|
Từ ấp Gia Thọ đến làng Ḥa Mỹ Tây
Phú B́nh

Vùng phủ Tam Kỳ xưa, gần hai bên cụm tháp Chiên
Đàn có ấp Gia Thọ thuộc làng/xă Tú Tràng ở phía bắc và xă Ḥa Mỹ Tây
ở phía nam. Hai địa phương này hiện c̣n lưu mấy tư liệu về làng xă
đáng chú ư.
Gia Thọ: Bài văn kể chuyện
đổi tên ấp
Hiện tại, ở thôn An Thọ, xă Tam An, huyện Phú Ninh
có ngôi cổ miếu “Tướng quân từ” c̣n lưu một tấm bảng gỗ chữ Nho nói
về xuất xứ của tên ấp Gia Thọ, xă Tú Tràng xưa. Bài văn này là căn
cứ quan trọng để t́m hiểu về t́nh h́nh cư dân ở vùng đông và đông
bắc của tổng Chiên Đàn xưa (nay là hai xă Tam An và Tam Đàn của
huyện Phú Ninh).
Trước hết, nó cho biết tên cũ của địa phương Gia
Thọ là ấp Cây Dừa và xác định vị trí địa lư của ấp, mà nay, qua một
số dấu tích c̣n lại, một số cư dân cao niên ở địa phương có thể xác
định một số địa danh như hồ vuông (Phương hồ), rừng Đồng Tràm (Đồng
Tràm lâm), tượng nghê đá và tháp Chàm Chiên Đàn (Thạch Nghê - Cổ
Tháp), bến đ̣ sát lũy tre (Mạnh tân), cầu Cánh Tiên (Độ tiên kiều)
và xa hơn là dăy núi Cà Tư (Cà Tư chư sơn)... Đó đều là các nơi mà
người dân Gia Thọ xưa cho là những thắng cảnh (tuần vi danh thắng
chi khu).

Một cổng vào nhà ở thôn Thuận An
làng Ḥa Mỹ Tây xưa.
Tiếp đến, bài văn cho biết hai vị đầu tiên đến lập
ấp là ông cụ họ Ung và một vị họ Nguyễn có quê gốc ở Quảng Trị. Qua
đó c̣n cho biết có một phụ nữ họ Ung được triều đ́nh phong tước hiệu
Nghi Nhân. Vị phu nhân này chính là bà Ung Thị Lăng, mẹ cụ Nguyễn
Dục (đỗ Phó bảng năm Mậu Tuất 1838, người ấp Gia Thọ - danh nhân mà
cả nước đều biết tiếng). Bà cũng là bà nội ruột của vợ cụ Trần Văn
Dư (đỗ tiến sĩ năm Ất Hợi 1875, nhân vật lănh đạo cuộc Cần vương
chống Pháp nổi tiếng ở Quảng Nam vào năm 1885). Cùng với ông Nguyễn
Phan Vinh (đỗ tú tài năm Bính Ngọ 1846), các vị nêu trên đều là
những người dân Gia Thọ đă làm cho địa phương ḿnh nổi tiếng.
Bài văn c̣n cho biết ấp Gia Thọ xưa có nhiều người
hưởng tuổi thọ cao. Cũng do có nhiều người trường thọ nên cư dân đă
quyết định đổi tên cũ là Cây Dừa (âm Hán Việt là Da Thụ 椰樹) sang âm
chữ nho có nét nghĩa mới là Gia Thọ (嘉壽 - tăng tuổi thọ). Và cũng do
có nhiều người học hành đỗ đạt (sau này c̣n có thêm ông Nguyễn Thích,
con cụ Nguyễn Dục, đỗ tiến sĩ năm Giáp Thân 1884) nên chữ Gia (đồng
âm với chữ Da – nghĩa là cây dừa) c̣n hàm ư chỉ nơi đây là vùng đất
văn vật. Bài văn c̣n thể hiện niềm tự hào về phong tục, tập quán,
đức hạnh... của dân trong ấp. Qua đó, giúp người đời sau hiểu được ư
nghĩa văn hóa sâu sắc trong việc dựng ấp lập làng, đối nhân xử thế
của người xưa.
Căn cứ vào nội dung trong bài cũng như niên hiệu
ghi ở cuối bài (tháng 4 âm lịch năm 1877 - niên hiệu Tự Đức 30) có
thể biết bài văn này viết lúc cụ Nguyễn Dục tại thế và (đoán) người
viết có thể là cụ Nguyễn Thích (lúc ấy chưa đỗ tiến sĩ) - bởi, theo
truyền thống, người học giỏi văn hay trong ấp thường được ủy nhiệm
để viết các bài minh, bài văn cho địa phương. Người viết xin trích
dịch một đoạn để minh họa: “…Nhân v́ nghĩ cư dân của ấp đă từ lâu
được thấm nhuần sự văn minh… mà tên riêng của ấp hăy c̣n mộc mạc,
bèn cải thành tên Gia Thọ ấp. Ấy là nhân (tên gọi) cũ mà chuyển
thành (tên) mới; đổi từ chỗ mộc mạc thành ra văn vẻ…
Tại sao vậy? (Bởi v́) chữ Da (nghĩa là cây dừa)
cùng âm với chữ Gia (có nghĩa là tốt đẹp, phúc lành); c̣n chữ Thọ/thụ
(nghĩa là cây) cũng cùng âm với chữ Thọ (nghĩa là sống lâu). (Mang)
danh xưng ấy không chỉ v́ dân trong ấp có gái chăm giữ ǵn tiết hạnh,
có trai ra sức canh tác ruộng vườn; không chỉ v́ có những tập quán
cư xử tốt đẹp đáng khen mà c̣n v́ nhiều người hưởng được tuổi tác
cao… Nay cụ Tham tri họ Nguyễn (Nguyễn Dục - NV) cũng đă thọ đến hơn
bảy mươi tuổi rồi! (Do đó) ấp có thể mang danh là “nơi tốt đẹp,
hưởng nhiều phúc lành” và có “nhiều người sống lâu” (như âm của tên
Gia - Da/ Thụ - Thọ lúc ban đầu). (Đổi sang) tên ấy ai (dám) bảo là
không phù hợp! Từ nay (từ khi tên ấp mang nghĩa mới) về sau: (mong
sao) dân nông được mùa màng thuận lợi; kẻ học hành mài miệt sách vở
thi phú; được gánh vác lâu dài ơn trạch vạn thế thái b́nh…”.
Ḥa Mỹ Tây: Bài phú liệt kê
118 tên xă
Tác giả bài phú này là ông Trương Trọng Hoàng
người làng Ḥa Mỹ Tây, tổng Chiên Đàn, phủ Tam Kỳ (nay là vùng thôn
Thuận An, xă Tam An, huyện Phú Ninh). Tác giả này c̣n được gọi là
“Học Hoàng” bởi từng được xếp vào diện “học sinh” - tức là học tṛ
chữ Nho đă qua kỳ sát hạch của tỉnh, được chọn và được cấp học bổng
để ra học ở trường Quốc tử giám ở kinh đô Huế cùng với các “tôn sinh”
(thuộc ḍng dơi tôn thất triều Nguyễn) và ấm sinh (con quan được
chọn qua một kỳ sát hạch học lực), sống vào đầu thế kỷ 20. Hoàn cảnh
ra đời của bài phú được nhiều vị cao niên làng Ḥa Mỹ Tây xưa kể đi
kể lại như sau:
Sau cuộc chống sưu thuế năm 1908 và cuộc khởi
nghĩa của Việt Nam Quang phục hội tháng 5.1916 tại khu vực Tam Kỳ,
để yên ḷng dân, Pháp và chính quyền Nam triều cử về Tam Kỳ một tri
phủ có đức độ là ông Lê Trung Khoản. Khi trị nhậm ở Tam Kỳ, ông
Khoản rất được ḷng dân. V́ thế, khi ông tri phủ này về hưu, Học
Hoàng làm một bài phú đưa tiễn để ngầm khen tặng. Bài phú đó có tên
“Tam Kỳ phủ bách thập bát xă phú” (Bài phú về 118 xă thuộc phủ Tam
Kỳ) rập theo cách viết trong “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An thế
kỷ 17, dùng các địa danh làng xă tại địa phương để h́nh thành các
cặp câu biền ngẫu. Tuy gắn các địa danh gần liền kề nhau nhưng câu
văn vẫn có nghĩa hoàn chỉnh.
Xin đơn cử một đoạn để thấy tài sắp xếp khéo léo
của tác giả: “Công kư Tài Đa; Công hựu Phú Mỹ/ Phẩm cách Long B́nh;
học vấn Sung Mỹ/ Lam Điền, Tích Phước, chủng Quế Phương nhi bản,
chiếm Xuân Vinh/ Thạnh Mỹ, Trường An, danh Phước Lộc nhi phong, gia
Vinh Quư...”. Tạm diễn nghĩa bóng như sau: “Ông đă nhiều tài, lại
giàu nết đẹp. Ông rất công b́nh, lại giàu chữ nghĩa. Ông thúc đẩy sự
học nên địa phương trị nhậm có nhiều người đỗ đạt; ông mang lại sự
hưng thịnh, tốt đẹp, yên ổn lâu dài cho làng xă. V́ thế ông được dân
chúng mến mộ, quư trọng”. Hoặc câu: “An Mỹ đông tây: hữu vật hàm y
Đức Bố/ Ḥa Thanh thượng hạ: phong ba cọng dẫn Vân Hà” (nghĩa bóng:
tiếng tốt của ông lan tỏa khắp địa phương chúng tôi). Người đọc gặp
trong đoạn văn có nghĩa này rất nhiều tên các làng xă xưa (được viết
hoa trong đoạn trích dẫn trên) ở phạm vi các vùng Phú Ninh, Tam Kỳ
và Núi Thành bây giờ.
So với 223 tên xă thôn phường ấp thuộc sáu tổng
của huyện Hà Đông, phủ Thăng B́nh, tỉnh Quảng Nam được liệt kê trong
sách Đồng Khánh địa dư chí (hoàn thành vào cuối thế kỷ 19), có thể
biết bài phú về 118 xă của ông Trương Trọng Hoàng được viết sau khi
huyện Hà Đông được giao về phủ mới lập Tam Kỳ (1906); khi đó vùng
tổng Tiên Giang thuộc huyện Hà Đông cũ đă được nâng lên thành một
đơn vị hành chính độc lập là huyện Tiên Phước. Năm tổng c̣n lại được
phân thành 7 tổng trực thuộc phủ Tam Kỳ là: Vinh Quư, Chiên Đàn, Phú
Quư, Đức Ḥa, Đức Tân, Phước Lợi, An Ḥa. Qua bài phú, có thể biết
số lượng tên làng xă Tam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20 đă ít hơn rất nhiều so
với thời Đồng Khánh trước đó - chắc chắn là do nhập lại sau khi vùng
này được nâng lên thành phủ mới.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|
|