|
Việc học ở phủ Tam Kỳ xưa
LƯƠNG QUẾ (*)
|
|
(*) Thầy giáo hưu trí Lương Quế qua đời vào tháng
6.2016. Bài viết này do người thân của ông - tác giả Phú B́nh gửi
đến ṭa soạn. |
|
Năm 1906, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định sửa
đổi phép học, phép thi Nho học ở Trung kỳ. Từ đây, trong các kỳ thi
Hương, cùng với các bài thi chữ Nho phải có bài thi chữ quốc ngữ.

Học sinh Trường THPT Trần Cao Vân -
Tam Kỳ giờ tan học.Ảnh: PHƯƠNG THẢO
Cùng với cả tỉnh cả nước, việc học ở phủ Tam Kỳ
xưa dần thay đổi. Lớp học sinh lúc ấy, bên cạnh việc học chữ Nho đă
đồng thời học thêm chữ quốc ngữ tại nhà các thầy đồ để sau đó được
sát hạch vào học trường Huấn (trường dạy học thuộc đơn vị tổng).
Trường trong làng
Ở phủ Tam Kỳ, trường Huấn đặt tại làng Chiên Đàn,
lỵ sở đầu tiên của phủ. Tại đây, học sinh được học cấp Vỡ ḷng để
thi lấy bằng Tuyển sanh. Có bằng Tuyển sanh rồi mới được vào học
trường Đốc (tức trường tỉnh) để lấy bằng Học sanh; sau đó mới được
dự kỳ thi Hương. Các thầy đồ dạy chữ quốc ngữ vào thời kỳ này gồm 3
thành phần: một là các thầy đang dạy chữ Nho ở các trường Huấn có
biết chữ quốc ngữ; hai là lớp thầy giáo xuất thân từ các trường do
Phong trào Duy tân ở địa phương mở ra như trường Tân học ở Phú Lâm
hoặc trường Giáo ở Thăng B́nh; ba là các thầy ở các huyện khác, tỉnh
khác đến - các thầy này thường có tŕnh độ cao hơn v́ một số được
học chữ quốc ngữ bài bản ở các trường Pháp - Việt do người Pháp mở
sớm ở Đà Nẵng, Huế; số khác xuất thân từ các trường Thông ngôn
chuyên đào tạo các người phiên dịch Pháp - Việt.
Đến năm 1918, khi thi cử chữ Nho hoàn toàn bị băi
bỏ, người Pháp đă thiết lập ở khắp Trung kỳ hệ thống trường Pháp -
Việt bao gồm các bậc Sơ học, Tiểu học và Trung học. Ở phủ Tam Kỳ lúc
ấy, bậc Sơ học có các trường tổng và trường làng. Theo quy định, mỗi
tổng chỉ được mở một trường gọi là “trường tổng” - trường tổng mở
sớm nhất và cũng là duy nhất ở phủ Tam Kỳ là trường Chiên Đàn (kế
tục trường Huấn dạy chữ Nho trước đó) gồm ba lớp: Đồng ấu hay lớp
Năm, Dự bị hay lớp Tư, Sơ đẳng hay lớp Ba tương đương các lớp 1, 2,
3 bây giờ; mỗi lớp do một thầy phụ trách.
Do nhu cầu học quốc ngữ của con em tăng nhanh, lại
không có điều kiện mở trường tổng, nên các xă ở vùng phủ Tam Kỳ xưa
đă lần lượt xin phép mở các trường làng. Khác với trường tổng, do
thiếu thầy nên ở trường làng thường một thầy dạy kiêm hai ba lớp từ
Đồng ấu đến Sơ đẳng. Một số phụ huynh ở các xă ít dân, nghèo khó,
điều kiện đi lại khó khăn không thể mở trường công đă họp nhau xin
phép mở trường tư; mời thầy đến dạy. Các thầy này thường được phụ
huynh chia nhau luân phiên phục vụ việc ăn ở, mỗi nhà phụ trách một
thời gian; công xá và quà biếu vào các dịp lễ, tết thường không khác
cách đối xử của phụ huynh với các thầy đồ nho trước đó là mấy. Học
sinh tại các tư thục kiểu này có một số lớn tuổi, họ đi học mong
kiếm mảnh bằng Yếu lược để được miễn đi canh gác, làm tạp dịch và
các công việc phu phen khác - theo như quy định của làng xă đương
thời. Lớp học tại các trường kiểu này thường đặt ở một nhà dân rộng
răi hoặc đặt ở đ́nh làng.
Học tṛ cấp này lớn nhỏ khá chênh lệch: lớn th́
khai nhỏ tuổi lại; tất cả ngồi chung một pḥng, lớp này lớp kia phân
biệt theo cụm chỗ ngồi. Ít học sinh có sách giáo khoa, một phần do
phụ huynh nghèo và tiệm bán sách lại ở xa. Nội dung sách, nhất là
sách tập đọc, có nhiều bài hay, học sinh dễ thuộc ḷng. Thời khóa
biểu th́ xếp để một thầy tiện chăm cả mấy lớp một lúc; trong khi lớp
này làm bài th́ lớp kia xem bài thầy trả; c̣n thầy th́ giảng bài cho
lớp khác.
Học sinh Sơ học ở các trường làng xă nói trên
thường yếu về môn tiếng Pháp so với các học sinh Sơ học tại vùng phủ
lỵ vốn được học môn này đầy đủ hơn. V́ thế, khi vào bậc Tiểu học,
thường phải học lại lớp Ba một năm nữa để hoàn bị vốn tiếng Pháp
theo yêu cầu.
Trường ngoài phủ
Qua bậc Sơ học, học sinh các trường làng, xă phải
vào phủ lỵ để học tiếp bậc Tiểu học tại trường Pháp - Việt do phủ
Tam Kỳ thành lập. Loại trường này, sau năm 1936 người Việt ta quen
gọi là “trường Kiêm bị”. Bậc tiểu học gồm 3 lớp: Nh́ nhất niên, Nh́
nhị niên và lớp Nhất - tương đương với học tŕnh của hai lớp 4 và
lớp 5 bây giờ. Ở trường Pháp - Việt Tam Kỳ, mỗi lớp được học với một
thầy; ngoài các môn bắt buộc theo chương tŕnh, học sinh c̣n phải
học môn “Hán tự” mỗi tuần hai giờ và một giờ học môn thể dục vào mỗi
thứ Năm. Cuối năm lớp Nhất, học sinh phải ra đến tỉnh lỵ Hội An để
thi lấy bằng Tiểu học Pháp - Việt. Văn bằng này do Bộ Giáo dục của
Nam triều (Nguyễn) đương thời cấp có Cố vấn Pháp đại diện cho Khâm
sứ Trung kỳ kư tên và đóng dấu bên cạnh. Từ năm 1941, học sinh khỏi
ra Hội An v́ có tổ chức thêm một điểm thi ngay tại Tam Kỳ.
Các thầy giáo dạy trường Tiểu học Pháp - Việt ở
Tam Kỳ xuất thân từ ngạch Trợ giáo (có bằng Tiểu học và tốt nghiệp
trường Sư phạm) hoặc Giáo học (có bằng Cao đẳng Tiểu học và tốt
nghiệp trường Sư phạm). Các thầy dạy Sơ học ở các xă thường xuất
thân từ ngạch Hương sư (có bằng Tiểu học và qua một khóa tu nghiệp
sư phạm ngắn). Đặc biệt, đă có một số phụ nữ vùng Tam Kỳ tốt nghiệp
ngạch Trợ giáo và dạy ở một trường nữ duy nhất trong cả phủ - đó là
trường Nữ Tiểu học đặt ở gần khu vực Quỳnh phủ hội quán (nay có
trường Dục Trí, ở ngả tư Tôn Đức Thắng - Phan Châu Trinh).
Thanh tra việc học giao cho một giáo thọ. Ông này
đi “khám trường” không báo trước. Sau khi xem xét trường lớp, sổ
sách, dự giờ… ông giáo thọ thanh tra này ghi vào “Sổ thanh tra” (do
thầy giáo từng lớp giữ) những điều phê phán (viết bằng chữ Pháp). Ư
kiến thanh tra là tiếng nói khá mạnh, nên các thầy dạy học - dù là
rất có lương tâm, trách nhiệm - vẫn lo. Trường tiểu học Pháp - Việt
Tam Kỳ, trường Nữ Tiểu học Tam Kỳ thỉnh thoảng có thanh tra Pháp ở
Đà Nẵng đến khám. Khổ nhất đối với các thầy là bị ḍm ngó về chính
trị. Chính quyền sở tại thời Pháp thuộc rất mẫn cán theo dơi các
thầy sít sao - đặc biệt đối với các thầy cô có tư tưởng tiến bộ, yêu
nước.
Đỗ tiểu học xong, học sinh nào muốn học nghề th́
thi vào trường Bách công ở Huế hoặc xin việc ở các ngành chuyên môn
hoặc các Sở tư. Người nào muốn học tiếp bậc Trung học phải thi vào
trường Trung học (collège) Quy Nhơn hoặc Đồng Khánh (nữ), Lycée Khải
Định (nam) ở Huế; ít người Tam Kỳ ra học trung học ở trường Vinh (Nghệ
An) v́ quá xa. Không chen vào được các trường công nói trên th́ vào
các trường tư thục vốn có ở Huế, Đà Nẵng hoặc ở Hội An (mở từ sau
năm 1939).
Sau 4 năm học ở collège hoặc lycée, học sinh đi
thi lấy bằng thành chung, tức cao đẳng tiểu học, mà ta quen gọi là
diplôme. Học sinh Quy Nhơn thi viết ở trường ḿnh; đủ điểm đậu thi
viết th́ mới ra Huế thi vấn đáp. Loại bằng này do Nha học chánh Đông
Pháp cấp và có ấn kư của Toàn quyền Đông Pháp ở Hà Nội. Có văn bằng
này mới được học tiếp chương tŕnh tú tài bản xứ hay tú tài Pháp. Đỗ
diplôme xong học thêm hai năm thi lấy bằng tú tài bán phần; nếu đỗ,
học một năm nữa lấy bằng tú tài toàn phần để vào Đại học Hà Nội mở
khoảng năm 1936 đào tạo bác sĩ, kỹ sư, cử nhân.
Ít người đỗ đạt
Ở Tam Kỳ, số người đỗ diplôme thời Pháp thuộc rất
ít. Khai khoa có lẽ là ông Nguyễn Quư Hương, người làng Mỹ Thạch
(nay thuộc phường Tân Thạnh, Tam Kỳ), cư ngụ ở Quán Rường (nay thuộc
xă Tam An, huyện Phú Ninh) về sau làm thư kư cho cụ Huỳnh Thúc Kháng
ở Ṭa soạn báo Tiếng Dân. Kế tiếp, sớm nhất là ông Vơ Di (Chiên Đàn),
sau Hiệp định Genève, công tác ở miền Bắc; rồi đến ông Nguyễn Lương
Duyên (Kỳ Lư, Tam An) hồi kháng chiến chống Pháp làm Phó Chủ tịch Ủy
ban Hành chánh kháng chiến Tam Kỳ một thời gian. Lớp tiếp sau có
khoảng hơn 10 người trong đó có anh em ông Đống Lương, Đống Ngạc.
Hai ông này tập kết ra Bắc; ông Lương là Nhà giáo Nhân dân, ông Ngạc
từng là thư kư riêng của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Đỗ tú tài bán phần và toàn phần, tốt nghiệp bậc
đại học th́ rất ít ỏi.
Thời cựu học, huyện Hà Đông đă sản sinh nhiều bậc
khoa bảng. Thời tân học, số người có bằng cấp thấp đă ít mà số có
bằng cấp khá hơn lại càng hiếm, nói chi đến tŕnh độ đại học. Thực
dân Pháp và triều đ́nh Huế không chối căi vào đâu được về chính sách
ngu dân của họ. Sự khó khăn trong việc cho phép mở trường hoặc không
chịu mở trường đă là rào cản trên đường học vấn của nhân dân thời
Pháp thuộc. Tam Kỳ là phủ nghèo, mấy ai có đủ điều kiện (nhất là dân
nông) để đi học trường phủ hay là trường ở xa hơn? Chương tŕnh lại
dạy toàn tiếng Pháp từ lớp Nh́ là rào chắn thứ hai hết sức ngặt
nghèo; sự sàng lọc v́ thế trở nên gắt gao, làm rơi rụng khá nhiều
những mầm non chưa kịp phát triển.
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|
|