Những người tiên phong của đất xưa

Phú B́nh

 

Một số nhân vật lịch sử của huyện Hà Đông xưa đă để lại những dấu ấn đáng kể trong học hành, làm việc cũng như trong chiến đấu. Nhân kỷ niệm 110 năm phủ lỵ Tam Kỳ, xin gửi đến bạn đọc một số thông tin về những người đạt thành tích đầu tiên trong từng lĩnh vực mà sử liệu gốc c̣n lưu lại.


Bài thơ của hoàng tử Hồng Nhậm tặng ông Trần Hưng Nhượng vào tháng 9.1845.

Vị vơ tướng thời Tây Sơn đầu tiên quê ở Hà Đông c̣n lưu lại bằng sắc là cụ Đống Công Trường, người thôn A Vó, tổng Đức Ḥa, thuộc Kim Hộ, huyện Lễ Dương (sau thuộc huyện Hà Đông rồi thuộc phủ Tam Kỳ). Quê gốc của cụ ở làng Chiên Đàn, theo các vua Tây Sơn lập được nhiều chiến công, được phong tước Miên Tài bá, sau thăng Miên Tài hầu. Theo truyền khẩu cũng như một số tư liệu sao lục c̣n lưu lại, một số vơ tướng đồng thời với cụ Đống Công Trường có Lê Văn Thủ, Lê Văn Long, Kiều Phụng; đều là những vơ tướng đầu tiên của đất Tam Kỳ - Hà Đông đă tham gia khởi nghĩa nông dân chống ngoại xâm, xóa cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn, tạo tiền đề cho công cuộc thống nhất đất nước vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

Vị thượng thư đứng đầu một bộ trong triều Nguyễn lúc mới dựng nghiệp cũng là một người Hà Đông, đó là cụ Trần Văn Thái, quê ở thôn Ngọc Giáp, thuộc Chu Tượng, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa (nay là thôn Lộc Ngọc, xă Tam Tiến, Núi Thành). Khi vua Gia Long kiến tạo triều đ́nh (năm 1802), cụ Thái đă giữ những chức vụ trọng yếu về nhiều lĩnh vực của thủy quân - đặc biệt là thiết kế và chế tạo tàu thuyền vận tải và chiến đấu. Năm 1809 cụ Trần Văn Thái được giao giữ chức Thượng thư bộ Công - là một trong 6 vị thượng thư đầu tiên của triều Nguyễn. Cùng với cương vị này, cụ được giao thống quản điều hành toàn bộ thủy quân trong cả nước. Cụ mất năm 1810, được truy tặng tước Trụ quốc Tham chính (cao hơn quan hàm Thượng thư) - một tước hiệu cao nhất mà triều Nguyễn từng ban tặng cho một người Quảng Nam. Mộ cụ hiện an vị ở xă Tam Tiến, huyện Núi Thành.

Hai người đầu tiên khai khoa thi cử đất Hà Đông xưa là Doăn Văn Đổ, người đầu tiên đỗ Sinh đồ (sau đổi tên thành Tú tài) vào năm 1813 và Doăn Văn Xuân, người đầu tiên đỗ Hương cống (sau đổi tên thành cử nhân) vào năm 1819. Cả hai ông là anh em ruột, quê ở làng Quảng Phú (nay thuộc phường An Phú và xă Tam Phú, TP.Tam Kỳ). Thời ấy, làng này thuộc tổng Hưng Thịnh Hạ, huyện Lễ Dương (sau đổi thành huyện Thăng B́nh); v́ thế, tên hai ông được khắc vào văn bia ở Văn thánh Thăng B́nh. Nhiều tên các vị cử nhân tú tài thuộc làng Quảng Phú tổng Hưng Thịnh hạ này (sau thuộc về địa phận về huyện Hà Đông) cũng có tên trong văn bia văn thánh nói trên.

Vị khoa bảng đầu tiên vào dạy hoàng tử trong triều Thiệu Trị là cụ Trần Hưng Nhượng, quê ở làng Khương Mỹ, tổng Đức Ḥa, huyện Hà Đông (nay là thôn Khương Mỹ, xă Tam Xuân 1, huyện núi Thành). Trước khi được giao việc giúp hoàng tử Hồng Nhậm (sau này là vua Tự Đức) đọc sách, cụ Nhượng từng làm giáo thụ tại phủ Kiến An, tỉnh Định Tường - quê của bà Phạm Thị Hằng, vợ vua Thiệu Trị. Có lẽ là người mẫu mực trong dạy học ở quê vợ của nhà vua nên cụ Nhượng được chú ư và được chọn lựa làm thầy dạy học cho nhà vua tương lai. Hiện gia tộc c̣n giữ một bài thơ của hoàng tử Hồng Nhậm tặng cho ông thầy dạy học của ḿnh vào năm 1845, lời lẽ rất thiết tha, cảm động. Cụ Nhượng cũng là người Quảng Nam đầu tiên được điều đến làm việc tại vùng biên giới Lạng Sơn - Cao Bằng với chức vụ Án sát sứ - một chức vụ quan trọng trong t́nh h́nh thổ phỉ xâm lấn, cướp phá ở biên giới Việt - Trung lúc đương thời.

Người Hà Đông đầu tiên lĩnh chức Sơn pḥng sứ Quảng Nam là ông Nguyễn Văn Hưng (c̣n gọi là Xán). Ông Hưng đỗ “liên tiệp tú tài” (hai lần đỗ tú tài) vào các năm 1842 và 1847, dưới thời vua Thiệu Trị; sau đó đỗ cử nhân vào năm Tự Đức nguyên niên (1848). Ông Hưng, trong cương vị quan trông coi miền sơn cước của cả tỉnh đă có công rất lớn trong việc thu phục người dân thiểu số; không để họ tràn xuống đồng bằng quấy phá, cướp trâu như trước. Việc b́nh định miền núi của ông Hưng đă tạo đà cho Sơn pḥng sứ Trần Văn Dư có điều kiện chuẩn bị hậu cần cho phong trào Nghĩa hội trong thời gian sau đó. Sách Quốc triều hương khoa lục ghi nhận ông Hưng từng làm đến chức Hồng lô tự khanh.

Người trẻ nhất ở đất Hà Đông đỗ cử nhân là ông Phan Văn Xưởng, sinh năm 1816 quê ở làng Khánh Thọ, tổng Chiên Đàn (nay là thôn Khánh Thọ, xă Tam Thái, huyện Phú Ninh). Ông Xưởng đỗ cử nhân năm 1834, lúc mới 18 tuổi. Tám năm sau, lúc 26 tuổi, ông đă thăng tới chức Lễ khoa Chưởng ấn Cấp sự trung kiêm chức Ngự sử ở Tôn Nhân phủ chuyên xem xét và chỉ ra điều sai trái (kê hặc) của các thân tộc nhà vua. Ông Xưởng là người giỏi chữ nghĩa và có nhiều sáng kiến. Khi tháp tùng vua Thiệu Trị tuần du Bắc hà vào mùa xuân năm 1842, ông đă tham gia cùng Khâm sai đại thần là Thượng thư bộ H́nh Vũ Xuân Cẩn giải quyết hơn bốn ngh́n lá đơn khiếu nại tồn đọng của dân chúng từ Quảng B́nh đến biên giới phía bắc. Những ư kiến đóng góp cho triều đ́nh và tính cách của ông Xưởng được sách Đại Nam thực lục ghi cả thảy 18 lần - đó là điều hết sức đặc biệt.

Gia đ́nh có nhiều đại khoa đầu tiên ở đất Hà Đông ghi những công lao lớn với dân với nước là gia đ́nh cụ Nguyễn Dục. Cụ Nguyễn đỗ phó bảng năm 1838, từng được sung vào chức Giáo đạo dạy các hoàng tử ở Dục Đức đường và nổi tiếng là nhà sư phạm mẫu mực của chốn kinh đô, được các sử gia của triều Nguyễn khen tặng là “người có học lực thuần phục, trọng hậu; giản dị, điềm tĩnh, tính hạnh chính trực, là một người gương mẫu cho làng Nho của đất Nam châu”. Con trai của cụ Nguyễn Dục là Nguyễn Thích đỗ tiến sĩ năm 1884, qua đời năm 1885 trong một cuộc binh biến ở kinh thành Huế. Con rể của cụ Nguyễn Dục là Trần Văn Dư, đỗ tiến sĩ năm 1875, kinh qua nhiều chức vụ quan trọng ở triều đ́nh, từng là thầy dạy học của hoàng tử Ưng Đăng rồi Ưng Ky (sau là vua Đồng Khánh). Cụ Trần được cả nước biết tiếng v́ là người lănh đạo phong trào Nghĩa hội Cần vương ở Quảng Nam từ tháng Giêng đến tháng Chạp năm 1885. Cụ bị ám hại bởi tay bọn quan lại Nam triều thân Pháp trong một t́nh huống mà nhà vua Đồng Khánh, học tṛ cũ của cụ can thiệp không kịp.

Người Hà Đông uống thuốc độc tự vẫn khi “chống Pháp bất thành” là cụ Phan Bá Phiến người thôn Cây Bàng, xă Kỳ Lộc, huyện Hà Đông (nay là thuộc xă Tam Tiến, huyện Núi Thành). Cụ Phiến đỗ cử nhân vào năm 1882. Sau khi từ quan về quê, cụ tham gia phong trào Nghĩa hội Cần vương, trở thành phụ tá đắc lực cho cụ Trần Văn Dư (năm 1885) rồi cho cụ Nguyễn Duy Hiệu (1886-1887). Khi Nghĩa hội Quảng Nam không c̣n chống nổi với thực dân Pháp, cụ Phiến đă uống thuốc độc tuẫn tiết vào ngày mùng 5 tháng 8 âm lịch năm 1887. Cụ Phan Bội Châu đă kể về việc ấy trong sách Việt Nam vong quốc sử như sau: “Lúc sinh thời, khi khởi phát đại sự, Phiến vẫn thường mang thuốc độc trong túi áo; lập chí của ông hy sinh v́ cách mạng vốn đă có từ lâu”.

Hai tú tài người Hà Đông là anh em ruột, cùng tham gia chống Pháp, cùng chịu tù đày rồi cùng hy sinh trong nhà tù là Dương Thưởng và Dương Thạc. Theo bản luận tội của Nam triều th́ hai cụ này là người làng Trường An, tổng Đức Ḥa, huyện Hà Đông (nay là vùng ḷng hồ Phú Ninh). Các vị cao niên vùng Tam Kỳ th́ nhớ hai cụ có thời gian cư ngụ ở thôn Quán Rường, tổng Chiên Đàn (nay là xă Tam An, huyện Phú Ninh). Cụ Dương Thưởng từng làm đơn khiếu kiện quan chức, lư dịch ăn hối lộ và áp bức dân nên bị chúng để ư. V́ thế khi t́m được chứng cớ hai cụ có tham gia phong trào cự sưu kháng thuế năm 1908, chúng liền bắt và giải giao lên chính quyền Nam triều và Ṭa sứ Pháp ở Quảng Nam. Cụ Dương Thạc bị đày ra đảo Côn Lôn cùng lúc với cụ Huỳnh Thúc Kháng vào tháng 8.1908; c̣n cụ Dương Thưởng bị đày lên nhà tù Lao Bảo cũng trong khoảng thời gian ấy. Sau đó cụ Dương Thạc mất ngoài đảo do bị ho rồi bị thổ huyết; c̣n cụ Dương Thưởng bị bọn cai ngục bắn chết trong một cuộc nổi dậy của tù nhân Lao Bảo.

Cụ Trần Thuyết là thủ lĩnh cuộc biểu t́nh của dân 7 tổng vùng Hà Đông dẫn đến việc vây phủ đường Tam Kỳ vào năm 1908. Từ một tiếng hô “đ̣i ăn gan” của cụ Thuyết, đáp lại là tiếng “dạ” vang lừng của toàn dân. Sợ mất mật v́ tiếng hô ấy, Đề Tuệ, một Việt gian khét tiếng ở phủ Tam Kỳ đă ngă xuống bất tỉnh rồi chết ngay sau đó. Cuộc vây phủ thất bại, cụ Thuyết bị bắt rồi bị xử chém gần quăng sông sát cầu Tam Kỳ. Cụ là người đầu tiên hy sinh trong phong trào kháng sưu chống thuế năm 1908 ở Nam Quảng Nam.

Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội của sĩ dân vùng Hà Đông xưa là cuộc nổi dậy duy nhất có tổ chức, trải rộng khắp các tổng thuộc huyện Tiên Phước và phủ Tam Kỳ vào ngày 3.5.1916. Cuộc “phiến biến” (theo cách gọi của Pháp và Nam triều lúc ấy) xuất phát từ nhiều ngả, ở nhiều tổng, kéo về vây Phủ đường Tam Kỳ, đồn Đại lư Pháp cùng các đồn Thương chánh ở Tam Kỳ và Hiệp Ḥa (cửa biển An Ḥa). Quân khởi nghĩa đă khiến tri phủ Tam Kỳ và lính Pháp ở đồn Đại lư khốn đốn. Sau đó, nhờ sự tiếp viện từ lính Pháp ở Hội An, một cuộc bố ráp đại quy mô đă diễn ra ở phạm vi phủ Tam Kỳ. Chúng gông xiềng, tra tấn, sách nhiễu những người có tham gia - kể cả thân nhân của họ; chúng lùng bắt và kết án một số thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa - nhẹ th́ giam ở nhà ngục Quảng Nam; nặng th́ đày đi Buôn Ma Thuột, Lao Bảo. Cụ Trần Huỳnh th́ bị xử chém ở Chợ Củi; cụ Trầm Tùng Vân bị xử chém tại G̣ Cồn; các cụ Trần Cang, Trần Thu, Lương Đ́nh Thự… hy sinh tại nhà tù Lao Bảo.

Hai cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng là những chí sĩ xuất thân từ Nho học là người Hà Đông đầu tiên góp phần mở mối Duy tân trên đất Quảng Nam. Hai cụ là người đạt được những thành tích lẫy lừng trong công cuộc vận động Duy tân trên quy mô cả nước. Cụ Phan là người Hà Đông đầu tiên đến Pháp, làm rạng rỡ tên tuổi người nước Nam ngay ở thủ đô của nước đô hộ dân tộc ḿnh. Cụ Huỳnh là người Hà Đông đầu tiên làm báo; cùng làm việc tại ṭa soạn Báo Tiếng Dân của cụ có nhiều người quê vùng Hà Đông xưa.

PHÚ B̀NH

 

* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online : http://baoquangnam.vn/ . Đăng lại với sự đồng ư của tác giả