|
Mấy tư liệu ở làng Phú Ḥa xưa
Phú B́nh
Vị trí của làng/xă
Phú Ḥa thuộc tổng An Thái Trung, huyện Lễ Dương, phủ Thăng B́nh,
tỉnh Quảng Nam xưa được dân gian mô tả như sau: “Đo Đo trở xuống -
Quán G̣ đi lên”. Vị trí đó, nay phần lớn thuộc về địa giới thôn An
Mỹ, xă B́nh An, huyện Thăng B́nh. Nhiều tư liệu, dấu tích xưa có
liên quan đến văn hóa lịch sử của làng này hiện vẫn c̣n nguyên.

Thầy giáo hưu trí Hồ Nhật Tiến bên mộ ông tam khoa tú tài Hồ Phổ.
Ảnh: PHÚ B̀NH
Địa giới, địa danh
qua tư liệu
Trong địa bạ triều
Nguyễn hồi đầu thế kỷ 19, làng/xă Phú Ḥa được ghi trong danh sách
34 xă/thôn/phường thuộc tổng An Thái Trung, huyện Lễ Dương, phủ
Thăng B́nh với tứ cận như sau: “đông giáp xă Tây Mỹ, xă Khánh Mỹ;
tây giáp xă An Ḥa Đông, xă Tuân Dưỡng; nam giáp xă Phụng Loan, xă
Khánh Lộc; bắc giáp xă An Phú, xă phụ An Sơn”.
Các địa danh đó,
đến ghi chép của sách Đồng Khánh địa dư chí hồi cuối thế kỷ 19 đă
thay đổi một số; nhưng cơ bản khá giống với các tên trong tứ cận của
thôn An Mỹ hiện nay là các thôn Đông Ḥa (phía tây), thôn Phụng Loan
(nam), thôn Trường Phước (bắc), thôn Tây Mỹ (đông) đều thuộc xă B́nh
An, huyện Thăng B́nh và thôn Trường Lộc (phía nam, thuộc xă Tam
Thành, huyện Phú Ninh).
Trong một bài thơ
mô tả cảnh sắc làng Phú Ḥa quê ḿnh, thầy giáo hưu trí Hồ Nhật Tiến
- thành viên Ban quản trị làng Phú Ḥa đă liệt kê một số tên tiêu
biểu như: đồi Cây Xoài, núi Làng, núi Vườn Dưới, đồi Vườn Gẫm (bờ
ngăn hai làng Phú Ḥa và Tây Mỹ xưa), rừng Cọc miếu Tam, đồi G̣ Lăng…
với lời tổng kết: “Điểm qua địa cuộc làng ta/ Giúp cho con cháu gần
xa tỏ tường”.
Ở địa phương này
c̣n lưu hành bài “Văn tế Tiền hiền làng Phú Ḥa” rất đặc sắc của
thầy Nẫm - vị cao niên hiện c̣n tại thế. Bài này nhắc đến các địa
danh ở Phú Ḥa, đến lịch sử lập làng và bày tỏ ḷng tri ân đối với
các bậc tiền nhân có công quy dân, lập ấp, dựng làng.
Các di tích tiêu
biểu
Di tích đ́nh làng
Phú Ḥa (đă được trùng tu) nằm ở quăng giữa, phía bên phải con đường
từ chợ Quán G̣ (xă B́nh An) lên chợ Đo Đo (xă B́nh Quế). Theo một số
vị cao niên địa phương, trên cây đ̣n đông đ́nh làng xưa có khắc thời
điểm tạo dựng đ́nh là vào thời vua Thiệu Trị nhưng không ai c̣n nhớ
là năm nào(?) Ở hai trụ b́nh phong gần cổng tam quan có chạm câu đối:
“Nội cổ ngoại kim: kim cổ tác thành văn hóa mỹ/ Quang tiền dụ hậu:
hậu tiền nhất thống hựu nhật tân” (Trong xưa ngoài mới: cũ mới đều
biểu hiện văn hóa tốt đẹp/ Sáng đời trước, phồn thịnh đời sau: Từ
trước đến sau, mỗi ngày mỗi mới mẻ).

Ngôi “song phần” làng Phú Ḥa với kiến trúc mộ thời Nguyễn.
Ở địa phương này
hiện c̣n hai nhà thờ tiền hiền họ Bùi và hậu hiền họ Hồ. Có mộ ông
hậu hiền họ Hồ với tấm bia ghi ḍng chính “Phú Ḥa - Hậu hiền -
Triệu Tổ: Hồ Đại Lang - An Định quận - Tự: Viết. Kinh thế sáng
nghiệp khai canh chi Linh mộ”. Dịch nghĩa: “Đây là mộ linh của ông
hậu hiền Hồ (đại lang), có tên tự là Viết, là người có công sáng
nghiệp khai canh làng Phú Ḥa”.
Cũng c̣n mấy ngôi
mộ xưa của những người đỗ đạt, có tiếng trong làng như mộ ông “tam
khoa tú tài” Hồ Tử Bác tạ thế năm Mậu Tuất 1898. Tra danh tính các
vị đỗ tú tài ghi trên văn bia huyện Lễ Dương (Lễ Dương huyện khoa
hoạn bi chí) hiện c̣n ở thị trấn Hà Lam, Thăng B́nh được biết tên
thật của ông này là Hồ Phổ - đỗ tú tài ba khoa thi các năm Tân Dậu,
Đinh Măo, Mậu Th́n (1861, 1867, 1868) thời vua Tự Đức.
Bia mộ ông Hồ Phổ
do học tṛ và hai người con dựng có ḍng chính: “Đại Nam - Hiển khảo
- Phú phong - tam khoa tú tài Hồ Tử Bác chi mộ. Tử: Văn Dũng, Văn
Viễn hiệp Môn sinh đẳng đồng lập thạch”. Theo hiểu biết của người
viết, đây có thể là tấm bia duy nhất ở vùng Nam Quảng Nam có ghi tên
các học tṛ (môn sinh) tham gia dựng mộ cho thầy học của ḿnh.
Ở Phú Ḥa lưu
truyền câu ca “Đông Ḥa có đ́nh tứ xă/ Phú Ḥa có mả song phần”.
Ngôi mộ “song phần” của vợ chồng ông họ Phạm và bà họ Đoàn xây năm
Thành Thái thứ năm - 1893 theo kiểu thức mộ vôi bồ ghè tiêu biểu của
vùng Nam Quảng Nam khoảng giữa thời Nguyễn. Thành/huynh mộ xây đá
ong bề ngang dày hai lớp kết thúc ở phía trước mộ bằng một cổng ṿm
thấp. Nhà bia nằm ngay chân mộ có mặt bia được tô vôi nhuyễn, nhờ
vậy nội dung văn bia và câu đối “Giai thành lưu cựu tích/ Mỹ hiệu
tráng tân quan” ghi trên đó - đến nay gần tṛn 130 năm vẫn c̣n đọc
được khá rơ.
Tư liệu thủy binh
triều Nguyễn
Đó là các bằng sắc
của triều đ́nh cấp cho ông Hồ Viết Mẫn (sinh năm Giáp Thân 1824),
quê làng Phú Ḥa, đă tham gia thủy binh triều Nguyễn vào thời vua Tự
Đức. Bộ tư liệu này hiện được bảo quản tại nhà ông Hồ Viết An ở thôn
An Thọ, xă Tam An, huyện Phú Ninh. Xin nói kỹ về các văn bản này để
thấy được một số nét về sinh hoạt của việc quân, việc ban thưởng và
việc tang thời xưa.

Bằng cấp đóng dấu Kinh kỳ Thủy sư cấp cho ông Hồ Viết Mẫn năm Tự Đức
thứ 19 (1866).
Có hai văn bằng
đóng ấn triện Kinh kỳ Thủy sư kư vào các năm Tự Đức thứ 13 - 1860 và
Tự Đức thứ 19 - 1866 cùng với hai bản Sắc đóng ấn Sắc mệnh chi bửu
của nhà vua kư vào năm Tự Đức thứ 25 - 1872 và Tự Đức thứ 30 - 1877.
Căn cứ nội dung
bằng cấp đă ban hành, có thể biết hành tŕnh làm các cấp chỉ huy
thủy binh của ông Hồ Viết Mẫn như sau: Do biết chữ nghĩa và am tường
tính toán (nguyên văn: bút toán sảo tri), vào tháng 8.1860, ông Hồ
Viết Mẫn được hai quan đề đốc và hiệp lư của Kinh kỳ Thủy sư cho giữ
chức Thư lại Vị nhập lưu, phụ trách việc sổ sách trong Đội số 5
thuộc Vệ số 3 của Doanh Hữu, thuộc đơn vị thủy quân bảo vệ kinh
thành Huế. Đến tháng 3 năm 1866, đề đốc phụ trách Kinh kỳ Thủy sư
cho ông Hồ Viết Mẫn được thăng lên chức Đội trưởng cai quản Thập số
1 thuộc Vệ số 3. Phục vụ hơn sáu năm, từ người giữ sổ sách, ông Mẫn
được thăng lên vị trí cai quản một Thập gồm 10 thủy binh.
Qua đó, đối chiếu
thêm với các bộ sử triều Nguyễn có thể biết được tên tuổi đầy đủ các
Đề đốc họ Vơ, họ Nguyễn và Hiệp lư họ Lâm kư các văn bản này. Đến
tháng 3.1872, ông Hồ Viết Mẫn được ban Sắc bổ thụ làm Đội trưởng của
Đội số 5, Vệ số 3, Doanh Hữu của Kinh kỳ Thủy sư; rồi năm năm sau -
1877, lại được ban Sắc thăng lên vị trí Chánh Đội trưởng Suất đội
của Đội số 8 cai quản 50 thủy binh thuộc Vệ và Doanh đă kể trên.
Bộ tư liệu về ông
Hồ Viết Mẫn c̣n hai văn bản nữa: Một là tờ đơn do ông Hồ Viết Mẫn kư
ngày 5 tháng 9 năm Tự Đức thứ 33 - 1880 tŕnh xin triều đ́nh xét cho
con trai của ông là Hồ Viết Hồi, sinh năm Ất Măo - 1856 (lúc ấy đă
25 tuổi - NV) được bổ vào hạng Viên tử theo quy định của triều đ́nh.
Con quan được xếp vào hạng này sẽ được miễn lao dịch công ích và
miễn đi lính (nguyên văn: thứ miễn binh diêu). Văn bản cuối là tờ
hội ư gia tộc (nguyên văn: ư văn) về việc t́m huyệt mộ và định ngày
an táng ông Hồ Viết Mẫn (nguyên văn: chiếm huyệt táng phụ).
Biên bản này này
lập vào ngày mùng 6 tháng 6 năm Tự Đức thứ 34 - 1881 (cũng chính là
ngày ông Mẫn qua đời - được ghi ngay trong nội dung ư văn - NV chú
thích) cho biết thêm các chi tiết: Trước lúc qua đời, ông Mẫn đang
chỉ huy Đội số 8, Vệ số 3, Doanh Hữu của Thủy sư ở Kinh kỳ với chức
“Phó hộ giáo” mang quan hàm “Kiến Trung đô úy”. Ngày an táng ông Mẫn
vào huyệt đă được định vị (nguyên văn: chiếm huyệt táng phụ) ghi rơ
là ngày Nhâm Dần tháng 5 năm Quư Mùi - 1883. Như vậy, theo văn bản
trên, từ ngày mất đến ngày táng là 23 tháng. Đây là chi tiết cần lưu
ư để nghiên cứu về nghi thức tang lễ kéo dài và quan tài được quàn
rất lâu vào thời trước.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|