|

Thơ xuân
trên liễn thờ
Phú B́nh
Ở nhà thờ một số họ tộc lớn vùng
Thăng B́nh, Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước và Tam Kỳ hiện c̣n lưu
nhiều hoành phi liễn đối khắc chữ Nho trên gỗ rất giá trị.
MỘT số do các họ tộc địa phương tự
thiết kế hoặc mua từ các thương nhân đồ cổ từ kinh thành Huế mang
vào. Số khác do được nhượng lại từ các gia đ́nh vùng Ḥa Vang, Điện
Bàn, Duy Xuyên mang theo trên hành tŕnh tản cư từ vùng Pháp tạm
chiếm vào vùng tự do ở phía nam của tỉnh trong kháng chiến chống
Pháp 1946 - 1954. Có thể nói, vùng phía nam sông Ly Ly - Quế Sơn
hiện nay là nơi c̣n lưu giữ nhiều nhất các hoành phi, liễn đối cổ có
xuất xứ từ nhiều vùng ở tỉnh Quảng Nam xưa.
Các bức hoành phi, liễn đối cổ nói
trên được khắc nhiều đoạn thơ, bài thơ chữ Nho có liên quan đến chủ
đề mùa xuân - mùa tượng trưng cho sự hưng vượng, phồn thịnh mà nhiều
tộc họ mong mỏi có được cho con cháu. Phần lớn các thơ xuân đó được
đặt bên cạnh các họa tiết về hoa như hoa mai, hoa đào, hoa lê… hoặc
các loài chim như phụng hoàng, yến, tước… Toàn bộ các nội dung văn
tự và họa tiết ước lệ đó được bố trí theo phối cảnh cổ điển và đa số
được cẩn xà cừ loại tốt mà đến nay, trải qua hơn mười mấy thập niên,
vẫn c̣n lóng lánh sắc xuân.
Thơ xuân trong nhà
thờ tộc Ngô
Nhà thờ này của phái Ba tộc Ngô
hiện tọa lạc tại thôn 3 (Phú Quư 2) xă Tam Mỹ Đông, huyện Núi Thành.
Xưa, vùng này thuộc xă Đa Phú, tổng Đức Ḥa, phủ Tam Kỳ. Trên phần
rường của gian chính nhà thờ treo tấm hoành viền xà cừ rất tỉ mỉ và
tinh tế. Trong phần ḷng của hoành phi, ba phần tư dùng để thể hiện
bức tranh hoa điểu mùa xuân gồm chim khổng tước (?) đậu lơi lả trên
các cành đào (lê?). Dạng tranh này rất thường gặp trong các tác phẩm
thể hiện cảnh xuân c̣n lưu nhiều nơi ở Huế. Một phần tư c̣n lại bên
phải thể hiện hai câu thơ: “Vân đạm phong khinh cận ngọ thiên/ Bàng
hoa tùy liễu quá tiền xuyên” (Dịch nghĩa: Trời đă gần trưa, mây mỏng,
gió nhẹ. Men dưới hoa, theo hàng liễu đến trước ḍng sông). Trong
câu thơ này có các yếu tố của một cảnh xuân dù không có một từ xuân
nào.
Đây là hai câu đầu của một bài tứ
tuyệt Đường thi có tên “Xuân nhật ngẫu thành” (Ngẫu hứng giữa ngày
xuân) rất nổi tiếng của Tŕnh Hạo (1032 - 1085) - một nhà thơ thời
Bắc Tống. Hai câu tiếp của các câu thơ cẩn trong tấm hoành phi của
nhà thờ tộc Ngô xă Tam Mỹ Tây có nguyên văn như sau “Thời nhân bất
thức dư tâm lạc/ Tương vị thâu nhàn học thiếu niên” (Dịch nghĩa:
Người đời đâu biết ḷng ta đang vui/ Họ bảo ta quá rảnh nên lơ đễnh,
hồn nhiên như trẻ thơ). Hải Đà dịch bài thơ này rất hay: “Gió thoảng
mây vờn nhẹ nắng trưa/ Đường hoa, bến nước liễu đong đưa/ Ḷng vui
ta hiểu nào ai biết?/ Lại bảo ta như trẻ nít đùa!”.

Bài thơ xuân trên
liễn tại các nhà thờ.
Cũng tại ngôi nhà cổ này, trước
gian thờ có cặp liễn trong đó có cẩn xà cừ bài “Thành Đông tảo xuân”
của Dương Cự Nguyên (755 - ?), một thi nhân thời Đường. Bài thơ đó
nguyên văn chữ Nho như sau: “Thi gia thanh cảnh tại tân xuân/ Lục
liễu tài hoàng bán vị quân/ Nhược đăi Thượng Lâm hoa tự cẩm/ Xuất
môn câu thị khán hoa nhân” (Dịch nghĩa: Cảnh thanh tao của nhà thơ
là ở mùa xuân mới/ Lúc cây liễu biếc đơm hoa vàng chưa đến một nửa/
Nếu đợi khi hoa nở như gấm khắp vườn Thượng Lâm/ Th́ nhà thơ cũng
chẳng khác ǵ kẻ thưởng thức hoa b́nh thường). Bài thơ này được
truyền tụng và trở thành điển h́nh cho thơ xuân ở nhiều thời bởi nội
dung cho là cảm thụ của nhà thơ phải đi trước mọi người, biết được
sắc xuân khi nó vừa chớm đến, qua đó nói lên sự tinh tế của xúc cảm.
Xưa, nhiều người chọn treo câu liễn này cũng là do ư đó. Bài “Xuân
sớm thành Đông” giới thiệu trên đây rất khó chuyển thành thơ. Trong
hàng mấy chục bài dịch thành thơ trước nay chưa thấy bài nào diễn tả
trọn vẹn cái ư “Xuân sớm của nhà thơ” như Dương Cự Nguyên dày công
thể hiện.
Bài thơ xuân ở nhà
thờ tộc Nguyễn
Đó là thơ trên cặp liễn treo trước
bàn thờ nhà thờ tộc Nguyễn Văn ở khối phố Đông Yên, phường Ḥa Thuận,
TP.Tam Kỳ. Cặp gỗ cẩn xà cừ thể hiện các họa tiết đôi chim tước mỏ
dài đậu trên cành liễu với khoảng không phía trên có bướm lượn dập
d́u, lại có thêm dáng h́nh cây thủy trúc bên cạnh chậu thủy tiên.
Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đó có nguyên văn: “Nam chi tài phóng
lưỡng tam hoa/ Tuyết lư ngâm hương lộng phấn ta/ Đạm đạm trước yên
nùng trước nguyệt/ Thâm thâm lung thủy thiển lung sa” (Có người dịch
nghĩa như sau: Vài ba đóa hoa mai vừa mới nở trên cành nam/ Trong
tuyết nhả hương giỡn chút phấn chơi/ Làn lạt lồng khói sương đẫm
bóng dưới trăng/ Trăng lên bóng chuyển, lúc in bóng dưới ḍng sâu,
lúc bên bờ cát). Rất dễ để biết đó là bài “Tảo xuân” của nhà thơ
thời Nam Tống có tên Bạch Ngọc Thiềm (1194 - 1229). Phí Minh Tâm
dịch thơ như sau: “Cành Nam chớm nở vài ba đóa/ Giữa tuyết hương
thầm cợt phấn hoa/ Làn lạt hơi sương trăng ánh sậm/ Rậm râm đáy nước
cát chan ḥa”.
Cũng trong ngôi nhà đó c̣n gặp một
bài thơ trên liễn có tên “Sơn hành” của Đỗ Mục (803 - 852) - nhà thơ
sống cuối thời Đường. Bài này tuy không nói về cảnh xuân nhưng lại
dùng sắc tháng “trọng xuân” (tháng Hai âm lịch) để so sánh. Xin giới
thiệu thêm để tăng phần nhă hứng trước thềm xuân: “Viễn thướng Hàn
sơn thạch kính tà/ Bạch vân sinh xứ hữu nhân gia/ Đ́nh xa tọa ái
phong lâm văn/ Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa” (Dịch nghĩa: Lên
núi xa, đường đá chênh vênh/ Giữa chỗ bồng bềnh mây trắng lại có nhà
người ở/ Dừng xe đắm đuối ngắm cảnh rừng phong buổi chiều tà/ Lá gặp
sương thu, màu đỏ hơn cả hoa tháng Hai). Bài thơ trên được Nam Trân
- một thi sĩ nổi tiếng thời tiền chiến dịch như sau: “Lên đỉnh non
thu chếch nẻo ngoài/ Giữa vùng mây trắng thoáng nhà ai/ Dừng xe,
chiều ngắm rừng phong thẳm/ Lá đỏ hơn hoa giữa tháng Hai”.
Ở Quảng Nam và ở cả nước ta xưa,
nhiều danh sĩ từng làm nhiều thơ xuân. Nhưng họ khiêm tốn không cho
khắc treo mà chỉ khuyên chọn những thành tựu thơ xuân có từ hàng mấy
trăm đến ngh́n năm trước để ghi trong hoành phi liễn đối.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|