trong đám hội có chồng hay chưa
Có cô mặc cái yếm xanh,
Đứng trong vườn quít cho anh phải ḷng!
Bao nhiêu lời tán tỉnh khéo léo nhất, thanh niên nam nữ đều đưa
ra hết và họ chơi đùa thả cửa, chơi bất cần luân lư của quan lại
phong kiến đưa ra để giam giữ họ trong tù ngục của t́nh yêu; ở đâu
cũng có hát ví, kéo co, đánh cờ người, đá cầu; ở Phủ Quỳ ( Nghệ
An), Làng Chánh ( Thanh Hóa ), Bảo Lạc ( Hưng Hóa ), trai gái dắt
nhau đi chơi một đêm một ngày ở trong hang, thổi khèn hát đúm, uống
rượu, tung c̣n, t́m nơi thanh vắng để tỏ t́nh yêu thương mùi mẫn; ở
Vĩnh Yên có thi vật; ở Bắc Ninh, Phú Thọ có món đánh phết; ở Tích
Sơn (Hưng Hóa), làng Yên Đổ (Hà Nam) có tṛ đuổi lợn, đuổi cuốc
trong ngày Tết; ở Thu Cấm (Hà Đông) có thổi cơm thi, thổi xôi thi;
ở Thanh Hóa có " tết cơm cá ", ở hầu hết Bắc Việt
có lễ " trâu ", lễ " tróc ngư ".... Trong bất cứ cuộc vui nào, trai gái cũng kề
vai sát cánh, và công nhiên đú đởn với nhau mà không sợ ai dị nghị.
Theo tôi, t́nh tứ nhất và hứng ḷng nhất là dún đu :
Dún ḿnh như thể dún đu
Càng dún càng dẻo, càng đu càng mềm.
Ngày Tết, bước ra khỏi Hà Nội một hai cây số ta có thể thấy ở bất
cứ làng nào cũng có trồng một vài cây đu để cho trai gái trong làng
hay những vùng quanh đấy đến dún dẩy với nhau. Thường thường các cụ
trong làng cứ khoảng hai mươi nhăm, hai mươi sáu tháng chạp đă cho
tuần tráng đi đẵn tre để trồng đu. Tết đến, trai gái nhún với nhau
từ bảnh mắt cho đến tối.
Cây đu làm bằng tám cọc tre trồng rất chắc dưới đất v́ trồng càng
chắc th́ dún càng khỏe. Cái ngáng đu vận bằng rơm, giữa hai hàng
cột gioăng ra hai bên. Trên đỉnh, phất phới một hai lá cờ đuôi nheo. Thường thường, đu trồng không đủ để trai gái dún, thành ra đúng
như lời thơ của nhà nữ thi sĩ:
Người thời lên đánh kẻ ngồi trông
Trông cho thích mắt th́ đă đành, nhưng nhiều khi là
đợi đến phiên ḿnh dún.
Đu càng cao, các cô, các cậu càng đưa mạnh.
Các cậu cố dún. Các cô ưỡn thêm lên.
Trai đu gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng...
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song …..
Đu lên bổng, chiếc áo nâu non của cô gái dan díu với chiếc quần
the thâm của chàng trai, đôi dải yếm lụa quấn quít lấy chiếc quần hồ
trắng bốp...... hai lá cờ đuôi nheo cũng phải rung lên một cách đa
t́nh. Yêu mấy ơi cô gái tuyết trinh chưa biết trăng gió là ǵ, thế
mà đứng chờ bắt đu trông thấy dải yếm cô nàng và áo của chàng trai
quấn quít lấy nhau cũng đỏ hồng đôi má và lờ đờ cặp mắt lá khoai....
Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu rơ tại sao nước ta bị đặt dưới
ngàm của vua quan phong kiến mà những phong tục Tết đó, chống đối
luân lư phong kiến ra mặt, vẫn cứ tồn tại mà bọn phong kiến không
làm ǵ diệt được. Có người bảo rằng v́ họ tàn ác, nhưng lại giả đạo
đức nên không dám diệt trừ thẳng tay v́ đó là tàn dư của chế độ tạp
giao thời nguyên thuỷ mà lại nặng nề phần tín ngưỡng - nếu nhất
thiết ngăn cấm th́ ảnh hưởng ngay đến mùa màng sản xuất của tập thể
và đời sống hàng ngày của nhân dân.
Có lẽ v́ thế các nhà luân lư, phong kiến thấy trai gái vào ngày
xuân, giao du thân mật đành cứ phải làm ngơ ; hơn nữa, họ lại phải
làm ngơ luôn nhiều tục cổ khác c̣n " hăng " hơn
thế, như bắt chạch,
tung c̣n, rước cái nơn nường.
Tôi tiếc không được biết tṛ bắt chạch vốn là một tṛ chơi cổ
ngày nay không c̣n nữa, nhưng theo một vài cố lăo th́ " lúc Tây chưa
hạ thành " ở một vài tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang, Phủ Lạng, có tổ
chức tṛ ấy trong ngày Tết. Muốn dự cuộc chơi này, trai gái phải đi
từng cặp, trai ôm lấy vai gái, gái quàng lấy cổ trai thắm thiết ân
t́nh, c̣n một tay th́ tḥ vào một cái kiệu (một thứ chum, vại lớn)
để khoắng nước t́m chạch. Cặp nào bắt được chạch th́ được thưởng
nhiễu điều, trầu cau hoặc tiền.
Hội tung c̣n cũng bắt buộc phải có cặp: một trai, một gái. C̣n
cầu tức là quả cầu làm bằng vải màu, trong độn rơm hoặc trấu. Hai
bên trai gái xếp hàng chữ nhất, đứng cách nhau chừng vài mươi bước,
một bên tung lên, bên kia bắt lấy, rồi tung trả lại. Bên nào không
bắt được, bị coi là thua và thua là phải tháo gỡ một vật ǵ mang
trong người để đưa cho bên thắng, rốt cuộc tháo cả yếm ra và chỉ c̣n
một cái quần.... Nhưng sau chót, định đoạt xong được thua rồi,
người được cũng trả lại đồ cho bên thua và cả hai bên cùng uống rượu
say sưa trong một t́nh thương yêu bát ngát.
Tung c̣n như thế, bắt chạch là như thế, nhưng đến rước cái nơn
nường th́ quả là cúng rước.
Ai đă ở Bắc vui mấy ngày xuân, thế nào mà chẳng có lúc đă nghe
thấy người ta hát:
Bơi Đăm, rước Giá hội Thầy,
Vui th́ vui vậy chẳng tầy Giă La......
Tục truyền rằng ở làng La (Hà Đông), vào ngày ra đám, dân làng tổ
chức một ngày rước rất long trọng rồi đến một giờ nhất định tắt đèn
đi để cho ông già bà cả và thanh niên, thiếu nữ thả cửa sờ soạng
nhau. Hồi gần đây, những làng như Khúc Lạc (Phú Thọ) và Di Hậu (Hưng
Hóa) giữ tục " rước cái nơn nường " trong những ngày Tết cũng là nằm
ở trong tinh thần khuyến khích đoàn kết, cầu nguyện cho sinh sản
tăng gia, phồn thịnh. Theo mấy cổ lăo ở Phú Thọ c̣n sống hiện nay
th́ vào một ngày tốt lành đầu năm - không nhất định ngày nào - các
bực đàn anh trong làng tổ chức một cuộc lễ nơn nường hết sức long
trọng. Ta thường nói " ba mươi sáu cái nơn nường
". Thành ngữ ấy do
ở đây ra. Nơn là bộ phận sinh dục đàn ông, nường là bộ phân sinh
dục của đàn bà. Trong cuộc lễ, dân làng để nơn và nường làm bằng gổ
lên kiệu rước, có nam đồng quan và nữ đồng quan đi giật lùi trước
kiệu vừa đi vừa hát " Ba mươi sáu cái nơn nường, cái để đầu giường
cái để đầu tay ". Cuối cùng, các vị chủ tế tung nơn nường lên trên
trời, trai gái đổ xô ra cướp, gái mà được cái nơn, trai mà được cái
nường th́ may mắn vô cùng và nếu có sự trục trặc hay không tổ chức
được buổi rước v́ nguyên nhân ǵ đó th́ cả làng lo sợ v́ có nhiều
phần chăc chắn là năm ấy không may mắn.
Ngày Tết ở Bắc, rỗi răi mà đi xem hết hội này đến lễ kia như thế,
phải nói thật quả là ḿnh sung sướng như tiên. Tết đi thăm nhau,
chúc mừng nhau, uống rượu ăn mứt, ăn kẹo với nhau, đánh cờ đánh kiệu
vớ'i nhau, vui quá thể, ai mà lại c̣n không biết; nhưng vui thắm
thía, vui ư nghĩa, vui sâu xa th́ phải nói thực, đó là nhờ những đám
rước, những tục cổ, những tṛ chơi như thế.
Các tṛ chơi như thế có một ư nghĩa xă hội rơ rệt. Tết xiết chặt
t́nh yêu hơn lên, Tết là ngày giải lao, Tết là ngày vui vẻ đoàn kết,
đoàn kết người sống với người chết và đoàn kết người sống với người
sống.
Ăn Tết ở đây, tôi tự hỏi hàng trăm ngàn lần cái ư nghĩa đó có hay
không? Ấy là v́ vào cái cữ này ở đây trời nắng tan vàng nứt đá, đi
ngoài đường một lúc mắt cứ hoa lên. Thử tưởng tượng vào khoảng mười
giờ ngày mồng một Tết, trời nắng chói chang mà đóng bộ " đồ lớn "
vào - cho trịnh trọng - đi một quăng đường độ ba cây số để mừng Tết
người bạn thân th́ mồ hôi mồ kê ra nhễ nhại đến chừng nào! Đi tắc xi
th́ xót ruột - trèo lên xe là đi đứt sáu chục đồng rồi - đi xe lam
th́ mệt, mà đi xe gắn máy th́ rất có thể thành heo quay; ấy thế mà
đến nơi th́ bạn lại đi vắng, đành để lại tấm cạc với bốn chữ " Chú
mừng năm mới " nhạt phèo! Về đến nhà, người bạn thấy tấm cạc thở hắt
ra: nếu không đáp lể th́ mang tiếng, mà đến thăm bạn th́ mệt, tốn
tiền xe, mà chắc ǵ bạn đă có nhà! Nhưng mà cứ phải đi! Và người nào
cũng cứ phải làm như thế cho đủ " lễ bộ
", cho trọn " ân t́nh ". Rốt cuộc, anh nào anh nấy mệt phờ râu, tốn thêm tí' tiền nguyên đă
hiếm hoi, khó kiếm từ khi có thuế kiệm ước và kiểm kê huê lợi.
Nhưng đôi khi người khách cũng may mắn mà gặp chủ nhân ở nhà. Cả
hai cùng cười ha hả như những kẻ suốt đời sung sướng, nhưng thâm tâm
th́ cả chủ lẫn khách đều lo. Khách lo v́ đến nhà nào cũng phải nhắc
lại mấy câu sáo cũ và uống chén rượu nhạt mừng xuân; c̣n chủ cũng lo
là v́ theo tập tục, ai đến cũng phải mời ly rượu, mà rót ly rượu cho
khách ḿnh cũng phải uống một ly, v́ không như thế th́ khách buồn,
có khi lại lầm tưởng ḿnh là... kẹo. Thành thử ra phải uống. Ông
khách nào đến, cũng phải uống, cũng phải chuyện tṛ.
Liền ba ngày Tết mà cứ tái diễn măi cái tṛ như thế th́ sức mấy
mà không quỵ, mà không chán mớ đời. V́ thế,
có nhiều người ở đây sợ
tết, cứ sắp hết năm th́ lại xếp một số' tiền đem cả gia đ́nh đi Đà
Lạt hay Vũng Tàu, Nha Trang với thâm ư' " bế môn tạ khách
".
Theo trí nhớ của tôi, ngày trước ở Bắc Việt h́nh như không có
t́nh trạng thương tâm đó. Ấy có lẽ một phần v́ các đường phố không
xa lắc xa lơ và dài thườn thượt hàng chục cây số ngàn. Có lẽ cũng
c̣n v́ từ tháng mười trở ra cho đến Tết, trời đă bắt đầu lạnh mà
thường th́ vào cuối chạp, đầu giêng trời lại có mưa xuân, đàn ông
th́ khỏe ra mà đàn bà th́ tưoi hơn hớn, ví có phải tiếp vài chục
người khách, uống vài chục chung rượu, người vẫn cứ mạnh như thường
- ấy là chưa kể đến đêm lại c̣n thức tới một hai giờ sáng đánh bài,
rút được ông cụ rồi lên cửu sừng hay " nuôi lợn " tốt đỏ tốt đen,
thiết tưởng chích thuốc bổ nào cũng không bằng!
Ở miền Nam, làm ǵ có cái mùa xuân đó, có cái lạnh riêu riêu đó.
Vào cữ Tết, nắng ở đây gọi là vỡ đầu xát tai, nhưng cần ǵ, có lẽ
một phần nhờ cái vỡ đầu xát tai đó mà đồng bào trong này có bao
nhiêu trái cây lạ để ăn Tết; mà như thế cũng có một cái thú riêng,
đố Trung Việt hay Bắc Việt có thể t́m được đấy.
Này, từ khoảng hai mươi tháng chạp, dưa được người ta đưa về bằng
ghe, bằng cam nhông, bằng xe thổ mộ tràn đầy cả chợ lớn chợ nhỏ,
tràn đầy các sạp, các vỉa hè, anh có thấy không? Muốn ăn Tết bằng
dưa hấu bao nhiêu cũng có, anh đừng sợ, nhưng ngại ăn nhiều nóng
th́ Tết ở Sài Thành c̣n có sầu riêng, măng cụt, vú sữa
tím hồng, vú
sữa trắng xanh; sa-bô-chê ở đây ngọt sắc mà mềm, cắn một miếng th́
nó quện lấy chân răng ( Tết ở Bắc chắc chắn là không
có i-chi-ma
bóc vỏ trông y như là ḷng đỏ trứng gà); c̣n cóc, c̣n "chùm ruột",
c̣n bao nhiêu loại bưởi, bao nhiêu loại ḅng và mới đây ta lại c̣n
trái " thày kiện " ăn cũng ngon ra phết.
Hoa trái miền Nam nhiều quá, ngon quá, cứ ǵ phải bày vào đĩa cho
đẹp ăn mới thấy ngon. Tôi đă thấy
có nhiều người vào những ngày ư chói chang nắng lửa, sà vào một cái qua'n cóc, uống ực một ly
đế để rồi đưa cay một miếng thơm hay vài quả chùm ruột chấm mắm nêm
cũng đă ngon " quá xá " rồi. Bầy vẽ nhiều, mệt lắm. Nhưng ít lâu
trở lại đây, mệt th́ mệt, đồng bào ở đây ăn Tết cũng đă " kỳ kèo "
hơn trước rất nhiều. Cùng với những cái áo dài may kiểu mới thay
thế cho những cái áo bà-ba cũn cỡn, anh em ta ở đây, ngày Tết, đă tỏ
ra trang trọng hơn trước trong việc trang trí nhà cửa và ăn uống
cũng như sửa soạn. Mà người Nam mỗi khi đă sửa soạn th́ đẹp như tiên.
Anh xa nhà, nhờ cái Tết Bắc Việt thân yêu mà được thưởng thức những
cái đẹp muôn màu ngàn sắc như thế, ḷng nguôi ngoai hẳn được hơn
phân nửa, đàn bà uống xá xị. nước sâm ngọt xớt, c̣n đàn ông th́ ít
nhất cũng biết uống lave, nhưng đa số nói thực th́ quả là những cái
" cốc-tay " bằng da bằng thịt...... cứ trông thấy họ uống mà bắt
tởn ! Này anh Ba, đưa cay một miếng bánh tét chơi. Bánh chưng ngoài
Bắc có thứ nhân mặn, có thứ nhân đường th́ ở đây cũng có bánh tét
nhân thịt và bánh tét nhân chuối; trẻ con ngày mồng một đă dắt nhau
đi ăn hủ tiếu, ḿ th́ người lớn cũng xót ruột cũng khéo nghĩ ra ăn
Tết bằng bánh xèo, gỏi cuốn, bún ḅ gị heo; nhưng Tết mà muốn ăn
một món ra ǵ, đố ai không phải chịu món thịt ḅ nhúng dấm, món
suông và bánh ú! Ăn xong rồi đi dạo dưới trời nắng, mệt th́ vào nhà
hát ngồi máy lạnh rồi đến lúc ra về mỗi người làm một ly nước trái
cây; sướng qúa đi ! Sướng cái bao tử đă đành, nhưng sướng cả con mắt
nữa v́ miền Nam có một cái đặc biệt là có rất nhiều mai: mai vàng, mai trắng, mai tứ
thời. Người xa nhà thấy mai nở nhiều như thế cũng
dịu được phần nào ḷng thương nhớ quê hương nhưng chân không v́ thế
mà ngừng bước; giữa ngày Tết, trong đám thiên hạ vui xuân, y cứ đi
như một người bị chứng thụy du, đầu óc mông lung, nhớ cái Tết Bắc
Việt không thể nào chịu được.
C̣n nhớ có một năm chùa Phổ Quang, trong Bắc Việt Nghĩa Trang làm
lễ kỷ niệm pho tượng Địa Tạng vừa mới đúc xong. Trời xui khiến làm
sao anh lại lạc bước đến Tân Sơn Nhất qua sân vận động.
Thấy người ta lũ lượt kéo nhau rẽ vào một đường hẹp ở bên tay
phải, anh cũng theo vào. Ồ này, Tết Sài G̣n vẫn c̣n ghi dấu tích ở
ngoài phố trong nhà, vậy mà chỉ đi một quăng đường, anh ta được
hưởng một cái Tết Bắc Việt ở cách Sài G̣n có tám cây số - thế có tài
t́nh không?
Lúc đó, chừng mười giờ. Nghĩa trang chật ních người, tưởng như
không c̣n chỗ mà chen chân nữa. Lạ thay là cái trực giác của người
ta, mắt cũng mắt ấy, miệng cũng miệng ấy mà quần áo cũng quần áo ấy,
vậy mà vừa nh́n thấy, ta đă biết ngay là người Bắc.
Người ta nh́n nhau với những con mắt âu yếm như chào; miệng không
nói với nhau mà như kể không biết bao nhiêu tâm sự. Thôi mà, nói
làm ǵ. Mười tám mười chín năm nay bỏ Bắc Việt ra đi, ở đầu lưỡi
người nào cũng chỉ có một câu hỏi " Bao giờ về ? Phải, bao giờ về ?"
Chẳng ai trả lời được cho ai cả.
Người xa nhà đành giấu kín câu hỏi ḷng và mỗi khi đi lễ giao
thừa là tự an ủi, bằng sự trông vào một Đấng Tối Cao trong cơi vô
h́nh chỉ huy kiếp con người.
Lạy Trời Đất Quỷ Thần ! Xin phù hộ cho chúng con mạnh chân khỏe
tay để một ngày kia được trở về chốn chôn nhau cắt rốn.
Những ngày Tết trước, ở đất Bắc xa xưa, dưới nhang khói chùa Trấn
Vũ, đền Ngọc Sơn, hay là đền Bạch Mă, tôi đă trông thấy người ta lễ
thành khẩn, lễ xuưt xoa và cảm thấy ḷng thích thú v́ thấy người ta
tin tưởng. Nhưng ở chùa Phổ Quang, trong Bắc Việt Nghĩa Trang ở Sài
G̣n Tết ấy, thấy đồng bào chen nhau lễ, từ ngoài sân lễ vào chùa, lễ bên phải, lễ bên trái, lễ từ trên gác chuông lễ xuống, lễ từ dưới
pho tượng Địa Tạng lễ lên, tôi rờn rợn cảm thấy nếu đồng bào cúng lễ
như thế này mà ḿnh đóng vai bàng quan, không cúi đầu thông cảm th́
ḿnh quả là một thứ người gỗ đá.
Thương biết bao nhiêu những người ngồi phệt xuống cỏ ngoài vườn
mà cầu nguyện, những cô đầm lai trẻ tuổi vận áo nâu cùng tụng kinh
với các cụ già, những thanh niên sung sức tay cầm lá sớ, tay cầm bó
nhang vừa lễ mà lại vừa rưng rưng nước mắt.
Thương biết chừng nào những bà cụ mắt kém c̣n cố ḍ dẫm đi vào
chánh điện để cắm hương vào bát nhang cầu cho những con cháu ở xa
xôi; những cô em gái khấn khứa cho những người anh đi " giết giặc "
bây giờ c̣n số'ng hay đă chết, những t́nh nhân cầu xin phù trợ cho
những t́nh nhân trôi nổi dậm cát đồi cây, chân trời góc bể......
Nhưng tất cả cái đó không mầu nhiệm bằng việc xin xâm. Có ai đứng
xem những người xuưt xoa lễ bái xin : Ngài " một quẻ thẻ đầu năm để
biết " kiết hung ", theo dơi từ lúc lấy xâm cho đến lúc nhờ thầy
đoán thẻ xong rồi, rồi mới biết ở đời chỉ một câu nói, một nụ cười,
một mảnh giấy không to bằng bàn tay mà có thể tạo vui, buồn, sướng, khổ cho người ta nhiều qúa.
Tôi đă thấy những ông mặt trông ngổ ngáo run lên như tờ lá khi
biết là ḿnh đă xin phải quẻ xấu " mọi việc đều không nên - nhưng
trái lại, lại có những cô mặn mà mắt lé, cười tươi đáo để khi cầm
một quẻ thẻ " thượng ", Ngài báo cho biết là trong năm sẽ khỏi bịnh,
người đi xa sẽ về và lại gặp " lương duyên
".
Ước ǵ ḿnh là Trời để cho ai cũng được một phút vui ra phết,
sướ'ng lạ lùng như thế. Ước ǵ ḿnh có phép làm cho vợ được gặp
chồng, anh được gặp em, t́nh nhân được gặp t́nh nhân, ở đời không
c̣n bao giờ có sự chia cây rụng lá, tan cửa nát nhà, sinh ly tử biệt
…
Này, lễ xong ra sân ngoài xem họ làm ǵ mà đông đảo thế kia ? th́
ra đó là một cuộc giải trí hoàn toàn Bắc : cờ bỏi và cờ tướng. Tung
tung ! Lá cờ đỏ phất đi…Tung tung ! Lá cờ vàng phất lại !
Ngồi uống một bát nước trà tươi nấu với nước mưa, trong như hổ
phách, nhẩn nha hút một điếu thuốc lào, khách nh́n ra trước mặt th́
thấy sau chùa có một rặng cây dương cao ngất, c̣n bốn xung quanh th́
là những cây đa cổ hữu của đền đài Bắc Việt; khách nghe thấy tiếng
trống, tiếng chuông; khách ngửi thấy mùi nhang, mùi trầm và mơ về
một ngày nào ở vườn xưa quê cũ có những ngày như thế này, có nêu,có
khánh, có pháo, có cờ người, có kéo co, có đánh vật, có chọi gà, có
trai, gái đẹp như thơ lấy nón che nửa mặt hoa để ví von, ḥ hẹn.
Xin Trời Phật phù hộ cho không bao giờ có những ngày xuân, ngày
Tết không có hoa và bướm, không bao giờ có những cây không nẩy lộc,
những cặp mắt không sáng ngời và cũng không bao giờ lại có những con
người xảo trá, tham tàn, độc ác......
Tác giả : VŨ BẰNG Sưu tầm : Tiểu
Tà
Tuyển Tập: Thương Nhớ Mười Hai H́nh ảnh: Đông Tà
|
|