Làng và đ́nh miếu ở Tam Kỳ xưa

Phú B́nh

Tam Kỳ là xă được chọn làm lỵ sở của phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam hồi đầu thế kỷ 20. Hiện nay, c̣n nhiều tư liệu chữ Nho nói về quá tŕnh thành lập, về các tộc tiền hiền, về sở hữu ruộng đất và đặc biệt là dấu tích các thiết chế thờ tự từng có ở xă này.

Xă/làng Tam Kỳ trong các sách xưa

Phủ biên tạp lục soạn năm 1776 là cuốn sách xưa nhất có đề cập địa danh Tam Kỳ. Trong tư liệu này, địa giới Tam Kỳ được ghi nhận là “vi tử” - tức là một đơn vị đất đai vừa mới khai phá theo cách gọi vào thời các chúa Nguyễn bắt đầu mở đất về phía Nam (vi: diện tích đất hoang vừa được khai phá, tử: chỉ một đơn vị số lượng). Vi tử Tam Kỳ được cuốn sách ấy ghi nhận thuộc về một đơn vị hành chính lớn hơn là “thuộc” (tương đương đơn vị tổng) bao gồm các xă thôn có nhiều hộ khai thác vàng gọi là “kim hộ”. Sách trên cũng ghi nhận tại vi tử này có “quán Suối Đá” và “đ̣ sông Tam Kỳ” nằm trên đường thiên lư xưa.

Đại Nam nhất thống chí là cuốn địa chí được soạn vào giữa thế kỷ 19 tiếp tục ghi nhận tên “đ̣ Tam Kỳ”, “chợ Tam Kỳ”, “thành huyện Hà Đông đặt tại xă Tam Kỳ”, “đầm Tam Kỳ”, “nhà dịch trạm Nam Kỳ ở xă Tam Kỳ”. Những địa điểm đó, đến nay vẫn có thể xác định đúng vị trí.

Ngoài các chi tiết đă dẫn trong hai sách trên, trong cuốn Đồng Khánh địa dư chí soạn vào đầu thế kỷ 20, tên xă Tam Kỳ nằm trong danh sách 31 xă thôn trực thuộc tổng Chiên Đàn (trung), huyện Hà Đông, phủ Thăng B́nh, tỉnh Quảng Nam. Trong tập bản đồ của sách này, tứ cận xă Tam Kỳ xưa được vẽ rất rơ: phía nam giáp xă Phú Hưng, tây giáp xă Trường Xuân và xă Dưỡng An, bắc và tây bắc giáp hai xă Mỹ Thạch, Phương Ḥa, đông giáp ngă ba sông Tam Kỳ.

Tứ cận nói trên gần trùng với mô tả trong Địa bạ triều Nguyễn lập cuối thời Gia Long, đầu thời Minh Mạng như sau: “xă Tam Kỳ thuộc Liêm hộ. Đông giáp xă Phú Hưng, tây giáp xă Đá Bạc và xă B́nh An Bạch Câu, xă Phú Lân Trung, nam giáp xă Phú Hưng, bắc giáp sông và xă Phú Hưng”; chỉ khác là tên một số xă lân cận và vị trí về sau đă đổi - do phân chia nhỏ xă thôn hoặc do ḍng chảy sông Tam Kỳ thay đổi nên một số chỉ dẫn tứ cận đă khác xưa.

Danh vị tiền hiền và các dấu tích thờ tự

Từ buổi đầu lập làng đến đầu thế kỷ 20, hai họ tộc thay phiên lĩnh chức lư trưởng xă Tam Kỳ là họ Trần và họ Nguyễn. Hai họ này được triều Nguyễn phong là “đồng tiền hiền” của xă. Tiền hiền họ Trần là ông Trần Văn Nghiêm có ông nội và cha từ xă Kim Chuyết, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa vào vùng ngă ba sông Tam Kỳ lập nghiệp từ cuối thế kỷ 16. Tiền hiền họ Nguyễn là ông Nguyễn Đăng Vinh, quê quán xă Ngọc Lâm, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa có cha ông vào vùng Tam Kỳ đồng thời với các ông họ Trần. Hai ông tiền hiền nói trên, vào năm Cảnh Trị thứ 9 đời vua Lê Huyền Tông (1669), do là hậu duệ đời thứ 3 của các vị có công khai phá đầu tiên, nên đă được đứng tên khai ruộng đất sở hữu mà cha ông họ đă khai thác ở Tam Kỳ. Đó là căn cứ để về sau, vào đầu thời Duy Tân, triều Nguyễn công nhận hai ông Trần Văn Nghiêm và Nguyễn Đăng Vinh cùng hưởng danh vị “Tiền hiền làng”.

Các xứ đất được hai họ Trần, Nguyễn kiến canh ở xă Tam Kỳ buổi đầu như Ê Đáp, A Bốc, Bàu Lăng, Bàu Đ́nh, Cửa Truông, Hóc La, Truông Dài - Nhà Núi đến nay vẫn c̣n ghi dấu trong các bài văn cúng đất vào đầu năm âm lịch ở các phường An Mỹ, Phước Ḥa, Ḥa Hương, An Sơn thuộc nội thị Tam Kỳ.

Thời điểm dựng đ́nh làng Tam Kỳ đến nay chưa rơ ràng; chỉ biết từ cuối thời Gia Long đến đầu thời Thiệu Trị (1843) đă có nhiều sắc phong thần được cung nghinh, thờ phụng ở ngôi đ́nh này. Nhiều vị cao niên ở Tam Kỳ cho biết, đến đầu thế kỷ 20, khuôn viên đ́nh nằm ven đường thiên lư, ở phía nam Quỳnh Phủ hội quán của Hoa kiều ở Tam Kỳ. Nay, vị trí đó nằm ở góc đường Phan Châu Trinh và con hẻm dẫn xuống Giếng Bốn Trụ thuộc phường Ḥa Hương, TP.Tam Kỳ. Một tư liệu lưu ở địa phương này cho biết đại ư: Vào thời phong trào Nghĩa hội Cần vương ở vùng huyện Hà Đông phát triển mạnh, các sắc thần được thờ ở đ́nh làng Tam Kỳ được giao cho ông thủ sắc tên là Trần Văn Thủ đem về nhà cất giữ vào tháng 6.1886. Tư liệu nói trên c̣n cho biết: về sau, có 6 trong 12 đạo sắc (phong) thần của làng Tam Kỳ bị mất.

Không lâu sau, 6 đạo sắc thần c̣n lại được hào lư xă Tam Kỳ đem thờ tại Quan Thánh miếu (c̣n gọi là chùa Ông) ở ấp Hương Trà ven sông Tam Kỳ. Do ẩm thấp cùng mối mọt, 6 đạo sắc ấy bị hỏng nhiều chỗ (nguyên văn: do tẩm thấp tệ liệt đa xứ/ dịch: do ẩm thấp bị rách hỏng nhiều chỗ). V́ thế, hào lư trong làng đă sao lại nguyên văn nội dung các sắc phong ấy và làm đơn xin quan tuần phủ Nam Ngăi xác nhận để chuyển lên triều đ́nh xin cấp lại. Nhờ vào lá đơn cùng bản sao các sắc phong thần khai vào ngày 14 tháng 12 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) có thể biết được đ́nh làng Tam Kỳ trước đó đă thờ các vị thần như sau:

- “Thành hoàng làng Tam Kỳ” được sắc phong “Bảo an chi thần” vào ngày 27 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 7 (1826). Gia tặng “Bảo an thành hoàng chi thần” vào năm Minh Mạng thứ 21 (1840). Gia tặng thần hiệu “Bảo an chánh chân hựu thiện chi thần” vào ngày 14 tháng 5 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843).

- “Đại càn quốc gia Nam hải tứ vị tôn thần” được phong tặng thần hiệu “Hàn hoằng quang đại chí đức chuyên biện hiển hóa thượng đẳng thần” vào ngày 2 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 (1852).

- “Bạch mă tôn thần” được tặng thần hiệu “Dương uy ngự vũ bảo chứng kiện thuận ḥa nhu hàm quang tôn thần” vào ngày 2 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 (1852).

- Sắc phong danh hiệu “Quan thánh đế quân miếu hộ quốc tư dân” cho miếu Quan Thánh tọa lạc ở ấp Hương Trà; Sắc này kư ngày 12 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843).

Như vậy, cùng với đ́nh làng, xă Tam Kỳ xưa có các miếu thờ Thành hoàng, Tứ vị Nam Hải, thần Bạch Mă và Quan Công giống như một số làng xă lớn khác trong thời Nguyễn. Đến khoảng sau năm 1920, chưa rơ v́ lư do ǵ, lư hào xă Tam Kỳ đă chuyển đ́nh làng Tam Kỳ và bàn thờ các vị tiền hiền làng về vị trí chùa Ông ở ấp Hương Trà. Nội thất đ́nh làng ở chỗ mới được bố trí lại: Thờ chư vị tiền hiền, hậu hiền ở gian chính. Bàn thờ Quan Thánh được đặt sang gian bên.

Hiện nay, đ́nh làng Tam Kỳ ở khối phố Hương Trà Tây, phường Ḥa Hương đă được trùng tu khang trang. Nhiều người quen gọi (không đúng) là đ́nh Hương Trà. Các miếu thờ thần không c̣n dấu tích. Bản gốc các sắc phong, kể cả sắc phong tiền hiền cũng không c̣n. Tuy nhiên, nhờ sự lưu giữ của một số họ tộc lớn ở địa phương, vẫn c̣n nhiều tư liệu có thể làm chứng cớ gián tiếp cho lai lịch cùng thiết chế thờ tự của một ngôi làng có nhiều đóng góp lớn cho sự phát triển của vùng nam Quảng Nam xưa.

PHÚ B̀NH

* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online : http://baoquangnam.vn/ . Đăng lại với sự đồng ư của tác giả