|
|
Vào đầu thế kỷ 20, huyện Hà Đông, phủ
Thăng B́nh, tỉnh Quảng Nam được nâng lên thành phủ Tam Kỳ. Xă Tam Kỳ
được chọn đặt làm phủ lỵ. Địa giới phủ Tam Kỳ lúc đó bao gồm vùng
đất các huyện Núi Thành, Phú Ninh, Tiên Phước, một phần huyện Bắc
Trà My và TP.Tam Kỳ ngày nay.

Ngă ba sông Tam Kỳ.
Ảnh: PHÚ B̀NH
Từ huyện Hà Đông đến
phủ Tam Kỳ
Thời các chúa Nguyễn, theo ghi chép
trong sách Phủ biên tạp lục (soạn năm 1776), phần lớn xă thôn nằm
trên vùng đất mà sau này trực thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa,
tỉnh Quảng Nam lệ vào địa bàn các thuộc như “thuộc Chu Tượng”,
“thuộc Hà Bạc”, “thuộc Thương Nhân Hội Tân”… trong đó có “thuộc Liêm
Hộ” là rộng nhất. Các thuộc đó, theo ghi nhận của Phủ biên tập lục,
đều thuộc địa bàn của huyện Duy Xuyên, phủ Thăng Hoa, tỉnh Quảng
Nam.
Đến đầu thời Gia Long (1802-1820), địa
bàn các thuộc vừa kể nằm trong phạm vi quản lư của huyện Hà Đông.
Theo địa bạ thời Gia Long (lập từ khoảng năm 1807 đến 1814), huyện
Hà Đông (thuộc phủ Thăng Hoa) lúc này bao gồm 4 tổng: Chiên Đàn
Trung, Đức Ḥa Trung, Vinh Hoa Trung, Tiên Giang Thượng và 4 thuộc:
Chu Tượng, Hà Bạc, Hội Sơn Nguyên, Liêm Hộ.
Theo thống kê của ông Nguyễn Đ́nh Đầu,
chuyên viên nghiên cứu địa bạ ở TP.Hồ Chí Minh, các tổng và thuộc
nói trên bao gồm 119 xă, 31 thôn, 3 phường, 2 giáp, 6 ấp, 3 tộc và 2
trại, trong đó có các xă, thôn địa đầu của huyện Hà Đông như Tà Mi (cực
tây nam), Ḥa Vân (cực nam - giáp Quảng Ngăi), Ḥa Thanh, Tỉnh Thủy
(giáp biển đông)…
Đến niên hiệu Thiệu Trị (1841 - 1848),
khi phủ Thăng Hoa đổi tên thành phủ Thăng B́nh, huyện Hà Đông vẫn
thống quản các xă thôn như trước, lúc này địa hiệu đă đổi là “huyện
Hà Đông, phủ Thăng B́nh”. Đến thời điểm này, một số xă thôn ở vùng
phía đông (sau thuộc về huyện Hà Đông) vẫn nằm trong phạm vi quản lư
của tổng Hưng Thạnh Hạ, huyện Lễ Dương, phủ Thăng B́nh, đó là các xă
thôn Quảng Phú, An Hà, Ngọc Mỹ, Phú Thạnh, Tân An, Vĩnh Phước, Mỹ
Cang, Thạch Tân.
Lỵ sở của huyện Hà Đông xưa đặt ở xă
Chiên Đàn, tổng Chiên Đàn Trung. Đây là một xă lớn, có diện tích
công điền đứng hàng thứ tư ở vùng nam Quảng Nam.
Đến năm 1906, chính quyền thực dân
phong kiến cho nâng huyện Hà Đông lên thành phủ Hà Đông. Ban đầu,
phủ lỵ vẫn được đặt ở làng/xă Chiên Đàn. Không lâu sau, khi đổi tên
thành phủ Tam Kỳ th́ lỵ sở mới chuyển vào xă Tam Kỳ ở phía nam, cách
lỵ sở cũ khoảng 5km.
Xă Tam Kỳ khá phát triển so với các
làng xă lân cận. Ở đây có ngôi chợ Vạn tập trung hoạt động buôn bán
đông đúc nhất, là nơi tập kết nguồn lâm thổ sản như quế, chè, tiêu
cau, thuốc lá… của khắp vùng nguồn Tiên Phước, Trà My. Khi đặt Tam
Kỳ làm phủ lỵ, người Pháp và chính quyền Nam triều đă cho xây dựng
tại xă này nhiều cơ sở phục vụ hoạt động quân sự, hành chính, giao
thông, kinh tế lớn: đồn (binh) Đại lư Pháp, phủ đường Nam triều, đồn
Thương chính, nhà Dây thép, nhà Thương…. Đường sá trong phủ lỵ cũng
được mở rộng để tiện đường lên ga xe lửa và lên vùng Trà My, Tiên
Phước chuyên chở lâm sản về xuôi. Về sau c̣n mở cả một đường băng
cho máy bay hạ cánh (gọi là Terrain d’aviation) ở xă Ngọc Thọ cách
phủ lỵ Tam Kỳ gần 3km về phía nam.
Tuy mở mang nhiều, xă Tam Kỳ nói riêng
và cả phủ Tam Kỳ nói chung vẫn chưa phát triển lắm so với đời sống
làng xă của huyện Hà Đông trước đó. Điều đó từng được ghi nhận trong
một bài thơ của bà Tạ Quang Diệm (thân mẫu Giáo sư Tạ Quang Bửu) -
người từng theo chồng làm việc và cư ngụ ở Tam Kỳ: “Phải huyện Hà
Đông cũ ở đây?/ Có đồn đại lư, có lầu Tây/ Nước sông Bàn Thạch quanh
quanh chảy/ Ngọn núi Tùng Lâm lớp lớp xây/ Kim Đái đai vàng đâu
chẳng thấy?/ Thạch Kiều cầu đá hăy c̣n đây!/ Sông Tiên nào thấy ông
tiên tới?/ Bủa lưới giăng câu mấy chú chài!”.
Bài phú “Tam Kỳ phủ
bách thập bát xă”
Không chỉ bà Tạ Quang Diệm, có một Nho
sĩ ở địa phương đă liệt kê tên 118 xă của phủ Tam Kỳ đầu thế kỷ 20
trong một bài phú rất nổi tiếng, đó là ông Trương Trọng Hoàng người
xă Ḥa Tây, tổng Chiên Đàn Trung. Ông này học giỏi, được tuyển vào
ngạch học sinh học trường Huấn của tỉnh nên nổi tiếng trong dân gian
với tên Học Hoàng.
Bài phú lưu lại của ông Học Hoàng,
theo công bố của ông Nguyễn Q. Thắng trong cuốn “Tam Kỳ qua sóng phế
hưng” (NXB Văn Học 2012) đă được “Ghi theo trí nhớ của ông Phạm
Quang Toản (Tiệu), xă Tam Hải, huyện Núi Thành” (sđd tr.195). Trong
dân gian vùng ven sông Tam Kỳ, có mấy vị cao niên hồi cuối thế kỷ 20
cũng nhớ một số đoạn trong bài phú này nhưng không đầy đủ.
Đây là bài phú chữ Nho rập theo cách
của nhiều Nho sĩ xưa, liên kết các tên làng xă thành các câu đối
biền ngẫu để nói lên một chủ đề nào đó. Ở đây, nội dung của bài phú
là ca ngợi ông Lê Trung Khoản quê xă B́nh Sơn, tỉnh Quảng Ngăi - một
người đức độ, từng giữ chức Tri phủ ở Tam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20.
Theo thống kê của ông Nguyễn Q. Thắng,
có 118 tên xă được ông Trương Trọng Hoàng nhắc đến trong bài phú của
ḿnh. Các xă đó nằm trong 7 tổng Tiên Giang, Chiên Đàn, Vinh Quư,
Đức Ḥa, Phú Quư, Đức Tân, An Ḥa của phủ Tam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20.
Do phụ thuộc vào kết cấu thể phú nên những tên xă trong bài phú
không liệt kê theo địa bàn từng tổng mà rải ra theo nội dung ư nghĩa
nằm trong địa danh.
Ví dụ, ca ngợi tài trí, học vấn của
người được tặng, tác giả Học Hoàng viết: “Công kư tài đa, công hựu
phú mỹ/ Phẩm cách long b́nh, học vấn sung mỹ” (Ư: Ông đă lắm tài lại
là người giàu nết đẹp/ Có phẩm cách của người cầm cân nảy mực, lại
có học vấn cao minh). Trong câu này có ghi tên 4 ngôi làng Tài Đa
(nay ở Tiên Phước), Phú Mỹ (nay ở Phú Ninh), Long B́nh, Sung Mỹ (nay
ở Núi Thành).
Hoặc câu khác: “An mỹ đông tây, cảnh
vật hàm y đức bố/ Ḥa thanh thượng hạ, phong ba cọng dẫn văn hà” (Ư:
Đức độ của ông nổi tiếng khắp nơi/ Làng trên xóm dưới, thảy đều
truyền tụng về sự cao đẹp của ông). Trong câu nầy, các làng An Mỹ
Đông, An Mỹ Tây, Văn Hà (nay ở huyện Phú Ninh), Đức Bố (nay ở huyện
Núi Thành), Ḥa Thanh Thượng, Ḥa Thanh Hạ (nay ở TP.Tam Kỳ) đều
được đề cập. Tra hàm nghĩa chữ Nho các tên làng Đức Bố (nêu gương
đạo đức) Văn Hà (ráng mây đẹp) có thể thấy tác giả bài phú không chỉ
nêu tên làng qua việc ca ngợi một con người cụ thể mà c̣n muốn cho
người đọc hiểu được về vẻ đẹp của tên làng ḿnh.
Tiếc là bài phú được ghi theo trí nhớ
nên có thể có đoạn bị sót. V́ vào thời điểm phủ Tam Kỳ vừa được
thành lập (1906), số lượng thôn xă của phủ này đă hơn con số 118 (bách
thập bát).
PHÚ B̀NH |
|