|
Rằm tháng Bảy đọc thơ Tú Quờn
Phú B́nh
|
|
Vào dịp ngày rằm tháng Bảy âm lịch xưa, dân gian ta thường có tục
cúng cô hồn, cầu “xá tội vong nhân”; có khá nhiều bài văn Nôm xưa
viết về chủ đề này. Ở nam Quảng Nam khoảng đầu thế kỷ XX, có ông Tú
Quờn, một người nổi tiếng hay chữ ở làng Khương Mỹ (nay là xă Tam
Xuân, huyện Núi Thành), sống vào khoảng cuối thời vua Tự Đức đă viết
bài “Văn cúng cô hồn” được truyền tụng khắp vùng Tam Kỳ xưa. |
|

B́nh yên một góc quê ven sông Tam
Kỳ.Ảnh: PHƯƠNG THẢO
Theo nhiều vị cao niên địa phương, bài văn này
được tác giả viết vào dịp tri phủ Tam Kỳ lúc đương thời là ông Lê
Trung Khoản ra lời kêu gọi các văn thân địa phương viết giúp cho Phủ
đường một bài văn tế để cúng các cô hồn vùng Tam Kỳ đă thiệt mạng
trong nhiều thời kỳ trước đó. Phủ Tam Kỳ c̣n treo giải thưởng ba
đồng bạc h́nh “bà đầm x̣e” Đông dương - giá trị khá lớn lúc bấy giờ
- cho ai có bài được chọn.
Bài nào được chọn sẽ được đích thân tri phủ đọc
trong lễ cúng tại G̣ Dịch thuộc làng Phú Hưng, phía nam sông Tam Kỳ
(nay nằm sát cận trạm thu phí Tam Kỳ về phía đông), một địa điểm
chôn nạn nhân của nhiều trận dịch và trận đói ở huyện Hà Đông khoảng
trước và sau thời vua Tự Đức.
Bài của ông Tú Quờn được chọn đọc v́ nổi trội hơn
- nhưng cũng v́, theo lời kể dân gian c̣n truyền, bài này dễ nhớ dễ
thuộc.
Mở đầu bài văn tế, sau những câu chữ Nho thường có
trong bài cúng, ông Tú viết: “H́nh hài tạo hóa, sống trên đời ai
cũng như ai/ Kiếp vận phù sinh, thác xuống đất mộ nào cũng mộ/ Trông
ra đều vắng vẻ, bụi ngập đầy sáu cơi tuyết sương / Ngó lại thấy
quạnh hiu, nh́n sau trước một ḿnh trăng tỏ/ Mác (phương ngữ: cái
rựa) tạo hóa trảy (phương ngữ: phạt, chặt) bụi cây bất nghĩa, dẹp
bên đường cho quư hiển (chỉ các cô hồn) vui ḷng/ Xuổng (phương ngữ:
cái xẻng ) thiên công xắn (phương ngữ: nhấn xuống để tách lấy) lát
đất hữu t́nh, đắp phần mộ cho chư linh kẻo khổ”. Những phương ngữ
tác giả dùng, đọc lên nghe được, ai nấy đều biết đó là từ ngữ quen
thuộc của dân gian vùng Tam Kỳ xưa. V́ thế, đối tượng được nhắc đến
trong bài văn cúng thành rơ ràng hơn.
Tiếp đó, cũng như trong nhiều bài văn tế cô hồn
khác, ông Tú Quờn đă nhắc cụ thể các đối tượng được cúng: “Hoặc là
kẻ sĩ, nông, công, cổ, ngư, mục, canh, tiều/ Hoặc là người thi, tửu,
cầm, kỳ, nho, y, lư, số/ Hoặc là kẻ anh hùng hào kiệt, vị phùng thời
mà khứ quốc ly hương/ Hoặc là người tráng sĩ trượng phu, bất đắc chí
mà vong gia thất thổ/ Hoặc là kẻ quả quan cô độc, bị hung niên không
chẩn thại mạng chung/ Hoặc là người sĩ tốt binh nhung, v́ loạn thế
mà bia danh đoạt số/ Hoặc là kẻ đông tây nam bắc, giận sự đời mà lỡ
bước trái chân/ Hoặc là người lâm dă thị thành, v́ cơ hội mà xa quê
cách tổ/ Hoặc là kẻ cần vương thượng lộ, bên chân trời bị phải gió
mưa/ Hoặc là người kích nhiếp trung lưu, trên mặt nước gặp cơn dông
tố/ Hoặc là kẻ nỗi niềm ân ái, sầu tương tư ḍng nước gieo ḿnh/
Hoặc là người giữ đạo hiếu trinh, giận cơ hội nhành cây gởi cổ”. Đọc
kỹ nghe kỹ các câu trên thấy h́nh như ông không bỏ sót một thành
phần nào trong xă hội xưa. Tuy diễn tả không được văn vẻ như cụ
Nguyễn Du trong bài “Văn tế thập loại chúng sinh”, nhưng đọc bài của
ông tú Quờn, những cảnh ngộ trái ngang dẫn đến bị vong thân như hiển
hiện rơ ràng trước mắt. Qua bài văn này, h́nh ảnh sinh hoạt trong
một xă hội phong kiến thời xưa đă được phác thảo gần như rơ nét.

Hai trang đầu bản chữ Nôm bài Văn
tế cô hồn của ông Tú Quờn.
Những câu tiếp theo của bài văn mô tả cảnh t́nh ảm
đạm của mồ mả vô chủ ngày xưa. Một lần nữa, đối tượng được cúng của
bài văn tế hiển hiện rơ ràng hơn nữa: “Thảm thương thay mùa xuân đă
đến! Mả mộ tàn không kẻ viếng thăm/ Thảm thương thay ngày lụn tháng
qua! Hương khói lạnh không người quyến cố”. Ai đă từng sống ở vùng
ven sông Tam Kỳ, từng đến những nấm mộ đất vô chủ cỏ mọc um tùm,
được giẫy tập thể vào nửa đầu tháng Chạp trong những cơn mưa lất
phất buổi cuối đông, đọc những câu biền ngẫu nôm giản dị như trên
cũng sẽ trỗi lên bao niềm cảm khái về một vùng đất Hà Đông nghèo nàn,
chịu nhiều tai trời ách nước.
Đại đa số dân cư vùng Tam Kỳ - Hà Đông xưa theo
đạo thờ cúng ông bà; người có tôn giáo khác rất ít. V́ thế, một đặc
điểm của việc cúng tế ở vùng đất này từ xưa là sự giản dị trong phẩm
vật và trong cách thức thực hiện nghi lễ. Điều đó xuất phát, một
phần là do vùng đất nghèo; phần khác có thể do cư dân nơi đây phần
lớn từ gốc gác là dân đánh cá chuyển sang làm nông qua nhiều đời.
Giả thuyết này cần được các nhà nghiên cứu văn hóa địa phương t́m
hiểu thêm. Nhưng, những ǵ mà ông Tú Quờn viết ra trong kết thúc bài
văn cúng đă gợi lên h́nh ảnh của sự cúng kiếng giản dị đó: “Ba tuần
rượu rót cùng bàn án: Hưởng pḥ tŕ không hưởng cũng pḥ tŕ/ Tấc
ḷng thành thấu đến huỳnh tuyền: Thương bảo hộ không thương cũng bảo
hộ/ Ba tấc đất cho chư linh kẻo khổ: Ấy là Đạo sống thác không quên!
/ Chốn suối vàng quư hiển biết chăng: Ấy là nghĩa mất c̣n nào bỏ!”.
Nội dung đạo lư theo truyền thống dân tộc và có chịu ít nhiều ảnh
hưởng tư tưởng Nho giáo đă thể hiện đậm nét trong phần kết của bài
văn này.
Di sản Hán Nôm ở vùng Hà Đông - Tam Kỳ xưa c̣n lại
không nhiều. Thơ văn của người địa phương sáng tác trong thời Nho
học cũng hiếm. Theo lời kể của một số vị cao niên ở thôn Khương Mỹ
th́ ngoài bài “Văn cúng cô hồn”, ông Tứ Quờn c̣n có một số thơ văn
khác như “Vè bà Phó”, “Tuồng đổ bác” (phê phán thói đánh bạc), “Thơ
gởi cho chồng” (thác lời một phụ nữ có chồng đi lính cho Tây; khuyên
anh này sớm bỏ ngũ trở về) cùng một số giai thoại thơ văn trào phúng
có liên quan. Tất cả đáng được sưu tầm đầy đủ.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|
|