|
Văn bia ở Văn thánh - Khổng miếu Tam Kỳ
Phú B́nh
|
|
Văn thánh - Khổng miếu Tam Kỳ hiện c̣n lưu 2 tấm bia đá và 3 tấm
bia gỗ của Văn hội Nho học huyện Hà Đông, trước dựng tại ngôi Văn
thánh ở làng Chiên Đàn. Khảo sát nội dung các tấm bia này có thể
biết một số nét văn hóa và kinh tế của vùng nam Quảng Nam xưa. |
|

Bia gỗ năm Minh Mạng thứ 21
(1840).
Tấm bia đá xưa nhất là bia “Vọng bái Tiên thánh tự
vũ” được khắc vào ngày 24 tháng 8 âm lịch năm Minh Mạng thứ 21
(1840). Nội dung chính được ghi như sau: “Vào năm Canh Tư (1840),
đầu mùa xuân, quan viên, sĩ nhân, hương hào huyện Hà Đông cùng góp
sức xây nhà thờ (các bậc tiên thánh Nho học) tại phía đông Nhà học
của huyện. Kính cẩn chọn ngày mười một tháng sáu năm nay khởi công;
(chọn) ngày hai mươi chín gác đ̣n đông; (đến ngày) hai mươi bốn
tháng tám th́ xong, để đến năm mới tháng giêng ngày hai mươi cung
kính hành lễ bái vọng”. Qua nội dung này, biết được thời điểm thành
lập cùng vị trí của Văn thánh huyện Hà Đông xưa.
Cùng được khắc và dựng vào năm 1840 có tấm bia
công đức (bằng gỗ) ghi danh 12 văn thân có khoa bảng, trong đó có
phó bảng Nguyễn Dục, ngự sử Phan Văn Xưởng (đỗ cử nhân - NV chú
thích) và 10 vị trong huyện đỗ tú tài. Cùng trong danh sách này có
tên các chánh, phó tổng các tổng Chiên Đàn, Vinh Hoa, Tiên Giang,
Phú Quư, An Ḥa và 11 thông lại, thư lại, chức dịch làm việc tại
huyện đường lúc đương thời. Qua các chi tiết trên, có thể biết, Hà
Đông vào khoảng nửa đầu thế kỷ 19 là một huyện chỉ có 5 tổng, ít
người đỗ đạt cao và số viên chức phục vụ hành chính cũng không nhiều.
Tuy nhiên, danh sách cá nhân đóng góp vào việc xây dựng Văn thánh
lại khá đông (72 người), chứng tỏ sự sùng mộ Nho học ở vùng nam
Quảng Nam.
Tấm bia đá thứ hai không ghi năm tháng tạo dựng
nhưng qua nội dung có thể đoán, bia này được khắc sau niên hiệu Tự
Đức thứ ba (1850) - lúc công tŕnh nhà Hội đường của Văn thánh được
khánh thành. Qua ḍng lạc khoản: “Bản huyện Văn hội đồng chí” (Văn
hội Nho học của huyện cùng ghi lại) được khắc ở cuối tấm bia, có thể
biết sinh hoạt của Nho học ở huyện Hà Đông đến lúc ấy đă đạt được
nhiều thành tựu hơn trước.
Quá tŕnh xây dựng rồi bị hư hoại về sau của ngôi
Văn thánh đặt tại làng Chiên Đàn - lỵ sở huyện Hà Đông nói trên đă
được tóm tắt lại trong Lời mở đầu của bia công đức (bằng gỗ - gồm 2
tấm) được khắc vào năm Thành Thái thứ 7 - 1895 (tạm dịch) như sau:
“Chỗ dạy học, b́nh văn, hội họp Văn hội của huyện (Hà Đông) ta có
lập nơi thờ tự các bậc thánh hiền Nho học vốn đă có từ xưa rồi! Vào
khoảng các năm Canh Tư (1840) thời vua Minh Mạng và Canh Tuất thời
vua Tự Đức (1850) dựng xong nơi thờ các bậc Tiên Chính và có dựng
bia ở đó. Đến các đời vua Hàm Nghi và vua Đồng Khánh là thời gian có
nhiều biến cố. Theo cớ sự ấy, nơi thờ tự này đă bị tàn phá rất nhiều;
cỏ dại lâu ngày mọc cao khiến tầm nh́n bị che khuất chẳng thấy rơ
hai cây cột c̣n lại bên trong...”. “Cớ sự” được đề cập trong nội
dung nêu trên là việc Pháp đem quân đàn áp phong trào Nghĩa hội
Quảng Nam, tàn phá không kiêng cử các cơ sở thờ tự nghi là nơi tụ
họp của Nghĩa hội. Việc Văn thánh huyện Hà Đông bị tàn phá là do đấy.
Những người thảo nội dung tấm văn bia trên, do sống trong hoàn cảnh
bị thực dân Pháp “bảo hộ”, đă chỉ dám viết vắn tắt như thế; nhưng
quang cảnh hoang tàn của một khu thờ tự Nho học được diễn tả trong
nội dung bia đă nói lên được rất nhiều điều. Cũng trong hai tấm bia
gỗ này, việc trùng tu cơ sở thờ tự và sinh hoạt Nho học này được kể
rơ. Mùa đông năm 1894, vị cử nhân giữ chức Huấn đạo là ông Ngô Quang
Khuê cùng tri huyện là ông Nguyễn Hiển Dĩnh (người làng An Quán,
Điện Bàn) và các ông tú tài Trần Trọng Đạt (chức giám trưởng), tú
tài Nguyễn Thông (chức tư sự) cùng cung kính bàn bạc về việc làm mới
lại khu Văn thánh cũ để tăng phần thuận tiện và nghiêm trang cho
việc thờ tự. Việc trùng tu khởi công vào ngày mùng 10 tháng sáu âm
lịch năm 1895; ngày mùng 2 tháng 7 gác đ̣n đông vào giờ Th́n; đến
ngày 28 tháng 8 cùng năm th́ hoàn thành mọi việc.
Những chi tiết về việc đóng góp cho việc trùng tu
được ghi trong bia gỗ (tấm thứ 1) năm 1895 này đă cho biết được
nhiều điều về vùng đất Hà Đông xưa. Trước hết là số lượng người có
khoa bảng đang sinh hoạt trong Văn hội Nho học địa phương gồm: 3 cử
nhân, 18 tú tài. Đó là con số người đỗ đạt đáng khích lệ đối với một
địa phương nghèo. Thứ đến, căn cứ vào mức độ đóng góp của các chánh
phó tổng sở tại, có thể biết được mức chênh lệch trong điều kiện
kinh tế của từng địa phương: các tổng Tiên Giang, Chiên Đàn, Phước
Lợi, Vinh Quư khá giả hơn v́ có nguồn lợi từ lâm sản trong khi các
tổng vùng ven biển, đất ngập mặn như Đức Ḥa, Phú Quư, An Ḥa kinh
tế khó khăn hơn.
Bia gỗ năm 1895 (tấm thứ 2) ghi danh đóng góp của
các thôn xă, các viên chức làm việc ở xă thôn (viên biện, lư trưởng),
các người có của (bá hộ), các hiệu buôn (hiệu), các học tṛ thi (sĩ
nhân), các thầy thuốc (y sinh)... Qua đó, h́nh ảnh các địa phương và
các tầng lớp dân chúng lúc đương thời được thể hiện khá rơ nét.
Trước hết là tên các địa phương vào thời điểm ấy: gần 100 địa hiệu
được ghi danh. Các tên thôn, xă, phường, giáp... ấy không chỉ giúp
cho người đời sau t́m hiểu được đúng tên địa phương mà cha ông ḿnh
cư ngụ khi xưa, mà c̣n giúp tra cứu rơ để thuận tiện cho việc biên
soạn các địa chí địa phương về sau này. Mức độ đóng góp của từng địa
phương cũng nói lên được mức chênh lệch giàu nghèo của từng vùng,
qua đó có thể thấy các xă như Bàn An, Tú Cẩm, Thạnh B́nh, Thanh Lâm
(tổng Tiên Giang - thuộc phạm vi huyện Tiên Phước hiện nay); Tây Lộc,
Chiên Đàn, Long Sơn, Khánh Thọ (tổng Chiên Đàn - thuộc phạm vi huyện
Phú Ninh hiện nay); Phú Hưng, B́nh An Trung, Đức Bố, Đức Phú (tổng
Phú Quư và tổng Đức Ḥa - thuộc phạm vi huyện Núi Thành hiện nay) là
những xă khá giả; c̣n đa số những xă miền hạ bạc, ven biển th́ nghèo
hơn.
Đặc biệt, các thôn xă vùng Tam Kỳ xưa như xă Tam
Kỳ, xă Dưỡng An, xă Phương Ḥa, thôn Bàn Thạch, xă Phú Quư (nay là
nội thành Tam Kỳ) lại không thấy trong danh sách đóng góp (trừ các
xă Kim Đới, Phương Tân, Tỉnh Thủy và phường Ḥa Thanh thượng - nay
thuộc các xă Tam Thăng và Tam Thanh, TP.Tam Kỳ). Điều đó cho thấy
bản đồ sinh hoạt kinh tế của cuối thế kỷ 19 ở vùng Tam Kỳ xưa khác
nhiều so với hiện nay.Các tầng lớp dân chúng thể hiện trong hai tấm
văn bia năm Thành Thái thứ 7 (1895) cho thấy xă hội Hà Đông xưa gồm
3 thành phần chính: Sĩ (số ít): gồm viên chức ở huyện, các người đỗ
đạt và các người đi học để đi thi cũng như một số ít con quan lại
được ban tước hiệu (ấm sinh). Nông (đa số): là các xă dân, thôn dân
làm nghề nông, nghề sản xuất muối - mắm, đánh cá, dệt chiếu. Số dân
chúng làm các nghề thợ (công) cũng như các phường nghề không thấy
ghi, điều đó cho thấy công nghiệp hoàn toàn vắng bóng. Tầng lớp
thương nhân được ghi trong bia là các “Thanh, Hán nhân” (người Thanh,
người Hán) tức là các Hoa kiều và Minh hương - số này khá ít, được
ghi là các chủ hiệu buôn - con số không quá 10 người.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|
|