Đến Diêm Phổ gặp thơ Hà Đ́nh

Phú B́nh

Tại ngôi nhà cổ của lương y Phạm Tấn Tuấn (sinh năm 1945) ở thôn Diêm Phổ, xă Tam Anh Nam, huyện Núi Thành, ngoài tấm hoành phi và cặp liễn đối rất lạ ở gian thờ, c̣n có các vách ván gỗ khắc nổi nhiều chữ Nho viết thảo rất đẹp. Gia chủ cho biết, đến nay, chưa gặp ai nhận dạng đầy đủ để giúp ông biết nội dung các hàng chữ được tŕnh bày như tranh thư họa đó thể hiện những ǵ?

Hai bài thơ chữ thảo của Hà Đ́nh ở vách bên hữu. Ảnh: PHÚ B̀NH

Ông Tuấn cho biết: “Cha tôi là cụ Phạm Tâm (1900 - 1982) mua lại ngôi nhà rường này - nghe nói là của một gia đ́nh ở Hội An, qua tay một người buôn đồ cổ vào cuối năm 1946. Khi ấy nhiều gia đ́nh ở vùng bắc Quảng Nam rời vùng Pháp tạm chiếm, tản cư vào vùng tự do ở phía nam tỉnh. Ngôi nhà được chất cẩn thận lên ghe, theo đường sông, đến Diêm Phổ. Ban đầu người bán dùng ghe chở sườn nhà vào, sau đó chở đầy đủ các cấu kiện trang trí nội thất vào tiếp. Do ngói lợp bị hao hụt khi vận chuyển, cha tôi đă giảm bốn mái thành hai mái như hiện nay. Tuy vậy mọi kiến trúc và trang trí nội thất trong ba gian chính vẫn được giữ nguyên, đặc biệt là các tấm phên lụa khắc nổi các chữ Nho”.

Đó là tám tấm ván gỗ khắc chữ được chia đều và đóng khung thành hai phên lụa nằm hai bên bàn thờ. Bên hữu, từ tấm 1 đến 4 có cả thảy 112 chữ Nho tương ứng với hai bài thơ Đường luật. Bên tả, từ tấm 5 đến 8 cũng có hai bài thơ với số chữ tương ứng. Cuối mỗi bài thơ đều khắc tên các nhan đề với cỡ chữ nhỏ hơn. Kết thúc bài 1 và bài 2 là một ḍng riêng ở cuối tấm thứ 4, ghi: “Thành Thái - Ất Vị - Đông - Hà Đ́nh - sao sứ tŕnh thi tác” (Thành Thái - 1895 - mùa Đông - Hà Đ́nh chép lại thơ viết trên đường đi sứ). Ở cuối tấm thứ 8 - vách trái cũng có ḍng riêng ghi niên hiệu, tháng năm cho khắc và tên tác giả như bên vách kia.

Ông Phạm Tấn Tuấn trước bàn thờ nhà cổ có lưu thơ Hà Đ́nh. Ảnh: PHÚ B̀NH

Sau khi đọc được các chữ thảo, chúng tôi nhận ra đây là bốn bài thơ trong tập “Mỗi hoài ngâm thảo” của cụ Hà Đ́nh Nguyễn Thuật (1842 - 1911) - một người Quảng Nam “hay chữ”, sáng tác nhiều và có nhiều thơ văn, câu đối… được người đương thời khen ngợi. Ông Nguyễn từng hai lần được vua Tự Đức phái đi sứ sang Trung Hoa (1881 và 1883). Trong sứ tŕnh, ông đă có dịp thăm nhiều nơi và đă sáng tác nhiều bài thơ ghi lại cảm nhận riêng tư khi đặt chân đến một số di tích văn hóa - lịch sử nổi tiếng ở xứ người.

Bốn bài ghi nhan đề “Du Ngô khê”, “Đăng Nhạc Dương lâu”, “Đăng Hoàng Hạc lâu” và “Trùng đăng T́nh Xuyên các” khắc trên vách phên lụa trong nhà ông Phạm Tấn Tuấn ở Diêm Phổ đều được Hà Đ́nh viết trong hai chuyến đi sứ và đă được chép vào hai tập “Mỗi hoài ngâm thảo”; được hậu duệ lưu tại nhà thờ ở Hà Lam - Thăng B́nh. Thơ Hà Đ́nh rất bóng bẩy, chữ dùng nhiều tầng nghĩa; một số được chép lại với nét chữ thảo nên rất dễ bị nhận nhầm mặt chữ.

Xin lược dịch bài đầu và giới thiệu đầy đủ ba bài c̣n lại trên hai tấm phên lụa rất đặc biệt này.

Thăm suối Ngô

Trong nguyên bản tập thơ “Mỗi hoài ngâm thảo”, Hà Đ́nh Nguyễn Thuật ghi ngay dưới nhan đề “Du Ngô khê hữu hoài Nguyên Thứ Sơn” (Thăm suối Ngô nhớ đến Nguyên Thứ Sơn) ḍng chú thích cho biết: “Suối Ngô ở huyện Kỳ Dương, nguyên là nơi ở của danh sĩ Nguyên Thứ Sơn đời Đường. Bên vách đá gần suối có khắc bài tụng của Tăng Lỗ Công ca ngợi quan Trung Điển của nhà Đường”. Nguyên văn bài khắc gỗ ở Diêm Phổ như sau:

“Nhưỡng khê hà xứ mịch di phong/ Miểu miểu Ngô khê nhất thủy đông/ Chung cổ đ́nh đài danh thử địa/ Đương niên bang bá triệu(?) như Công/ Vân khai thúy bích bi phong tại/ Tuyết măn hương kiều cố trạch không/ Khí tiết uyển nhiên nguyên bất hủ/ Cảm tùng nhị tuyệt cánh cầu công”.

Do chưa tra cứu được hành trạng các nhân vật nói trên và hoàn cảnh viết bài tụng của Tăng Lỗ Công nên một số câu người viết không dịch được - câu không dịch xin để dấu chấm lửng. Câu 1, 2: Dấu vết ngọn nguồn ḍng chảy này ở nơi đâu?/ (Chỉ thấy) man mác một ḍng suối Ngô chảy về hướng đông/ Câu 3: Xưa đây là đất nên danh bởi các đền đài/ Câu 4: (…)/ Câu 5, 6: Mây tan (lộ ra) vách núi xanh (vẫn c̣n) sừng sững tấm bia (khắc bài tụng)/ Tuyết phủ đầy cây cầu (ngày xưa ngát hương hoa); không c̣n (thấy dấu vết) nơi ở của ông ngày xưa nữa/ Câu 7: (Nhưng) khí tiết sáng ngời của ông th́ vẫn măi c̣n/ Câu 8: (…).

Lên lầu Nhạc Dương

Bài thơ này được khắc trên nửa sau ḍng cuối tấm ván lụa thứ hai và chấm dứt ở giữa tấm thứ tư: “Thủy quang sơn sắc bán tiêu trầm/ Đường Tống thi văn tự tích kim/ Ngô Sở càn khôn không nhăn giới/ Giang hồ lang miếu thử hung khâm/ Hoàng lăng viễn thụ ṭng Tương phố/ Thanh thảo quy phàm quyển tịch âm/ Cổ sắt bất văn xuy địch miểu/ Hoài nhân vô hạn thác thanh ngâm”.

Dịch nghĩa: (Cảnh) núi sông (bên lầu Nhạc Dương) nay hẳn đă mất đi một nửa h́nh sắc (so với ngày xưa)/ (Nhưng) thơ văn đời Đường, đời Tống (viết về ngôi lầu danh tiếng này) vẫn c̣n đến nay!/ (Đến đây), phóng tầm mắt, không phân biệt đâu là trời Ngô, đâu là đất Sở/ (Chỉ có) tấm ḷng này (đầy cảm xúc) trước đền đài, miếu mạo bên mặt hồ (Động Đ́nh) mênh mông/ Cây trên g̣ Hoàng Lăng trải dài theo cửa sông Tương (đổ vào hồ Động Đ́nh)/ Trên hồ Thanh Thảo (gần hồ Động Đ́nh - NV) cánh buồm quay về như quyện theo ánh trời chiều/ Cầm đàn sắt gảy, không c̣n nghe tiếng sáo thổi nơi xa xăm/ Nỗi nhớ người (xưa?) khôn nguôi (xin) gửi vào lời ngâm tiếng hát.

Lên lầu Hoàng Hạc

Bài này khắc từ đầu tấm ván thứ 5, nguyên văn: “Trần cảnh mang mang bất kư thu?/ Thiên hoang địa thế sáng tân lâu/ Tiên ông hà xứ thừa vân hạc?/ Tha khách kim triêu thướng Đẩu Ngưu/ Giang khoát ngư long ba tiệm trướng/ Xuân thâm anh vũ thảo du sầu/ Đăng lâm khước lạc Đường nhân hậu/ Doanh đắc kỳ quan viễn hải châu”.

Dịch nghĩa: Trên chốn này, chẳng biết tự thuở nào, giữa trời đất mênh mông hiện diện một ngôi lầu mới/ (Nghe nói ở đây từng có) một Tiên ông, chẳng rơ ở cơi trời nào, cỡi hạc ghé qua/ Khiến hôm nay (ta là) kẻ sa đà (dạo bước đến thăm) phải ngẩng mặt nh́n lên sao Đẩu, sao Ngưu (t́m kiếm)/ Bên vực Ngư Long, sóng triều dần lên trên ḍng sông rộng/ Ở băi Anh Vũ, cỏ thảm đạm uốn lượn (theo gió) trong mùa xuân chín/ Lên lầu xem, lại nối theo niềm vui của người nhà Đường thời trước/ Thừa thăi (niềm hứng khởi) v́ được xem trọn một kỳ quan của miền đất xa ở tận xứ người.

Lại lên gác T́nh xuyên

Đây là bài cuối khắc trên khoảng giữa tấm thứ 7 đến gần hết tấm ván thứ 8: “Tạc lai Hán chử thụ thương thương/ Quy khứ Phương châu thảo dĩ huỳnh/ Sơn sắc dữ nhân thành tiểu biệt/ Giang lưu chung cổ tống tà dương/ Lâu đài ảnh ngoại tân phiên bạc/ Tiêu cổ thanh trung cựu chiến trường/ Cao các đăng lâm sinh viễn cảm/ Thiên nhai huống thị khách tư hương”.

Dịch nghĩa: Mới đến (thấy sắc) cây c̣n xanh trên băi sông Hán/ (Khi chuẩn bị) quay về Phương Châu (thấy màu) cỏ đă vàng/ Sắc núi (như) cùng người (làm) cuộc chia ly nhỏ (chơi chữ: Tiểu Biệt: tên ngọn núi ở gần sông Hán Khẩu - NV)/ Ḍng sông vẫn măi trôi (như dơi theo để) tiễn ánh mặt trời chiều/ Ngoài kia (trên mặt nước) là bóng các lâu đài và bóng các chiếc tàu buôn lớn của người Âu/ Tiếng tiêu tiếng trống vang trong bến (gợi nhớ) nơi đây từng là chiến trường xưa/ Lên tận lầu cao này (bỗng) sinh những cảm xúc xa xôi/ Nơi (góc bể) chân trời (mênh mông) này làm sao không khỏi (dấy lên) trong ḷng khách (đến thăm) nỗi nhớ quê nhà.

Trong hai tập “Mỗi hoài ngâm thảo” c̣n lưu, gặp chú thích của tác giả về các địa danh trong bài này như sau: “Hán dương hữu sơn biệt danh Tiểu Biệt; Hán Khẩu phụ đầu đa hữu ngoại dương thương bạc” (phía Bắc sông Hán Khẩu có núi mang tên Tiểu Biệt; cửa sông Hán Khẩu có nhiều tàu buôn lớn nước ngoài).

PHÚ B̀NH

 

* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online : http://baoquangnam.vn/ . Đăng lại với sự đồng ư của tác giả