|
Làng Khương Mỹ xưa
Phú B́nh
Tỉnh Quảng Nam xưa có 2 xă/làng mang tên Khương Mỹ:
phía bắc ở tổng An Châu Thượng huyện Ḥa Vang, phủ Điện Bàn; phía
nam ở tổng Đức Ḥa, huyện Hà Đông, phủ Tam Kỳ. Ngôi làng Khương Mỹ
phía nam hiện c̣n nhiều di tích và tư liệu.
Trong sách Phủ biên tạp lục, chữ đầu của địa danh
Khương Mỹ được viết là 康 Khang (bộ Nghiễm - c̣n đọc là Khương). Tự
dạng này c̣n được t́m thấy ở một văn bản giao dịch ruộng đất lập năm
Cảnh Thịnh thứ Ba (1795) thời Tây Sơn c̣n lưu tại nhà từ đường tộc
Trần Hưng, thôn Khương Mỹ, xă Tam Xuân 1, huyện Núi Thành. Về sau
chữ Khang được đổi thành 姜 Khương (bộ Nữ) và tự dạng mới này được
dùng trong các văn bản suốt thời Nguyễn.
Địa giới và di tích Sổ bộ ruộng đất thời Nguyễn (lập
từ năm 1805 - 1836) cho biết xă/làng Khương Mỹ nằm ở bờ nam sông Tam
Kỳ, có một quăng đường thiên lư dài 33 tầm (khoảng 700m - quốc lộ
xưa) đi qua địa phận. Địa giới được ghi như sau: Phía bắc giáp sông
Tam Kỳ, phía nam giáp xă Phú Hưng, phía tây và nam giáp các xă Phú
Lân Đông và xă Đức Ḥa (tức các thôn Phú B́nh, Phú Trung, Bích An,
Bích Ngô của xă Tam Xuân 1, huyện Núi Thành hiện nay). Diện tích
toàn xă là 71 mẫu 10 thước 3 tấc 1 phân, trong đó ruộng tư chiếm
phần lớn (gần 67 mẫu). Người ở các xă khác có ruộng ở Khương Mỹ
không nhiều (2 mẫu 4 sào). Số c̣n lại là đất g̣ nỗng (thổ phụ). Theo
một số lăo nông địa phương, ruộng do người khác xă sở hữu là ruộng
của cha mẹ chia cho con gái Khương Mỹ lấy chồng ở xă khác qua nhiều
đời.
Tên các xứ đất xưa ở đây như A Vó, A Lúa, Trà Nê
Thượng, Trà Nê Hạ, Cổ Tháp, Rừng Cầy gắn liền với địa h́nh cồn bàu.
Bàu Trà Nê nằm dọc đầu phía nam con đường tránh ngang qua TP.Tam Kỳ
hiện nay; bên kia bàu là ba ngọn tháp Khương Mỹ từng được sách Đại
Nam nhất thống chí ghi “tương truyền đây là chỗ táng vợ vua Chiêm
Thành” (bản dịch của Viện Sử học, năm 1970, trang 325). Từng có giả
thuyết cho rằng: người Chăm xưa đă lấy đất ở đây để xây tháp Khương
Mỹ nên mặt bằng lơm xuống thành bàu; nhưng, trên thực địa, bàu Trà
Nê là dấu tích của một lạch sông kéo dài xuống đến tận di chỉ khảo
cổ học Bàu Dũ nổi tiếng - thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh - cách đó
khoảng gần một cây số về phía đông.
Theo lời kể của một số vị cao niên, mặt bằng di
tích trước tháp Khương Mỹ thường được dân địa phương dùng để tiến
hành các “lễ cầu mưa” vào những năm hạn hán. Thực hư chưa rơ thế nào!
Nhưng, tại một ngôi tháp cổ đă sụp từ lâu, cách tháp Khương Mỹ
khoảng năm trăm mét về phía đông - nơi giáp ranh hai làng Khương Mỹ
và Phú Hưng - thường gọi là “tháp Lạn” hay “tháp Một”, hàng năm từng
diễn ra một lễ cầu được mùa gọi là “Lễ Cầu Bông” với nhiều nghi thức
và lễ vật được cho là mang đậm dấu ấn của văn hóa người Chăm xưa.

Chùa Tam Bảo trước tháp Khương
Mỹ tháng 7 năm 1903.
Ảnh chụp lại từ tư liệu .Ảnh: PHÚ B̀NH
Ngay trước tháp Khương Mỹ, cư dân địa phương dựng
một ngôi chùa có tên “Tam Bảo tự”. Chẳng rơ chùa có từ lúc nào? Chỉ
biết vào tháng 7.1903, ông Henri Carpeaux - nhà khảo cổ người Pháp
đă chụp tấm ảnh ngôi “chùa Việt trước tháp Chăm” này (xem ảnh minh
họa - NV). Ngôi chùa Tam Bảo ấy nay vẫn c̣n nhưng h́nh như nền chùa
đă dịch ra xa hơn so với hồi đầu thế kỷ.
Ở bờ nam sông Tam Kỳ, khoảng giữa cầu mới và cầu
đường xe lửa Tam Kỳ, có một nơi gọi là Bến Đ́nh. Xưa, gần bến sông
ấy có đ́nh làng Khương Mỹ bề thế, kiến trúc theo lối “bát vần” gồm
24 cột với bốn mái chính, bốn mái phụ lợp toàn ngói. Ông Nguyễn
Thạnh 94 tuổi, một cư dân Khương Mỹ, kể về đ́nh làng này như sau:
“Gian ngoài thờ chư vị tiền hiền, hậu hiền; gian chính bên trong đặt
bài vị ghi chữ “Chánh Thần”; trước bài vị có hương án dùng để bày
các đạo sắc phong do triều đ́nh ban cho làng. Vào ngày rằm tháng bảy
hàng năm, các đạo sắc - vốn được bảo quản tại nhà người giữ sắc (gọi
là ông Thủ Sắc; thường do lư trưởng kiêm nhiệm) - được kính cẩn mang
ra đặt lên cỗ “Long đ́nh” (bàn nghinh sắc thần) để khiêng lên đ́nh
cúng kiếng”. Trong tiêu thổ kháng chiến 1947 - 1954, đ́nh Khương Mỹ
được tháo dỡ. Hiện nay, chỉ c̣n di tích nhỏ là ngôi tự đài xây trên
nền của gian hậu tẩm xưa.
Ngoài ra, cũng theo hồi ức dân cư, ở Khương Mỹ xưa
có hai ngôi miếu lớn: Một ngôi thờ Thành Hoàng ở xứ Rừng Cầy phía
nam; ngôi kia thờ Đại càn Nam hải Tứ vị Thánh nương ở gần sông Tam
Kỳ.
Ông Nguyễn Thạnh cũng cho biết, ông bà của ông đă
từ xă Dương Luật, huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa, thừa tuyên Nghệ An vào
Quảng Nam khoảng cuối thế kỷ 16; đă định cư vài ba đời ở xă Phú Vinh,
tổng An Ḥa, huyện Hà Đông, phủ Thăng B́nh (sau đổi là Tam Kỳ) sau
đó mới chuyển đến làng Khương Mỹ. Tư liệu tộc Trần Hưng ở đây cũng
cho biết ông bà của họ có gốc gác từ vùng Nghệ An và vào Khương Mỹ
hồi đầu thế kỷ 17.
Làng Khương Mỹ xưa có mấy người nổi tiếng thuộc
một số tộc họ đến định cư lâu đời. Có thể kể:
Ông Trần Hưng Nhượng từng làm quan ở ba triều vua
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức; từng tham gia việc giảng dạy các hoàng
tử con vua Thiệu Trị - trong đó có Hồng Nhậm tức là vua Tự Đức sau
này. Tư liệu c̣n lưu ở tộc Trần Hưng cho biết: vua Tự Đức khá ưu ái
ông thầy có quê ở ven sông Tam Kỳ này và đă không ít lần ban thưởng
phẩm hàm, chức tước và cho giữ nhiều vị trí cầm quyền quan trọng -
đặc biệt là đến khi ông thầy đă 70 tuổi vẫn c̣n được tín nhiệm giao
giữ chức Án sát sứ - lĩnh nhiệm vụ trị an ở vùng biên giới Lạng Sơn,
Cao Bằng. Hiện tại nhà thờ ông Trần Hưng Nhượng, bên cạnh các tư
liệu ruộng đất, c̣n khá nhiều văn bản đóng dấu của nhà vua, của các
bộ, của các tỉnh mà trong đó có nhiều nội dung liên quan đến suốt
hành tŕnh dạy học trong cung vua, làm quan các nơi, về hưu và được
phong tặng thêm cho ông Nhượng sau khi qua đời.

Hai tờ đầu bài Văn cúng cô hồn
chữ Nôm của ông Tú Quờn.
Ông Tú Quờn sống khoảng cuối thế kỷ 19 là một
người hay chữ của làng Khương Mỹ. Ông tuy chỉ đỗ tú tài nhưng nổi
tiếng về tài sáng tác thơ văn theo lối b́nh dân, trong đó có bài
“Văn cúng cô hồn” viết bằng chữ Nôm hiện c̣n được nhiều người nhớ và
nhiều nhà c̣n giữ văn bản. Nhiều câu đối rất hay của Tú Quờn hiện
c̣n lưu trong các sưu tầm ở địa phương. Các tác phẩm khác như “Thơ
ghẻ ngứa” - châm chọc một viên quan hách dịch; “Vè bà Phó” - thác
lời người vợ gửi chồng đi lính ngoài kinh thành Huế; “Tuồng đổ bác”
- bản tuồng hát bộ chữ Nôm nói về nạn đánh bạc với các nhân vật là
người thật việc thật ở địa phương… tất cả đều c̣n được lưu.
Ông Trần Thiều - một thầy thuốc đông y được gia
đ́nh kể là đă nhiều lần lên Tiên Phước trao đổi thuật làm thuốc với
cụ Huỳnh Thúc Kháng. Nhiều giai thoại về tài chữa bịnh của “thầy
Thiều” được phổ biến rộng răi ở vùng Tam Kỳ, trong đó có chuyện “Từ
chối ngồi lên xe của tri phủ Tam Kỳ Nguyễn Hữu Tựu đưa đến mời về
phủ chữa bệnh cho mẹ của quan chỉ v́ (thầy Thiều bảo) đó là xe công,
chỉ nên dành cho việc công!”. Đến khi người bệnh được chữa lành, kèm
theo lễ vật tạ ơn là đôi câu đối của quan phủ Tựu (ca tụng thầy
thuốc) rất hay mà đến nay gia tộc vẫn c̣n treo tại nhà thờ ông thầy
nổi tiếng này. Tại đây cũng c̣n mấy câu đối khác, nói về nghề thầy
thuốc, được nhiều người rành chữ nho cho là rất giá trị.
Một tư liệu lưu ở địa phương c̣n cho biết dân làng
Khương Mỹ xưa - do sát bến đ̣ phía nam của tuần đ̣ Tam Kỳ - phải
chịu trách nhiệm cung cấp hàng năm khoảng 20 dân phu cho nhà dịch
trạm Nam Kỳ đặt ở bờ bắc gần đó (nay gần khuôn viên chùa Tịnh Độ -
Tam Kỳ). Các dân phu này chuyên lo mọi việc vận chuyển, đưa đón
người và hàng hóa thuộc công vụ (qua nhà dịch trạm nói trên) ở phía
bờ nam.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|