Làng đóng thuyền ven ngă ba sông

Phú B́nh

 

(Xuân Đinh Dậu) - Thôn Tịch Đông (Tam Xuân 1, Núi Thành) xưa tuy nằm ven sông Tam Kỳ nhưng lại là một “biệt xă” lệ vào sự quản lư của huyện Quế Sơn, phủ Thăng Hoa xưa. Đặc biệt hơn, đây là một làng chuyên cung cấp lính đóng thuyền cho thủy quân triều Nguyễn; làng được phân kiêm quản đội “Kiên Chu”- một đội thuyền thuộc “Vệ Kinh kỳ Hữu thủy” trấn giữ các cửa biển thuộc vùng đất dinh Quảng Nam vào đầu thời Nguyễn.


T́m dấu làng qua địa chí xưa

Lần theo ghi chép trong Phủ biên tạp lục của Lê Quư Đôn soạn từ năm 1776 về tên các phường xă trực thuộc huyện Duy Xuyên chúng tôi t́m thấy địa danh “Vi tử nhiêu phu Tịch An Đông phường” nằm trong phạm vi quản lư của “thuộc Chu tượng”. “Thuộc” tức là một đơn vị hành chính tương đương đơn vị tổng, tập hợp những cư dân làm cùng một nghề - mà ở đây là nghề đóng thuyền (chu: thuyền; tượng: thợ). Căn cứ vào Địa bạ triều Nguyễn - phần mô tả về dinh Quảng Nam, chúng tôi xác định được phường đóng thuyền này nằm sát gần ngă ba sông Tam Kỳ về hướng đông nam. Ở đấy nay là thôn Tịch Đông mà xưa bao gồm Phường Đùng và Xóm Trại.

Đường vào thôn Tịch Đông. Ảnh: VINH ANH

Tại nhà anh Nguyễn Tấn Ṭng, người dân trong thôn, chúng tôi t́m thấy một văn bản kư năm 1845 (Thiệu Trị thứ 5) do một Thủy sư đô thống ở kinh thành Huế cấp cho ông Nguyễn Tiến Đính giữ chức Ngũ trưởng trông coi thợ đóng thuyền ở các đội Kiên Chu và Thiện Chu thuộc Vệ Hữu thủy đă nói trên. Trong văn bản này, quê quán ông Đính được ghi là “xă Tịch An Đông, tổng Ngọc Sơn, huyện Quế Sơn, phủ Thăng B́nh, tỉnh Quảng Nam”. Lần theo giới thiệu của ông Ṭng, qua mấy bước đường, t́m đến nhà ông Dương Văn Dục; chúng tôi sững sờ khi thấy ông đem ra từ trong chiếc rương xe cũ một hộp gỗ đựng nhiều văn bản chữ Nho mà trong đó, khá nhiều bản không c̣n nguyên vẹn. Ông Dục nay đă 70 tuổi cho biết, qua hai trận lụt lớn năm 1964 và năm 1999, các văn bản ấy bị thấm nước và bị hỏng nhiều sau khi đem phơi. “Đây là những giấy tờ mà ông cố và ông nội tôi từng làm lư trưởng làng này dùng cho việc làng mà đến đời cha tôi rồi đến tôi kỳ công cất giữ” - ông Dục nói. Qua gần hai tháng t́m hiểu các văn bản này, quá khứ của một ngôi làng có nhiều người tham gia đóng thuyền cho chúa Nguyễn rồi vua Nguyễn hiển hiện được nhiều chi tiết.

Hai trang sổ Đinh của làng Tịch An Đông lập năm Minh Mạng thứ 7-1826 có ghi tên 10 người lính thuộc đội thuyền Kiên Chu.

Hai trang sổ Đinh của làng Tịch An Đông lập năm Minh Mạng thứ 7-1826 có ghi tên 10 người lính thuộc đội thuyền Kiên Chu.

Từ Phường Đùng đến xă Tịch An Đông

Các văn bản lưu trữ tại nhà ông Dương Văn Dục trải dài suốt 9 triều vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại cho biết nhiều chi tiết sống động về một ngôi làng.

Trước hết là lịch sử làng: Theo các bản khai của lư hào trong làng vào năm Duy Tân thứ 2 th́ các vị đầu tiên có công quy dân lập ấp là các ông Nguyễn Tấn Hải và Huỳnh Văn Châu (tên cũ là Đối). Các ông ấy đến vùng ven sông Tam Kỳ từ thời Cảnh Hưng (1740-1786) lập thôn Phú An - là một thôn lệ vào xă Phú Khang. Sau, do kỵ húy tên cha vua Gia Long, xă Phú Khang đổi thành xă Phú Khương rồi thành Phú Hưng th́ dân thôn Phú An nhân đó xin “biệt lập thôn hiệu” và đổi thành “Tịch An Đông phường”; măi đến thời Minh Mạng mới đổi thành “Tịch An Đông xă”. Nhưng dù là phường hay xă, người các địa phương lân cận vẫn gọi hai xóm nằm hai bên con lạch (từ di chỉ khảo cổ Bàu Dũ chảy ra sông) theo tên nôm là Phường Đùng và Xóm Trại. Ông Dương Đích 82 tuổi, người cùng thôn, cho biết: tên Phường Đùng có lẽ xuất phát từ âm thanh “đùng đùng” phát ra khi ráp be thuyền; c̣n tên Xóm Trại xuất phát từ các “trại” (nhà chồ) nằm trên sông của dân đánh cá. Hai tên này nói lên gốc gác nghề nghiệp của làng lúc ban đầu đánh cá và đóng ghe, thuyền.

Bộ tư liệu c̣n lưu ở Tịch Đông bao gồm nhiều sổ Đinh lập từ các năm Gia Long thứ 5 (1806), Minh Mạng thứ 7 (1826), Thiệu Trị thứ 5 (1844), Tự Đức 23 (1869)… Qua đó, có thể thấy nhiều điều về t́nh h́nh nhân khẩu và nghề nghiệp của làng qua các thời kỳ. Ví dụ, đầu thời Gia Long có 12 dân đinh của làng với tên tuổi cụ thể đă được sung làm lính đóng quân (lưu thú) ở nhiều nơi rất xa như trấn Sơn Tây, Bắc Thành, trấn Thanh Hóa (phía bắc), Gia Định thành và Gia Định trấn (phía nam). Đối chiếu với đường sá xa xôi ngày ấy, có thể thấy đời lính thú ngày xưa vất vả biết bao nhiêu! Chắc hẳn đến ba ngày tết họ chẳng được về! Tư liệu c̣n cho thấy, có nhiều người làng đi lính phương xa từ tuổi 20 đến quá 50 mới được “hồi quán hưu dưỡng”.

Cũng qua các sổ Đinh này, có thể biết số lượng người làng đi làm lính thợ trong các Chu tượng cuộc (cơ quan chuyên phụ trách việc đóng thuyền) là rất nhiều so với dân số của làng. Và, tuy đi lính thú hay lính thợ họ vẫn phải giữ tên trong sổ bộ của làng và hàng năm phải đóng thuế đinh. Một văn bản năm 1847 kể về việc một lính thợ là Dương Văn Phú, 43 tuổi, thuộc đội Kiên Chu của Hữu thủy vệ Quảng Nam bị chứng “phúc nhạc” sức khỏe suy nhược đă được cấp trên cho phép về quê chữa bệnh. Sau đó, đội này đă cử một Phó vệ úy tên là Lê Văn Pháp về tra xét và bẩm báo lại thực hư. Điều đó cho thấy sự quản lư lính thợ đóng thuyền trong thủy quân thời ấy rất chặt chẽ.

Phường nghề di dịch về đâu?

Đến giữa thời Minh Mạng, không c̣n thấy ghi địa hiệu: “Tịch An Đông phường, Chu tượng thuộc, Quế Sơn huyện, Thăng Hoa phủ” như xưa nữa mà thay bằng “Tịch An Đông xă, Chu tượng thuộc, Hà Đông huyện, Thăng B́nh phủ”. Tra trong Địa bạ tỉnh Quảng Nam được lập vào khoảng thời gian này th́ đơn vị hành chính “thuộc Chu tượng” trực thuộc huyện Hà Đông đă cai quản một “xă” và một “phường” đều cùng tên Tịch An Đông. Xă th́ vẫn ở nguyên vị trí gần ngă ba sông Tam Kỳ c̣n phường th́ đă được xác định nằm ở phía bờ nam sông Bến Ván, thuộc khu vực gần cửa An Ḥa giáp với sân bay Chu Lai bây giờ. Đến lúc này, xă Tịch An Đông vẫn c̣n kiêm quản đội Kiên Chu; trong sổ Đinh vẫn ghi tên nhiều người tham gia làm lính thợ ở đội này. Danh sách này c̣n tiếp tục dài đến các thời Thiệu Trị, Tự Đức về sau. Thống kê trong danh sách ấy thấy rất nhiều chức danh: chánh, phó tượng mục, đội trưởng, thập trưởng, ngũ trưởng thuộc thủy quân. Những ǵ được ghi trong bộ tư liệu cho biết măi đến sau thời Tự Đức, thủy quân nhà Nguyễn vẫn tiếp tục phát triển.

Một văn bản thời Khải Định (ngày 21.4 năm Kỷ Mùi 1919) ghi lại việc một người làng tên Nguyễn Tấn Bôn đi lính mộ thời Thế chiến thứ nhất1914-1918, (như kư Tây nhung) được măn hạn trở về. Các văn bản khác của thời kỳ này không thấy ghi thêm ǵ về lính “Chu tượng”. Có thể đến đầu thế kỷ 20, dân làng Tịch Đông (lúc này đă được rút gọn tên) không c̣n đảm nhận vai tṛ đóng thuyền như trước nữa mà chuyển hẳn sang nghề nông.

PHÚ B̀NH

 

* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online : http://baoquangnam.vn/ . Đăng lại với sự đồng ư của tác giả