|
|
Trong cuốn “Tư liệu thư tịch và di
tích về nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán” (Sở VH -TT tỉnh Quảng Ngăi xuất
bản năm 1996) có in chính văn (chữ Hán) một tư liệu xưa là “phủ tập
Quảng Nam kư sự” (sau đây gọi tắt là Kư sự) . Tư liệu này do một
người họ Mai (Mai thị) biên soạn vào khoảng niên hiệu Chánh Trị đời
Lê Anh Tông (1558 - 1571).

B́a cuốn sách có
phụ lục nguyên bản chữ Nho “Phủ tập Quảng Nam kư sự”
do Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngăi xuất bản năm 1996 . ảnh: Phú B́nh
Di dân, sắp xếp
ruộng đất
Đây là chuyện kể về ông Bùi Tá Hán
(1496 - 1568) người đă khuông phù nhà Lê trung hưng dựng nghiệp ở
Thanh Hóa (1533). Năm 1545, vua Lê Trang Tông phong cho ông chức Bắc
quân Đô đốc Chưởng phủ sự Trấn quốc công và phái mang quân vào đánh
dẹp quân nhà Mạc ở thừa tuyên Quảng Nam.
Tháng 8.1545, Bùi Tá Hán xuất quân từ
cửa biển Hội Thống vùng Thanh Nghệ, vào đến vùng biển Quảng Nam -
Quảng Ngăi th́ chia quân làm 2 cánh: một cánh đổ bộ vào Cù Lao Ré (Lư
Sơn) rồi vào đất liền; cánh kia tập kết vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)
rồi phân làm 2 chi: “Một chi phối hợp với quân đội ở đồn điền Phú
Ninh chốt giữ đ̣ Bến Ván”, “một chi phối hợp với quân binh đồn điền
Tân Phước, dùng sức mạnh đánh chiếm huyện lỵ B́nh Sơn, chốt giữ bến
đ̣ Châu Ổ”. Trước đó, sách này cũng kể là “Ngày bảy tháng Tám (năm
Ất Tỵ 1545) các đồn điền Phú Ninh, Liên Chiểu, Tài Đa đều dựng cờ
khởi nghĩa…” (Kư sự, tờ 3b, bản chữ Hán). Các địa danh nêu trên gần
như trùng với các địa danh xưa ở Quảng Nam - Đà Nẵng như: Liên Chiểu
(Đà Nẵng); Phú Ninh (vốn tên gốc là Tân Ninh, sau đổi thành Phú Ninh
do kiêng húy vua Lê Kính Tông 1600 - 1619); Tân Phước (tên xưa của
vùng Tiên Phước khi chưa đổi v́ kỵ húy); Tài Đa (tên một làng nay
thuộc huyện Tiên Phước); Bến Ván (Núi Thành).
Kư sự cho biết Bùi Tá Hán đă sắp xếp
lại ruộng đất ở các đồn điền do quân đội cai quản: ruộng đất do các
đồn điền này khai vỡ đều xếp vào loại công điền. Ruộng công này sẽ
được cấp cho quân lính thuộc đồn điền “muốn giải ngũ nhập tịch với
xă sở tại” “để họ làm ăn sinh sống” hoặc “giao cho các thôn xă sở
tại phân cấp cho quân dân cày cấy chịu tô thuế”. Qua các chi tiết
này, có thể thấy, trước khi quân của Bùi Tá Hán vào, tại vùng Quảng
Nam, Quảng Ngăi đă có nhiều đồn điền như Liên Chiểu, Tài Đa, Phú
Ninh, Tân Phước, Năng Bân, Văn An, Long Phụng, Vạn Phước, Thi Phổ…
và nhà Mạc sử dụng lực lượng quân lính đồn trú ở đồn điền khai khẩn
đất đai để tự canh tác và cai quản. Điều này hoàn toàn phù hợp với
các mô tả trong Đại Việt sử kư toàn thư của Ngô Sĩ Liên nói về chính
sách của vua Lê Thánh Tông lưu quân binh ở lại lập đồn điền để “vừa
khai khẩn vừa canh pḥng” trên vùng đất phía nam đèo Hải Vân vừa mới
tái thu phục từ sau cuộc nam chinh 1470.
Kư sự cũng kể “Từ sau ngày miền đất
Quảng Nam được vỗ yên, nông dân nghèo ở các xứ Thanh Ba, Nghệ An,
Hải Dương lũ lượt kéo nhau vào đây để vỡ ruộng lập làng”. Cuộc di
dân đă góp thêm một lực lượng dân cư hùng hậu làm chỗ dựa cho sức
mạnh các chúa Nguyễn Đàng Trong trong quá tŕnh nam tiến sau này.
Nguyên ủy của đợt di dân này đă được sách ấy ghi lại như sau: Khi
nhận được tin đô đốc Bùi Tá Hán thu hồi được vùng “trấn Quảng Nam”
từ tay nhà Mạc (1545), triều đ́nh vua Lê Trang Tông (1533 - 1548) đă
quyết định “Quảng Nam địa quảng điền ph́ nhi hộ hy nhơn thiểu, lánh
di nhất tá bần chi canh dân tỉ cư sanh lư, phả hữu tích trữ lương
thực dĩ đồ cửu kế” (Quảng Nam đất rộng mà hộ hiếm người ít, (ta)
riêng đưa một số dân làm ruộng nghèo (đến đó) (họ sẽ) phát triển gấp
nhiều lần, có thể tích trữ lương thực (để ta có thể) mưu đồ kế (khôi
phục) lâu dài - NV dịch - tờ 15a, bản chữ Hán).
H́nh thành tập quán
T́nh trạng các di dân buổi đầu vào
Quảng Nam cũng được sách này mô tả khá chi tiết: “Quan huyện ở các
địa phương phụ trách việc tiếp dân và điều hành công việc. Hộ nào
đến trước th́ ở nhờ vào địa phận xă có đồn điền của quân đội. Quan
huyện xuất kho trợ cấp mỗi hộ 5 tháng lương ăn. Quân đội ở các đồn
điền chặt gỗ trong rừng, cắt tranh trên núi làm nhà ở, giao cho mỗi
hộ tạm thời sử dụng. Trích ruộng thục điền trong số ruộng đất ở các
đồn điền giao cho mỗi hộ một ít để tạm thời canh tác. Khuyên mọi
người cày trồng khoai lang, rau ngắn ngày để sau ba tháng có hoa lợi
dùng. Khuyên nhà quan, nhà dân, không luận giàu nghèo, mỗi khi nấu
cơm nên ghế thêm (hai phần mười) khoai lang hoặc bắp thay gạo”
(tr.25, 26). Đây là những đoạn tư liệu rất quư giá giúp người Quảng
Nam - Quảng Ngăi đời sau h́nh dung được t́nh cảnh tổ tiên từ đất Bắc
buổi đầu vào xứ Quảng dựng nghiệp.
Kư sự c̣n cung cấp cho người Quảng
thời nay là biết về các quy định do ông Bùi Tá Hán đề ra đă là nguồn
gốc của một số tập quán đặc trưng vùng miền như: “làm nhà kiểu tám
cột ba gian lợp bốn tấm rui vuông bốn góc”; “phụ nữ không dùng quần
không đáy (mà) đồng loạt dùng quần như nam giới, nhuộm đà hoặc chàm
để phân biệt nam, nữ”; “Làm nồi đồng, nồi đất, ở cổ có lỗ quay, dùng
đũa bếp mà bưng xuống tiện việc đun nấu”( tr.26). Đọc đến đoạn này,
hẳn nhiều người không khỏi mỉm cười ư nhị khi nhớ đến câu thành ngữ
nói về sự khác biệt với tập quán xứ Bắc thời xưa: “nhà không chái,
đái không ngồi (giễu đàn bà mặc váy - NV), nồi không quai”. Những
điểm khác biệt c̣n có thể thấy thêm ở một số quy định mà Bùi Tá Hán
đề ra cho cư dân Quảng Nam vào hạ bán thế kỷ 16 như sau: “cày bừa
đều dùng ách mắc 2 trâu kéo; trên mỏ cày có thêm trạnh phụ”; “ngăn
sông làm bờ xe nước để đưa nước vào ruộng”; “làm thuyền nan trét dầu
rái để thay thuyền ván” (tr.26, 27).
Ngoài ra, Kư sự c̣n cho biết thêm một
số điều mà Bùi Tá Hán áp dụng như việc chăm sóc sức khỏe: “mỗi xă
thôn mời một thầy thuốc để chữa trị cho dân”; việc lập trường học
“xă thôn nào hộ khẩu tăng nhiều… rước một thầy sinh đồ, lập nghĩa
thục để dạy lễ nghĩa và văn học cho con em”; việc dựng đ́nh chùa
“Mỗi xă thôn (nên) lập đ́nh, chùa để nhân dân cúng lễ”; hoặc việc
giao thông “từ huyện Hy Giang (Duy Xuyên ngày nay - NV) đến huyện
Tuy Viễn (B́nh Định ngày nay - NV) cần đắp một con đường thiên lư
rộng hai trượng rưỡi… cứ 17 lư đặt một nhà dịch trạm”; biết lai lịch
về quy định đo đạc và phân hạng ruộng đất “khám đạc ruộng đất công
cũng như tư, phân định các hạng để tiện việc thu thuế. Nên định mỗi
sào mười lăm thước; ruộng (điền) chia làm ba hạng, đất (thổ) chia
làm ba hạng” (bản dịch - tr.26, 27).
Trong điều kiện thiếu vắng tư liệu Hán
Nôm để phục vụ công việc nghiên cứu lịch sử văn hóa địa phương, việc
phát hiện ra tập Kư sự này thật là may mắn. Hẳn nhiên c̣n có nhiều
điều cần phải t́m hiểu thêm về “hành tŕnh” của tập kư sự này cũng
như về những nội dung mà nó đề cập. Nhưng sự chân thực của những chi
tiết lịch sử, xă hội, văn hóa, địa lư… thể hiện trong tập kư sự thật
khó để mà hoài nghi và phản bác.
PHÚ B̀NH
|
|