|
|
TRỊNH CÔNG SƠN :
CÁI ĐIỀU
CHƯA NÓI Người
Việt Nam (Trịnh
Công Sơn: Ai
bảo cho ngươi gánh nạn đời (Nguyễn
Đ́nh Chiểu) Nhạc
sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) qua đời cũng
đă một tháng. Bây
giờ th́ những xúc động ban đầu
đă có đủ thời gian để lắng
xuống, con người đă trở lại b́nh
tỉnh để nghĩ xem do đâu mà ḿnh yêu
mến TCS. Có cái ǵ nơi TCS đă làm cho bao nhiêu
triệu người Việt thấy rất bàng
hoàng khi nghe tin anh nằm xuống ? Tôi sống xa quê hương từ khi c̣n trẻ, có gặp anh Sơn một vài lần ngắn ngủi nhưng không thể bảo là thực sự có quen anh. Cái “quen biết ” với anh, đúng ra, cũng chỉ như bao nhiêu người khác là “quen biết” âm nhạc của anh – thu nhận từ một khoảng rất xa – thế thôi . Nhưng trong quá tŕnh ḿnh sống và lớn lên, không nhạc sĩ nào gây được ấn tượng sâu sắc trong tôi như TCS. V́
nhạc của TCS rất quyến rũ, tại
sao th́ tôi không cắt nghĩa được.
Có lẽ do lời ca rất nên thơ,
với những từ dùng rất khéo, và tất
cả nằm trong một cái ǵ tha thiết,
nhẹ nhàng. Trong
lời ca lại có nhiều tính
riêng chung nên đáp đúng cái t́nh tự sâu kín
trong mỗi con người. Nhạc
của anh là nhạc t́nh.
T́nh đó là t́nh yêu, mà cũng là t́nh thương,
và t́nh dân tộc. Tôi
vốn thích nhạc trữ t́nh, mà nhạc
của anh lăng mạn, t́nh cảm. Anh là người nhỏ nhẹ, lời hát
cũng nhỏ nhẹ, cái yêu thương,
phẫn nộ hay đau xót cũng nhỏ nhẹ
mà nói lên. V́
thế mà thấm thía. Người
Việt vốn đa t́nh và sống thiêng về
nội tâm, mà nhạc của anh rất nên thơ. Lộng trong đó thỉnh thoảng lại
có man mác những tư tưởng của Nam Hoa
Trang Tử, của đạo Phật (hư vô, cát
bụi, vô thường, “chợt
thấy trong ta hiện bóng con người
” vv…). Trong nhạc
của anh ta thấy được bên chữ tâm
đậm nét c̣n có một chữ ngộ nằm tiềm
ẩn. Anh lại
hướng thượng:
TCS không làm những loại Tục
Ca bao giờ ! Và
bên cái t́nh yêu lai láng lại có cả một t́nh
lớn dân tộc. Thời
của anh, thưở đó, có lẽ là một
trong những thời kỳ đau đớn
nhất của lịch sử Việt Nam:
Chiến tranh với ngoại bang để dành
độc lập, đồng thời cũng có
những cái nghiệt ngả trong nhau giữa người
Việt, để
vấn đề càng phức tạp thêm.
Thưở đó, từ trong ḷng mỗi người,
dù ở bất cứ khuynh hướng nào, cũng
thấy
trổi dậy một niềm thương dân
tộc ḿnh:
Cuộc chiến tranh v́ không tương
xứng lực lượng, và không đồng văn
hóa, nên đă quá dă man. Các giá trị tinh
thần của xă hội miền Nam lại đảo
lộn do sự trấn đóng của hơn
nửa triệu quân Mỹ.
Trong cái ư thức về thân phận nhược
tiểu của ḿnh, con người Việt Nam khao
khát ḥa b́nh, mong chấm dứt chiến tranh, chém
giết. Niềm đau nói trên, người Việt Nam nào cũng đều có, cọng thêm với cái đau đớn riêng của mỗi kiếp người. Nhân sinh quan Việt Nam do đó mà yếm thế, và cần có t́nh thương, niềm tin và hy vọng. Tất cả những t́nh huống này, TCS đă diễn tả được, bằng cả nhạc và lời ca. * Anh
Sơn lớn hớn thế hệ của chúng tôi
trên dưới mười năm.
Ngày anh tŕnh diễn ra mắt công chúng, tôi c̣n
ở những năm cuối Trung Học.
Thưở đó, nhạc của anh chưa
có ǵ đặc sắc, nói chung chỉ là
những bản t́nh ca như Hạ Trắng, Ướt
Mi
vv… Chúng chưa
cho thấy có ǵ mới mẻ hơn những
bản Tà
Áo Xanh,
Hương
Xưa,
Ai Lên
Xứ Hoa Đào
vv.. ; c̣n về mặt t́nh quê hương th́
những Nương
Chiều, Tiếng
Nước Tôi vv… vẫn c̣n chiếm địa
vị độc tôn.
Những bài hát khác, đa số là nhạc
phục vụ cho chiến tranh, th́ lại đầy
nhan nhăn. Không
kể mấy bài tầm thường như
kiểu “đi quân dịch là thương ṇi
giống
”, những bài khá hơn, tuy mới nghe th́ hay, nhưng
ngay sau đó lại thấy nhàm : Anh đi chiến dịch xa vời Đó
là giai đoạn “những
năm xáo trộn” sau khi ông Diệm bị
giết vào tháng 11-1963.
Màn đen của chiến tranh đă bao
phủ khắp nơi .
Con người sống trong nỗi lo âu,
thấy tương lai mơ hồ, trôi nổi .
Trong cuộc sống th́ hằng ngày gặp
hết cuộc đảo chính này đến
cuộc đảo chính khác,
các thế lực tôn giáo th́ chống đối
nhà cầm quyền và chống đối lẫn
nhau… Rồi quân đội Mỹ đổ vào,
xă hội miền Nam thay đổi lớn theo
cuộc chiến, với thuốc khai quang, với
“oanh kích tự do”, với pháo đài bay B-52 san
bằng rừng núi lẫn ruộng đồng …
, rồi không quân
Mỹ đánh phá miền Bắc, vv… Trước
trạng huống đó, người Việt dĩ
nhiên là đau ḷng, và một trong những người
dám nói lên suy nghĩ của ḿnh là TCS.
Giữa một cơn cuồng phong rầm
rộ ca ngợi cho chiến tranh, tiếng nhạc
của anh vang lên, thiết tha, trăn trở: Ôi đêm dài và cơn băo rớt [TCS:
Đêm Bây Giờ, Đêm Mai] Tiếng
ca nhắc nhở về một thực tại băng
hoại, trong đó những chết chóc không
chỉ thuần về vật chất nhưng c̣n
thống khổ hơn: Ngày thật dài trong âu lo [TCS:
Ngày Dài Trên Quê Hương] * Điều
đă làm TCS khác xa với các nhạc sĩ khác là
những suy nghĩ của anh tiến rất nhanh.
Thoạt tiên -
với những Diễm
Xưa, Tuổi
Đá Buồn,
Nh́n Những Mùa Thu
Đi,
vv.., người ta ngỡ anh chỉ là
một nhạc sĩ có nhiều nét đặc
sắc riêng thôi, và - ngoài
t́nh ca ra -
anh sẽ không khác ǵ số đông văn
nghệ sĩ “bềnh
bồng ”
lúc đó: Lũ chúng ta đầu thai nhầm thê’
kỷ [Vũ Hoàng
Chương] Bởi
v́ khi mới bắt đầu, nhạc của anh
đă phản ảnh cái t́nh huống yếm
thế của người Việt, thấy
buồn về “thân
phận da vàng”, trong đó con nguời mang kiếp sống “từng ngày từng xót xa …”
[Xin Mặt Trời
Ngủ Yên].
Nhưng anh không dừng ở đó mà đi
nhanh vào những suy tư về cuộc đời
[“ôi quê hương
đă lầm than, sao c̣n, c̣n chiến tranh”],
và trong anh có nhiều nét xây dựng rất tích
cực, trong sáng: Cho tôi đi xây lại chuyện t́nh Cái
đặc điểm của TCS là dưới
một h́nh thức uyên áo gần như lăng
mạn viễn mơ, anh đă nói lên được
những hiện
thực phê phán.
Rồi từ hiện thực phê phán, anh bước
thêm một bước nữa:
dấn thân nhập cuộc. Hăy nghe TCS huy động niềm tin trong
ḷng người Việt: Ta
bước
bước
đi, bước bước hoài
trên quê hương dấu
yêu này [TCS: Chưa Ṃn Giấc
Mơ + Huế Sài
G̣n Hà Nội] Chính
anh cũng đi tiên phong, tự ḿnh làm một “tiếng
kêu trong sa mạc”, kêu gọi t́nh thương dân
tộc. Quần
chúng yêu mến anh cũng v́ trong ư hướng
của anh luôn luôn mang ư niệm “nước
Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là
một”,.
Anh chống lại với cái ác, chống
chiến tranh, và cổ vũ niềm hy vọng : V́ quê hương sẽ có ngày hoà b́nh * Có
lẽ không phải t́nh cờ mà cùng lúc TCS đang
tích cực dấn thân với những tác
phẩm như “Huê’
Sài G̣n Hà Nội” hay “Nối
Ṿng Tay Lớn”
... th́ trong giới trí thức trẻ ở Sài G̣n
cũng đă đưa ra bao nhiêu lời nhắn
gọi . Đó là nhạc: Ngủ đi con, rồi mai khôn lớn
cầm súng với cầm gươm [Miên
Đư’c Thă’ng: Lời Ru] Hay
là thơ: Cả giống ṇi ta đang rên
siết từng giờ Giữa
TCS và những người này, ai đă ảnh hưởng
ai, chúng ta hăy để về sau cho những nghiên
cứu gia t́m ṭi.
Chỉ biết là những tập Ca
Khúc Da Vàng,
Kinh
Việt Nam
vv.. của TCS ra đời từ khoảng 1967
trong khi nhạc của Miên Đức Thắng, Tôn
Thất Lập vv... đến với quần chúng
cũng phải từ 1970 trở đi .
Nhà văn Thế Uyên kể lại (trong
một bài ở tạp chí hay sách nào đó, tôi
quên mất) (*1),
có một nhóm người đă họp nhau
tại “Tuyệt T́nh Cốc”
ở Huế. Theo
Thế Uyên, hôm đó có người của đủ
các phe phái, “quốc giaV, “cọng sảnV vv.., có
cả TCS. Họ bảo với nhau là “vạch
ruột mà nói”
và hứa “không
nh́n thấy sao trắng bên này, sao đỏ bên
kia
” (bản thân Thế
Uyên h́nh như là người của VN Quốc Dân
Đảng). Sau này,
gặp TCS vào năm 1986, tôi hỏi anh chuyện
đó có hay không, anh bảo có.
Nhưng anh chỉ nói vắn tắt:
“họp
nhau rồi chia ra mỗi đứa về làm
một chuyện
”. Hỏi anh làm
chuyện ǵ, anh bảo: “viết
”.
Tôi định hỏi viết ǵ, nhưng nghĩ
lại những ǵ anh viết ra đều có
xuất bản, ai cũng biết, nên thôi. * Một
nét đặc sắc khác của TCS là tiếng kêu
của anh luôn luôn phát xuất từ 1 con tim yêu
thương, nhắc nhủ “Hăy
Yêu Nhau Đi”,
hăy nối lại t́nh thương đă nhiều
đổ nát: Từ Bắc vô Nam nối liền
nắm tay … [TCS:
Nối Ṿng Tay Lơ’n] Tuy
không ai nhận ra một cách rơ rệt, nhưng
trong hơi hướm của nhạc TCS, người
Việt vẫn cảm được một t́nh
yêu chân thành với quê hương đất nước.
Nhạc của anh là nét nối dài của t́nh
yêu nước thiêng liêng của dân tộc
Việt Nam, c̣n man mác trong ḷng mỗi cá nhân qua
từng thế hệ : Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây [Nguyễn
Đ́nh Chiểu: Chạy Giặc ] Ṭ le kèn thổi tiếng năm
ba Nghe lọt vào tai dạ xót xa [Phan Văn
Trị: Qua Vĩnh Long] Và
cái t́nh dân tộc, trăm con của cùng một
mẹ: Lẽ nào ta lại giết ta ! [Phan
Bội Châu: Hải
Ngoại Huyết Thư] Có mưa có gió có trời
[Phan Bội Châu: Trùng
Quang Tâm Sử] Tôi có người yêu chết
trận Pleimei [TCS:
Tôi Có Người Yêu] * Ở
TCS, ta c̣n thấy được cái chân t́nh cao thượng.
Những năm đi “học tập” về, nh́n đi ngó lại quanh ḿnh
bỗng thấy ban bè lần lượt đi
“chui” hết, anh sống trong cô
đơn. Nhưng
anh biết t́m niềm vui cho ḿnh để
sống [“mỗi
ngày tôi chọn một niềm vui ”],
đồng thời quên cái cô quạnh để
“lấy
câu khẳng khái ” mà
an ủi người ra đi: Em ra đi, nơi này vẫn thế [TCS:
Em C̣n Nhơ’ Hay Em Đă Quên] Tha
thiết đến như vậy, nhưng “vô lượng
chúng sinh ”
đă không hiểu, và nhiều kẻ đă hăng
hái đi ném cả một cơn phẫn nộ vào
anh. Tuy vậy
đồng bào trong nước hiểu
đươc. Họ
biết trong câu nhạc của anh là cả
một tấm ḷng vị tha truyền thống
của người Việt.
Lời anh là lời của một người
thân trong gia đ́nh, nhắn nhủ với kẻ
đi xa rằng kẻ ở lại bao giờ cũng: Vẫn để ḷng theo người
lận đận [Thê’
Lữ: Giây Phút
Chạnh Ḷng] Và
đại diện cho cả gia đ́nh là TCS,
một người lẽ ra phải được
hiểu là đă: Lấy câu khẳng khái tiễn
đưa nhau [Thê’
Lữ: Giây Phút
Chạnh Ḷng] * Có
lẽ cái lẽ
sống là điều quan trọng nhất
đối với TCS, c̣n những thứ khác
- như anh
vẫn luôn nhận định
- đều
chỉ là cát bụi
. Coi trọng
lẽ sống nghĩa là luôn đi t́m
một lối sống có ư nghĩa, và làm sao
đạt được cái ư muốn đó.
Nó chắc chắn không phải sống để
: Nỡ nghe
tiếng loạn đem tai rửa Biết
như thế để hiểu được niềm
đau của con người mang trong ḿnh
một nhân sinh quan rơ rệt về lẽ
sống; nhưng
lắm khi v́ hoàn
cảnh, phải đành im lặng, ẩn
nhẫn, ngậm ngùi. * Ta
cần nhớ rằng lịch sử Việt Nam là
một lịch sử đầy bao trùm của
bạo lực. Trước
hết là cái “di
sản đắng cay” có từ trước, như anh nói: Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu Mẹ
để lại cho con những ǵ?
Chiến tranh do bạo lực bên ngoài mang
đến. Chết
chóc, lầm than. Bạo
lực này lại tạo ra “một lũ bội t́nh”, để chạy theo nó, áp bức anh em ḿnh.
Đó là bạo lực bên trong.
Hai bạo lực này chung sức nhau tạo
trong đầu óc người Việt những
mặc cảm tự ti, sợ sệt, ích kỷ,
quên t́nh nguời, hay thù oán vv…
Hiện tượng “tha
hoá trên chính quê hương ḿnh” hay tâm lư muốn làm “những
kẻ đứng bên lề ”
là những điều phổ biến mà giới
trí thức Việt Nam đă nhận định
được trong thập niên 1960-1970. (*2). Đây
không phải là một điều mới .
Nó manh nha từ thời Tây mới vào, và
đă sớm lan tràn từ thời cụ Phan
Bội Châu kia . Các cụ goi nó là cái vạ "chết ḷng", nghĩa là “xác tuy c̣n đó ”
nhưng tấm ḷng đă chết.
Cho nên mới có Đông Kinh Nghĩa Thục
[DKNT] và phong trào Duy Tân đi song song với
việc vũ trang giành độc lập, để
“gọi hồn nước", gọi quốc dân
hăy "bỏ ḷng mê lại, bỏ ḷng tham đi ”.
V́
các cụ thất bại nên cái
“vạ chết ḷng” c̣n sống, và khoẻ mạnh thêm ra !
V́ thế muốn sống có ư nghĩa, trước
tiên người Việt Nam phải biết “dám ” suy nghĩ, trước khi dám có một thái độ,
và hành động. Người
cố gắng khơi dậy lại tinh thần
của Phan Bội Châu và DKNT cho cả nước
có lại “chút
thiên lương
” là tiên sinh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.
Thời của Tiên Sinh, chế độ
thực dân Pháp đă thành công lớn trong
việc tha hoá người Việt với mơ
mộng, theo mới vv…
của Tây Phương qua áo quần,
kiểu đầu chải bốp, mốt nhảy
Tango và say mê những lăng mạn viễn mơ qua
Tố Tâm Đạm
Thủy , Lan và Điệp, phong
trào “Học
Kiều” của Phạm Quỳnh, vv…
Nhà thơ Tản Đà, trong h́nh thức lăng
mạn thoát ly hầu tránh con mắt ḍm ngó
của bạo lực -
và cũng để làm viên kẹo bọc
đường cho đám đông u tối
thấy dễ nuốt
- đă khéo
léo kéo người Việt lại với cái
ư thức non nước: Nước non nặng một lời
thề Sơn hải hỡi ai lời thệ
ước Hay
là Nọ bức dư đồ ngắm
thử coi Sông sông núi núi khéo bia cười Biết bao
thưở trước công vờn vẽ [Vịnh
Bức Dư Đồ Rách] Tản
Đà không thành công trực tiếp, nhưng cái
hạt mầm Tiên Sinh gieo đă thấm dần
qua nhiều thế hệ để sống
lại trong một TCS.
Nơi TCS, ta có thể thấy được
một loại tài hoa trữ t́nh mênh mông man mác và
một ư hướng gắng gỏi rất
“Tản Đà”. TCS
đă có nói về ḿnh: “ Tôi
chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất
này để hát lên những linh cảm của ḿnh
về những giấc mơ đời hư
ảo”
(*3). Câu
này phải được hiểu tương
đương với
“ta là tiếng kêu
trong sa mạc ! ” kêu gọi Hăy yêu nhau đi
( khung trời u
tối ) ... [TCS:
Hăy Yêu Nhau Đi] v́ - như
thế hệ đàn anh của ḿnh
- TCS cũng
hiểu : Ngày mai sáng lạn màu non nước, [Nguyễn
Bi’nh: Hành Phương Nam] Và
muốn thế : Tuổi thanh niên phải đi bằng những bước tiền phong [TCS: Huê’
Sài G̣n Hà Nội] Nói
cách khác, giống như Tản Đà, TCS đă
trang bị tinh thần cho người Việt
bằng cách cố gắng làm sống lại cái
“thiên lương”
trong ḷng nguời, và
nhắc người Việt suy nghĩ về con người
và xă hội . Ta
thấy pha lẫn trong cái uyên áo gần như lăng
mạn viễn mơ của Gọi Tên Bốn Mùa,
Như Cánh Vạc Bay,
Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng vv... những tác phẩm khác
của TCS đều có mang một nội dung tích
cực dấn thân theo hướng hiện
thực phê phán. V́
nhận định được “thân phận da vàng ”
của Việt Nam chịu đau khổ do bạo
lực chiến tranh, anh
chống lại bạo lực, và kêu gọi yêu
thương: Hăy
biết nh́n lại anh em, t́m hoà b́nh, thoát cái “u mê ngh́n năm ”. Muốn
thế, phải có
một ước mơ, một niềm tin,
một xác định rơ ràng “dân
tộc Việt Nam là một ” -
để biết
thương yêu nhau,
“ḷng
Nam trông Bắc, t́nh dâng trong mắt ”, và bền ḷng chờ tới lúc: ... quê hương sẽ có ngày hoà b́nh Suy
nghĩ như thế, và dám công khai lên tiếng,
anh có bị quân cảnh Sài G̣n lùng bắt liên
tiếp là điều dễ hiểu .
Sống trốn chui trốn nhũi, nhưng
không v́ thế mà TCS bỏ đi những điều
ôm ấp của ḿnh. * Nhưng
– cũng như tất cả chúng ta –
anh làm sao biết được đủ
mọi thứ? Phải
sau 1975 cả nước mới bắt đầu
hiểu được những vấn đề
xă hội và chính trị ở miền Bắc.
Rồi cũng phải rất lâu sau 1975 người
người mới hiểu thêm được cái
hiện thực khách quan của xă hội nước
ta trong gần nửa thế kỷ qua .... Dĩ
nhiên không phải v́ thế mà những nhận
định và chủ trương của TCS đă
không đúng. Nó
vẫn cao thượng, vẫn có một giá
trị vững chải trong lịch sử của
Việt Nam và của nhân loại tiến bộ.
Ta thấy được tất cả
những điều anh đă làm trước 1975
là việc làm của một sĩ phu Việt Nam
sống theo truyền thống yêu nước: Ở Hán đành ḷng pḥ lợn Hán [Phan Văn
Trị : Cảm Hoài] Và: Cương thường bởibiết nên mang nặng [Nguyễn
Hữu Huân: Lâm
Th́ Cảm Tác] * Có
thể nói khúc ngoặc quan trọng khác trong
cuộc đời TCS là giai đoạn anh đi
“học tập cải tạo".
Đó là bốn năm “dựa lưng cơi chết”, v́ chính anh đă kể lại:
“làm
giữa băi ḿn, lâu lâu có người chết...
Có hoài ! ”
(*4) . Ḷng
anh đối với đất nước như
thế, với đồng bào như thế,
tại sao anh phải đi “học tập”? Đây là câu
hỏi của người người khắp
chốn, và cũng của mai hậu:
Hà tội
kiến di ? [= tội ǵ mà phải đi đày
?] (*5). Nhưng
hỏi như thế là không nhớ lịch
sử Việt Nam: trong
rất nhiều năm từ 1975 cho đến khi
có “Đổi Mới”,
[nghĩa là giai đoạn anh đi “học
tập”], cái định nghĩa chính thức của yêu nước
là phải “Yêu Nước Xă Hội Chủ Nghĩa ”.
TCS là người yêu nước, điều
đó ai cũng biết, nhưng chưa chắc
anh yêu XHCN. Mặt
khác, anh là người có tài, điều này không
ai chối căi, nhưng Thế Lữ, Quang Dũng,
Nguyễn Bính, Văn Cao vv..
đều có tài mà vẫn phải “bị
lận đận”
th́ sao? Vả
lại, bên những cái to lớn thường có
những chuyện nhỏ đi “ăn theo”
- và
đố kỵ cá nhân thường là một
điều nhỏ nhưng vẫn đủ để
làm long đong nhiều tuấn kiệt.
Chỉ ví dụ một trường hợp
của Quang Dũng thôi: ông “lận đận”
chỉ v́ tài ông sáng chói và được ái
mộ hơn người khác.
Sau 1975, một nguời bạn của Quang Dũng
đi trong Nam về, vừa gặp anh là reo lên:
“bài
Đôi Mắt Người Sơn Tây của
cậu, trong Nam họ thích lắm.
Có tới hai bài phổ nhạc khác nhau, bài
nào cũng hay cả ”. Quang
Dũng lật đật bịt miệng anh
bạn lại, bảo nhỏ:
“suỵt,
nói khe khẽ chứ, kẻo khổ tôi
”
(*6). Có
lần TCS nói về nhạc của ḿnh:
“mỗi câu, mỗi khúc riêng th́ không có
nghĩa ǵ, nhưng tất cả hợp lại
với nhau th́ nó nói lên được một cái
ǵ đó ” (*7). Với cái tài như thế, TCS bao giờ cũng
có thể viết được một bản
nhạc “có ǵ mà
không có ǵ”, nghĩa là không có ǵ để
“buộc”
được anh, nhưng hát lên ai cũng
hiểu, và đó là điều tốt cho
nghệ thuật mà “không tốt” cho chính
trị Phải chăng
v́ thế nên đă có một cái ǵ đó cho TCS
luôn luôn nhớ mà “tự
kiểm duyệt ” th́... “tốt
nhất”? (!) V́
nhạc đi vào ḷng người dễ hơn
cả thơ, mà TCS là người đă dám suy tư,
và dám dấn thân ! Bên
cạnh cái can đảm ấy, cái tài hoa ấy,
họ Trịnh lại có được cả
mấy chục triệu
“ tín đồ”
trên suốt hai miền Nam Bắc và bạn bè
ái mộ khắp năm châu .
Mỗi câu, mỗi chữ mà họ Trịnh
viết ra, các
“tín đồ” sẽ
nhớ kỹ trong ḷng ... * Kết
quả là “ Từ ấy “ không ai c̣n thấy những nét hiện
thực phê phán trong nhạc TCS nữa, tuy anh
vẫn c̣n sáng tác.
Những câu: Mỗi ngày tôi chọn một niềm
vui là
cái thông điệp từ anh, được
mọi người --
bây giờ và các thế hệ mai sau
-- xem như
là một lời nhắn nhủ rơ ràng dứt khoát. Bởi v́ TCS, ngay cả những giây phút
cuối nằm trên giường bệnh, vẫn c̣n
nhắc lại [qua
phỏng vấn của báo chí tại Sài G̣n ]
rằng anh xem sự
sống là điều quan trọng
nhất trong mọi sự. Nói
cách khác, “Mỗi
Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui
” và “Tôi
Ơi Đừng Thất Vọng ”
là thái độ sống của anh trong khoảng
25 năm cuối của đời ḿnh.
Trong thời gian này, “Em
C̣n Nhớ Hay Em Đă Quên”
là viên kim cương lớn đầy t́nh người
mà anh đă để lại cho hậu thế. Như
đă nói ở các phần trước, con người
của anh không thể là con người sống
thờ ơ, quay lưng lại với tiền
đồ đất nước và hạnh phúc
của dân chúng. Trong
25 năm qua từ 1975, xă hội Việt Nam thay
đổi rất nhiều, không phải là anh không
thấy: thống
nhất nhanh chóng, “Học Tập Cải
Tạo” ở miền Nam, vượt biên, “Đánh
Tư Sản”, chiến tranh Campuchia, Trung Quốc
xâm lược, hợp tác hoá nông nghiệp
với “nén ”
rồi “bung” , Nghị Quyết
6, Đổi Mới, khối XHCN tan ră, Mở
Cửa Kinh Tế, đầu
tư ồ ạt, đốn
rừng ồ ạt, băo
lụt miền Trung vv... Anh
sống với giới văn nghệ sĩ là
những người nhạy cảm nhất đối
với mọi biến chuyển của thời
cuộc, chuyện ǵ anh lại chẳng biết?
Kẻ ở rất xa quê hương mà c̣n
sốt ruột theo những thay đổi lớn
này (*8), huống chi anh ở ngay trong ḷng quê
hương ? Nhưng
TCS đă nói dứt khoát:
“Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm
Vui”, ai c̣n nỡ bắt anh nói ǵ thêm nữa ?
Có ai trong chúng ta đă lúc nào ngừng
nghỉ lại để nghe thêm một lần
tiếng hát từ anh: Đôi tay nhân gian chưa từng độ
lượng * Anh
có cái may mắn là gia đ́nh cũng khá giả nên
không phải bươn chải kiếm ăn, thành
ra không ai có thể dùng tṛ “thắt bao tử ”
để lung lay hay ép buộc anh được.
Cái tính của anh ai cũng biết rơ ràng:
thời trước 1975, thay v́ phải
trốn chui trốn nhũi, nếu anh muốn có
tiền bac và chức tước, với tài năng
của ḿnh, ít ra anh không được làm thi bá
[hay nhạc bá] để chủ chốt cho
một chương tŕnh 1 văn đàn nào đó
- th́ cũng
dễ dàng được cử đi tŕnh
diễn ngoại quốc vv…
Sẽ có đủ hết,
nếu anh chịu đưa ra vài câu tuyên truyền cho giới
quyền lực kiểu như
“ anh là lính
đa t́nh ” hay là Sức mấy mà buồn,
buồn ơi bỏ đi Tám Thời
sau này, nếu cũng v́ danh lợi, anh vẫn có
thể có hàng vạn cơ hội để
“nổi ”. Nhưng
suốt đời anh, TCS đă không bao giờ dùng
tài năng của ḿnh để mưu cầu
lợi lộc, hay lừa gạt dân chúng bằng
cách làm mập mờ lịch sử.
Không, anh có một nhận định,
một chọn lựa, và sống chung t́nh với
chọn lựa đó. Việc
anh không bỏ nước ra đi cũng là
một chọn lựa .
Nói như thi sĩ nào đó:
“con chim cu gáy nó vốn ở đồng
”. Không phải là anh
không đi được, nhưng anh không
muốn đi. Một
lần ra tiệm uống cà phê với anh
[1981], tôi thấy ông chủ quán đến
vồn vă bắt tay anh rồi hân hoan khoe với
chú bé bán báo bên cạnh:
em biết cậu này là ai không?
Anh nói với tôi:
“ḿnh
sống v́ mấy cái t́nh cảm như thế nàỵ Đi quán này, bà chủ quán múc cho một tô
bún ngon hơn, đi chỗ
kia, có ông bán hàng đưa tay ngoắc
ngoắc. Chứ đi đâu mà được
mấy cái đó
”. * Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài .
Anh có tài -
và sống với quê hương, đồng
bào, bè bạn -
rất trong sáng, trọn vẹn, nên quần
chúng thương anh là một điều tất
nhiên. Trong
những khó khăn của mọi hoàn cảnh, anh
đă sống xứng đáng, chung thủy,
chọn lựa được niềm vui cho chính
ḿnh và trung thành với điều chọn
lựa của ḿnh. Khi
anh nằm xuống, quần chúng nhân dân làm
một quốc táng cho anh - trong
ḷng họ và trên thực tế
- cũng là
điều dễ hiểu : Làm người trung nghĩa
đáng bia son [Nguyễn
Đ́nh Chiểu] Anh
ra đi, nhưng chúng tôi c̣n ở lại
- luôn luôn
nhớ tới anh -
và sẽ thuật lại những hoài
bảo, những mơ
ước của anh.
Chúng tôi tin rằng, anh nằm trong đất
lạnh nhưng ḷng anh không thấy lạnh, v́
anh đă gieo hạt mầm tốt trong con tim
của cả một dân tộc.
Thấm qua bao thế hệ, cái mầm yêu
thương -
cái t́nh người
- vẫn
sẽ c̣n đó, và sẽ nảy nở,
v́ nhân tài sẽ phát xuất tự
thiếu niên. Nay
anh đă ra đi, nhưng
“Người
đă đi, người sẽ
tới ”, đó mới là “Nối Ṿng Tay Lớn”,
phải không anh ? Văn-Lang Tôn-thất Phương, Canberra 05-2001 Chú
Thích 1. Nhà văn Đặng Tiến (hiện ở Paris) cho biết có thể ở tạp chí Bách Khoa (Sài G̣n) số 15-08-1970. 2. Xin xem loạt sách NHẬN ĐỊNH của giáo sư Nguyễn Văn Trung xuất bản ở Sài G̣n trong khoảng 1965-1970. 3. Lê Minh Quốc: Giọt Lệ Ru Người (DIỄN ĐÀN, Paris, số 01-04-2001). 4. Anh nói với tôi vào năm 1980. 5. Trích từ hai câu trong mật thư của cụ Trần Cao Vân gửi vua Duy-Tân để thuyết nhà vua chống Pháp: “Phụ Hoàng hoàng đế hà tội kiến di, Dực Tôn tôn lăng hà cớ kiến quật”. 6. Hoài Việt: Quang Dũng, Người Và Thơ (Hội Nhà Văn, Hà Nội 1990). 7. Anh nói với tôi vào năm 1986. 8. Xin xem Nguyễn Hồi Thủ: Quả Đất – Quê Hương (Chân Mây Cuối Trời, Paris 1999. Tr 9-10). ®
"Khi phát hành lại thông tin từ
trang này cần phải có sự đồng ư của
tác giả
|