|
Làng Quảng Phú xưa
Phú B́nh
Làng Quảng Phú,
tổng Hưng Thịnh Hạ, huyện Lễ Dương, phủ Thăng B́nh được ghi trong
Địa bạ Gia Long là một làng có diện tích hạng vừa trong số 937 đơn
vị xă/thôn/phường của tỉnh Quảng Nam hồi đầu thời Nguyễn. Đến đầu
thế kỷ 20, làng/xă này thuộc tổng Phú Quư, huyện Hà Đông, phủ Tam Kỳ.
Hiện có thể t́m thấy nhiều dấu tích lịch sử, văn hóa, nghề nghiệp
đáng chú ư ở ngôi làng xưa này.

Một đoạn sông chảy qua làng Quảng Phú. Ảnh: PHÚ B̀NH
Núi Cấm và nghề chặt
đá ong
Ông Trần Minh
Thưởng (83 tuổi, ở thôn Phú B́nh, xă Tam Phú, Tam Kỳ) cho biết: “Xă
Quảng Phú có bốn đồi đất đỏ được gọi tên núi Cấm, núi Một, núi Ba Ty
và núi Chùa, trong đó núi Cấm lớn nhất” và hồi nhỏ ông đă từng nghe
kể có bảng cấm không cho xâm phạm cây cối trên núi này.
Bản chữ Nho sách
Đại Nam nhất thống chí (hiện lưu ở Thư viện Khoa học xă hội TP.Hồ
Chí Minh, số lưu trữ HNV-209, trang 648) mô tả núi Cấm như sau: “Tại
huyện đông nam; sơn mạch ṭng An Hà sơn nhi lai, liên khởi lục phong
quảng ngũ lư hứa. Quảng Phú xă nhân biểu trung nhất phong vi lâm cấm;
thụ mộc tùng mậu” (Nằm về phía đông nam huyện Hà Đông; mạch núi chạy
từ núi An Hà đến, gồm sáu ngọn liền một dăy dài quăng hơn 5 lư.
Người dân xă Quảng Phú dựng biểu/bảng “rừng cấm” nơi ngọn núi chính
giữa. Cây cối ở đây rất tươi tốt, rậm rạp).
Theo ông Nguyễn
Phước Khiêm (72 tuổi, ở khối phố An Hà Nam, phường An Phú, Tam Kỳ),
từ xưa, cư dân Quảng Phú đă tiến hành khai thác các vỉa đá ong quanh
chân núi Cấm để phục vụ việc xây dựng khắp Nam Quảng Nam, có khi bán
ra tới Hội An. Nghề “chặt đá ong” đă thành nghề chính của một bộ
phận cư dân trong làng. Đá ong Quảng Phú nổi tiếng v́ độ cứng bền và
màu sắc đặc biệt.

Di tích miếu Ông làng Quảng Phú. Ảnh: PHÚ B̀NH
Sông Quảng Phú và
nghề cào hến
Tên nhánh sông này
được định danh như trên bởi nó ôm suốt chiều dài của làng Quảng Phú
- tính từ khúc sông Mỹ Cang phía tây bắc (phân nhánh) đổ vào đầm An
Hà (nay thuộc xă Tam Thăng, Tam Kỳ) chảy đến đoạn phân làm hai nhánh
(ở Cồn Mui, nay thuộc xă Tam Tiến, huyện Núi Thành) trước khi xuôi
về cửa An Ḥa.
Bản sách chữ Nho đă
dẫn ghi về quăng sông này như sau: “Tại Lễ Dương huyện đông. Nguyên
ṭng Ngọc Sơn - Bàu Bàng nam lưu… Hà Lam, Ngọc Phô, Kế Xuyên, Cẩm Lũ,
Trà Long, Tiên Kiều chư khê nhập chi. Kinh Ngọc Sơn, An Thái, Thạch
Tân đẳng xă ngũ thập lư; chí Mỹ Cang thôn vi Mỹ Cang giang, An Thái
trạch nhập chi; lịch An Hà, Quảng Phú nhị xă dữ Tam Kỳ giang hiệp
đông văng Đại Áp hải khẩu” (tờ 659). Dịch nghĩa: Ở phía đông huyện
Lễ Dương; bắt nguồn từ Bàu Bàng - Ngọc Sơn chảy về nam… Sông này
nhận nước từ các khe suối Hà Lam, Ngọc Phô, Kế Xuyên, Cẩm Lũ, Trà
Long và Tiên Kiều (cầu Cánh Tiên - NV). Ḍng chảy dài 50 lư qua các
xă Ngọc Sơn, An Thái, Thạch Tân. Đến thôn Mỹ Cang, gọi là sông Mỹ
Cang, nơi nước đầm An Thái nhập vào. Sau khi chảy qua hai xă An Hà
và Quảng Phú, đă hợp cùng sông Tam Kỳ chảy về đông đến cửa Đại Áp.
Suốt chiều dài sông
Quảng Phú xưa, đâu đâu cũng có hoạt động cào hến, tập trung nhất là
ở xóm Rổi (nay là thôn Tân Phú, xă Tam Phú, sát ngă ba sông Tam Kỳ).
Ở đây, ngoài nghề đánh cá, rổi cá th́ cào hến là nghề chính. Có câu
hát bỡn cợt thiếu nữ lấy chồng về nơi này như sau: “Lấy chồng Quảng
Phú ăn chi?/ Lúa gieo chẳng có, lúa tŕ cũng không/ Nhờ ba con hến
dưới sông/ Chồng cào, vợ xúc chổng mông lên trời”.
Bến nông nghiệp và
dấu tích xưa
Làng Quảng Phú xưa
dài theo sông, ruộng của làng nằm ở các cồn ông Ba, cồn Cát, cồn ông
Quư, cồn Giữa, cồn Nhỏ… bên kia sông về phía tây nam. Nhiều bến sông
được lập để xuồng ghe đưa người làng qua các cồn ấy canh tác nông
nghiệp. Có thể kể một số bến nay vẫn c̣n tên: bến bà Tư, bến ông Đề,
bến Cống, bến ông Thanh, bến ông Lưu, bến Mù u, bến ông Tá, bến Ghe…
Đ́nh làng Quảng Phú
nay chỉ c̣n dấu mặt nền. Dấu tích các cơ sở thờ tự khác (kể từ phía
đông sang tây) gồm: miếu thờ Trung giới Thành hoàng bổn xứ; miếu Bà
thờ Đại càn Quốc gia Nam hải Tứ vị thánh nương; miếu Ông nay không
rơ thờ ai? Bản Đại Nam nhất thống chí nói trên (tờ 648) cũng có ghi
vị trí nơi thờ tự Quan Công như sau: “Nam nhất phong chẩm giang
thượng, hữu Quan Đế tự” (Một ngọn phía nam, gối sát sông, có chỗ thờ
Quan Thánh đế quân). So với vị trí mô tả trên, miếu Ông hiện c̣n nằm
cách về phía tây khoảng một cây số. Cả ba nơi trên là các thiết chế
thờ tự rất thường gặp ở các làng xă ven các nhánh sông Tam Kỳ xưa -
vốn có tổ tiên xuất phát từ các vùng ven biển Nghệ An, Thanh Hóa.
Ngoài ra, c̣n có
nhiều nhà thờ tộc, trong đó có nhà thờ tiền hiền tộc Trương. Được
biết tộc Trương làng Quảng Phú có nhiều chi phái anh em sống khắp
miền ven biển từ cửa Đại đến cửa An Ḥa. Thầy giáo Trương Công Đồng
(88 tuổi, ở thôn Tân Phú) cho biết: “Cũng như nhiều họ tộc khác vùng
ven biển Nam Quảng Nam, nhiều hậu duệ tộc Trương vùng đông Tam Kỳ đă
lên lập nghiệp ở các vùng trung du và vùng núi phía tây của phủ Tam
Kỳ xưa (nay là các vùng phía tây của các huyện Núi Thành, Phú Ninh,
Tiên Phước) từ rất sớm”.
Hiện c̣n nhiều nhà
thờ ở địa phương này có kiến trúc và liễn đối giá trị, trong đó, nhà
thờ tộc Nguyễn ở khối phố Phú Trung, phường An Phú là một nơi tiêu
biểu.
Khoa bảng làng Quảng
Phú
Tám tấm văn bia Lễ
Dương huyện khoa hoạn bi chí hiện lưu ở thị trấn Hà Lam huyện Thăng
B́nh có bảy tấm liệt kê danh sách Nho sĩ trong huyện Lễ Dương xưa đỗ
tú tài, cử nhân, tiến sĩ trong các khoa thi thời phong kiến triều
Nguyễn từ năm 1813 đến năm 1918. Có thể kể tên tuổi, học vị và năm
thi đỗ của 9 Nho sĩ làng Quảng Phú được ghi trong bia ấy như sau:
Doăn Văn Đổ đỗ Sinh đồ năm 1813, là người đầu tiên đỗ Tú tài ở làng
Quảng Phú và cả huyện Lễ Dương. Doăn Văn Xuân đỗ Hương cống năm
1819, là người đầu tiên đỗ Cử nhân của cả huyện Lễ Dương. Trương Văn
Tuyển đỗ Tú tài khoa thi năm 1831. Nguyễn Văn Hưng (sau đổi tên là
Xán) đỗ Tú tài năm 1842, đỗ Cử nhân năm 1848. Trương Văn Tố đỗ Tú
tài năm 1842. Trương Công Liêm đỗ Tú tài năm 1846. Trương Phổ đỗ Tú
tài năm 1867. Nguyễn Văn Đạt đỗ Tú tài năm 1870. Nguyễn Nhượng đỗ Tú
tài năm 1873.
Trong các vị đỗ đạt
kể trên, có hai người làm quan được sách Quốc triều Hương khoa lục
và sách Đại Nam thực lục của triều Nguyễn ghi danh và nhắc đến nhiều
lần. Ông Doăn Văn Xuân từng giữ chức Án sát sứ tỉnh Quảng Ninh - một
tỉnh biên giới trọng yếu ở miền Bắc. Khoảng các năm 1834 - 1835, ông
có liên quan đến một vụ án thường được gọi là “đền thuyền công”. Qua
vụ án này có thể thấy sự nghiêm minh của triều Nguyễn trong việc bảo
vệ biên giới.
Ông Nguyễn Văn Xán
đỗ cử nhân lúc c̣n rất trẻ. Trong khi chờ được bổ dụng, do giỏi cả
văn lẫn vơ, năm 1862 ông được bổ làm “Quyền quản Thăng B́nh phủ dơng”
(tạm giữ chức cai quản dơng đinh của phủ Thăng B́nh) phụ trách tráng
đinh, dân quân canh pḥng một dải duyên hải trong thời gian sau khi
thực dân Pháp xâm lược Đà Nẵng. Về sau, cũng do giỏi cả văn vơ, ông
được cử làm chức quan Sơn pḥng sứ phụ trách việc canh pḥng miền
núi tỉnh Quảng Nam. Không rơ có phải do lao lực và bị nhiễm lam
chướng nên sinh bệnh, ông Xán qua đời ngay tại lỵ sở Sơn pḥng Dương
Yên (nay ở huyện Bắc Trà My).
Có thể t́m thấy mộ
phần và tư liệu về các vị cử nhân tú tài nói trên tại địa phương và
tại các gia đ́nh hậu duệ ở các khối phố Phú Phong, Phú Ân, Phú Trung
thuộc phường An Phú và các thôn Tân Phú, Phú Đông, Phú B́nh thuộc xă
Tam Phú. Các phường và xă này đều thuộc TP.Tam Kỳ hiện nay.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|
|