|
Dấu xưa Phô Thị
Phú B́nh
Làng Phô Thị xưa thuộc tổng An Thái
Trung, huyện Lễ Dương, phủ Thăng B́nh, nay là thôn Tú Phương và một
phần thôn Tú Cẩm của xă B́nh Tú, huyện Thăng B́nh. Ở đây hiện c̣n
hai dấu tích văn hóa, lịch sử rất đáng chú ư.

Lăng bà Phô Thị. Ảnh: PHÚ B̀NH
Lăng bà Phô Thị
Từng có nhiều bài viết dựa vào bài
báo của ông Lê Duy Anh (ở Đà Nẵng) đăng trên tạp chí Xưa và Nay số
tháng 9.2001 kể rằng: bà Phô Thị tên Nguyễn Thị Ngọc Liên, là vợ của
tướng Khắc Vũ hầu Lê Thập. Bà đă cùng chồng theo vua Lê Thánh Tông
Nam chinh, được giao nhiệm vụ phụ trách quân lương và đă hy sinh khi
đánh giặc ở cánh đồng làng Phô Thị. Sau khi mất, bà hiển linh “báo
mộng cho vua Lê Thánh Tông, giúp nhà vua đánh thắng giặc”. Bà từng
“ra uy dừng chân voi của Tả quân Lê Văn Duyệt khiến ông này phải
khấn vái xin cho quân đi và sau đó quay lại trùng tu miếu thờ bà”…
Theo ông Vơ Đức Toàn (68 tuổi,
người địa phương), làm việc ở Ban quản lư Lăng Bà Phô Thị (xă B́nh
Tú, huyện Thăng B́nh) th́ những huyền thoại trên, từ trước ông từng
nghe người già trong làng kể lại. Ở làng Trà Long, sát cận làng Phô
Thị về phía đông, c̣n lưu tư liệu có tên “Truy tầm kê biên tư liệu
tiểu sử nguồn gốc ḍng tộc tiền hiền làng Trà Long”, ghi lại chuyện
dựng miếu bà Phô Thị như sau: “Thời cuối Hậu Lê gọi (bà là) Công
chúa Nguyễn Thị Ngọc Liên, đi theo đường hành quân Bắc Nam, trên
công lộ (thiên lư lộ - NV) bị đọa thai chết trên địa bộ làng Trà
Long giá bộ làng Phô Thị (giá bộ: phần đất giáp ranh, xen lẫn ruộng
đất hai làng - NV). Hai làng trách nhiệm phải mai táng, nhưng bà quá
linh hiển, hai làng làm một cái miếu tranh để thờ, trích cấp 4 sào
ruộng để lo hương khói tế cúng trong năm. Thời Gia Long, ông Lê Văn
Duyệt đi dẹp giặc ngang qua, voi cắm ngà (không chịu đi - NV), ông
vào vái xin. Khi dẹp giặc xong, ông về bảo hai làng chung làm một sở
miếu ngói. Trà Long góp một nửa gồm 10 cây cột mít to hơn; Phô Thị
một nửa, 10 cây cột mít nhỏ hơn. Nửa cái miếu phía bắc của Trà Long,
trên đầu kèo có khắc chữ “Trà Long xă”. Đến ngày 25 tháng 12 là ngày
lập miếu, 2 làng tập trung tế lễ” (trang 15).

Giới thiệu sắc phong tại nhà thờ ông Vơ Đăng Xuân. Ảnh: PHÚ B̀NH
Người viết cũng t́m thấy trong bản
in chữ Nho sách Đại Nam nhất thống chí hiện lưu tại Thư viện Khoa
học xă hội TP.Hồ Chí Minh (kư hiệu HNV-209), tờ/trang 672 nguyên văn
đoạn viết có liên quan đến miếu thờ Thai Dương phu nhân (tức miếu bà
Phô Thị - NV) ở huyện Thăng B́nh như sau: “Thai Dương phu nhân từ:
tại Lễ Dương huyện đông, Phô Thị xă, quan lộ chi tả. Lê triều thân
phiên Bá Việt chí thử, tặc truy cấp chi. Phu nhân dữ tặc tương cự.
Thần, phương hữu nhâm, trụy mă. Tặc tướng cầm chi. Phu nhân tự sát,
quan đới y thường ủy khí lộ tả. Tặc khứ, ấp nhân thâu táng chi; cấu
cung ư mộ lũng, trí di y thường tự chi. Hạn đảo tức ứng. Lê Chính
Ḥa thập niên, truy tặng hiển hiệu, cấp quan tiền tu tập tự vũ. Hậu
đồi hoại, xă dân cải tu miếu mạo như cố. Lũy trứ linh ứng. Tự tiền
sơn thâm thụ lục. Chiêm giả khởi kính” (Tạm dịch: Miếu thờ Thai
Dương phu nhân ở phía đông huyện Lễ Dương, xă Phô Thị, bên tả đường
cái. Triều Lê, có viên tướng của triều tên là Bá Việt đến chỗ này;
giặc đuổi theo rất gấp. Bà (giúp ông ta) đánh nhau với giặc. Lúc ấy,
(bà) đang có thai, ngă ngựa, bị tướng giặc bắt. Bà bèn tự sát; y
phục, mũ áo vứt bỏ bên tả đường. Khi giặc rút đi, dân trong ấp làm
mộ táng bà; giữ y phục áo mũ của bà để thờ tự. (Bà rất linh) gặp hạn
hán cầu đảo ắt có mưa. Thời Lê, niên hiệu Chính Ḥa thứ mười (1689),
triều đ́nh truy tặng danh hiệu để thờ và cấp tiền để trùng tu nơi
thờ tự. Về sau, miếu mạo bị hư nát, dân trong xă sửa chữa, tu bổ như
cũ. Bà nhiều lần thể hiện sự linh ứng. Trước nơi thờ bà có cây cối
xanh tốt, có núi ở xa phía trước. Người đến đây chiêm bái đều dấy
ḷng kính sợ). Nội dung trên không thấy đưa vào trong bản dịch sách
Đại Nam nhất thống chí của Viện Sử học (Nxb Khoa học xă hội, Hà Nội
1970).
Ông Phó bảng làng
Phô Thị
Trong văn bia “Lễ Dương huyện khoa
hoạn bi chí” có chi tiết liên quan đến một nhà khoa bảng quê ở làng
Phô Thị như sau: “Phó bảng Vơ Đăng Xuân (sau đổi tên là Tấn Thượng).
Tên ông xếp thứ tám trong hàng đỗ Phó bảng (Khoa thi Hội năm Kỷ Dậu,
niên hiệu Tự Đức thứ 2 - 1849), làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị
giảng, lĩnh chức Hà Nội Án sát sứ, sung chức Tán tương quân thứ Hưng
- Tuyên. Năm Tự Đức thứ 25, tháng 5, một ngày đang đánh trận ở Đồng
Lũng bị ngă ngựa chết ngoài mặt trận. Triều đ́nh tuy tặng chức Thị
độc Học sĩ, được liệt vào thờ tại miếu “Trung Nghĩa”. Ông là người
khẳng khái, có khí tiết lạ, thi đỗ xong ở nhà nuôi dưỡng cha mẹ và
mở lớp dạy học, học tṛ và người nhà được nhiều thành tựu. Lúc đầu
bổ vào Tập hiền viện, giữ nhiệm vụ ghi chép lại những lời thảo luận,
trao đổi giữa nhà vua với các giảng quan trong các buổi học, tiếp
đến làm quan khâm phái Tuy Phước, được tiếng khen là “Liêm, Cán, Sát,
Cử”. Chuẩn phong thực thụ đồng Tri phủ, rồi lĩnh chức ở huyện, chẳng
bao lâu bị giáng chức xuống làm việc phụ thuộc Nội các, giữ nhiệm vụ
biên tập các Giám thư trong Nội các. Vừa lúc vùng Cao Bằng - Lạng
Sơn có sự biến (bọn giặc phỉ Trung Hoa vốn là quân Thái B́nh thiên
quốc chạy sang quấy phá vùng biên giới Cao - Lạng) ông thỉnh xin cầm
quân ra đóng ở Long Châu, làm bạn với Đề đốc Phùng Tử Tài nhà Thanh,
cùng diệt giặc, lập nhiều công lớn, được tiếng khen. Trở về giữ chức
Hậu bổ huyện Hương Trà, một năm sau thăng làm Án sát. Là người có
phong cách khoáng đạt vượt trội, thường ngày ông vẫn làm chủ nhân
cách cao khiết của ḿnh vậy!” (Trích “Bia Văn thánh và một số văn
bia Hán Nôm tại huyện Thăng B́nh” do UBND huyện Thăng B́nh chủ biên
và xuất bản năm 2015. Biên dịch: Nguyễn Bằng, Nguyễn Văn Hà, trang
80 - 81)
T́m đến tổ 16 thôn Tú Phương xă
B́nh Tú, người viết được hậu duệ là ông Vơ Tấn Tâm (79 tuổi) mở cho
xem các sắc phong và bằng cấp triều Nguyễn cấp cho ông Vơ Đăng Xuân
(được ghi tên Vơ Tấn Thượng). Qua đó, có thể biết, các chi tiết ghi
trong tấm bia “Lễ Dương huyện khoa hoạn bi chí” về ông Vơ Đăng Xuân
đều phù hợp với các sắc phong và bằng cấp này. Trong số văn bản đó
c̣n có hai đạo sắc triều Nguyễn phong thưởng cho cha và mẹ ông Vơ
Đăng Xuân là ông Vơ Đăng Nghị và bà Hồ Thị Liên.
Theo anh Vơ Tấn Duẩn (SN 1964 ở tổ
16 thôn Tú Phương) - một hậu duệ khác, chúng tôi đến mộ ông Vơ Đăng
Xuân nằm ở tổ 7 thôn Tú Cẩm xă B́nh Tú và đọc được ở bia mộ các nội
dung sau: Ḍng chính: “Hoàng triều - Hiển khảo - Phô, Hưng - Kỷ Dậu
khoa Ất Tiến sĩ - Cáo thụ - Phụng Thành đại phu - lĩnh Hà Nội Án sát
Sứ ty - Tặng tứ Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ - thụy (hai chữ không rơ)
- Vũ phủ quân Thần mộ (Lược dịch: Đây là mộ linh của cha tôi, họ Vơ
- quan triều Nguyễn - người làng Phô Thị, tổng Hưng Thạnh - đỗ Phó
bảng (Ất Tiến sĩ) khoa thi năm Kỷ Dậu (1849). Từng giữ chức Án sát
sứ Hà Nội. Sau khi mất được sắc phong hàm Phụng Thành đại phu”. Ḍng
bên tả ghi năm khắc bia “Tự Đức nhị thập bát niên (1875), Thu - thất
nguyệt”. Ḍng lạc khoản bên hữu ghi tên hai người con là: “Giảng,
Gián”.
Đặc biệt, dưới ḍng ghi năm tháng
khắc bia có ghi thành phần học tṛ cùng (với gia đ́nh) dựng bia cho
thầy học gồm: cử nhân, tú tài, bá hộ, thư lại, thông lại, phó tổng,
thí sinh, khóa sinh (chỉ ghi danh vị - không ghi tên cụ thể). Đây là
một văn bia rất đặc biệt, nó thể hiện được một cách thức chép văn
bia mộ rất cụ thể đối với người đỗ đại khoa, từng làm thầy rồi làm
quan ở thời xưa.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|
|