|
Dấu xưa văn hội Nho học Hà Đông
Phú B́nh
Đặc san Cổ học do Tỉnh hội
Cổ học Quảng Tín (cũ) ấn hành nhân dịp khánh thành nhà Khổng Miếu
tại Tam Kỳ vào năm 1970 có cho biết lịch sử thành lập của Văn hội
Nho học và Văn Thánh huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam xưa như sau:
“Quận Tam Kỳ nguyên là huyện Hà Đông, năm Minh Mạng thứ 21, có ông
phó bảng Nguyễn Dục hiệp với ông tri huyện Trần Văn Tín, ông huấn
đạo Vơ Thế Vỵ cùng các vị văn thân trong huyện thành lập một Văn hội
và xây cất một Văn miếu để phụng thờ đức Khổng Phu Tử cùng các bậc
hiền triết tại làng cũ Chiên Đàn có các bảng và bia đá ghi công tích
các vị văn thân tiền bối để tại Văn miếu”. (trích bài “Tường thuật
về Khổng miếu tỉnh Quảng Tín” của cụ Nguyễn Lương Tri)(*).

Văn Thánh -
Khổng Miếu Tam Kỳ. Ảnh: MINH ĐỨC
Đoạn lai lịch trên lấy tư
liệu từ nội dung bản văn trong tấm bia đá “Ghi sự việc làm Từ vũ và
Hội đường” do “Văn hội Nho học huyện Hà Đông ghi và cho khắc” sau
năm Tự Đức thứ Ba (1850). Tấm bia ấy hiện nay dựng tại địa điểm
thường gọi là Văn Thánh - Khổng Miếu Tam Kỳ.
Căn cứ vào nội dung tấm văn
bia này và tư liệu của hội Cổ học nêu trên, có thể biết Văn hội Nho
học huyện Hà Đông được thành lập bởi cụ Nguyễn Dục, đỗ phó bảng năm
Mậu Tuất 1838, nổi tiếng là một nhà sư phạm mẫu mực ở kinh đô - và
một số vị có chức trách ở huyện Hà Đông lúc đương thời.
Ngoài tên tuổi các nhà nho
như cụ Nguyễn Dục, Trần Văn Tín, Vơ Thế Vỵ, tấm bia đá này c̣n ghi
danh gần 40 cụ khác cùng các sĩ nhân, quan viên, hương hào đă góp
công, góp của, góp chữ nghĩa… để thành lập nhà Tự vũ vào năm 1840 và
nhà Hội đường (xây dựng ở phía tả nhà Tự vũ) vào năm 1850.
Căn cứ vào tấm bia đá dựng
vào đầu thời Tự Đức ấy có thể nhận ra một số tên hội viên trong Văn
hội Nho học huyện Hà Đông từ khoảng các năm 1840-1850 mà đến nay hậu
duệ của họ đa số hiện c̣n ở các vùng Phú Ninh, Tam Kỳ, Núi Thành,
Tiên Phước.
Tiếp tục khảo sát một tấm
bia đá khác có tên là “Vọng bái Tiên Thánh từ vũ” hiện c̣n lưu tại
Văn Thánh - Khổng Miếu Tam Kỳ thấy có đoạn ghi như sau: “Thời tại
tuế thứ Canh Tư, mạnh xuân chi sơ, Hà Đông huyện quan viên nhân, sĩ
nhân, hương hào tề hội doanh kiến từ vũ tại huyện học chi đông. Cẩn
trạch bổn niên lục nguyệt thập thất nhật khởi công, nhị thập cửu
nhật thượng lương, bát nguyệt nhị thập tứ nhật công thuân” (Vào năm
Canh Tư 1840 - đầu mùa xuân, quan viên, sĩ nhân, hương hào huyện Hà
Đông cùng góp sức xây nhà Từ vũ tại phía đông Nhà học của Huyện.
Kính cẩn chọn ngày Mười một tháng Sáu năm nay khởi công; chọn ngày
Hai mươi chín gác đ̣n đông). Trong nội dung ấy chỉ thấy ghi tổng
quát các thành phần quan viên, sĩ nhân hương hào đương thời cùng
nhau góp công góp sức xây nhà Tự vũ . Ḍng cuối nói về ngày tháng
dựng bia chỉ thấy ghi “Minh Mạng nhị thập nhất niên, bát nguyệt, nhị
thập tứ nhật chí” (ngày 24 tháng Tám âm lịch năm Minh Mạng thứ 21
khắc bia) mà không thấy ghi tên tổ chức đứng ra ghi và dựng bia. Do
đó, không rơ đến thời điểm ấy, “Văn hội huyện Hà Đông” đă thành một
danh xưng chính thức chưa? Và thành phần ṇng cốt của Văn hội này
gồm những ai trong giới có chữ nghĩa?

Bia vọng bái
tiên thánh tự vũ lập năm 1840.
Bài báo của cụ Nguyễn Lương
Tri đă dẫn trên c̣n cho biết: “Theo thể lệ trước th́ những người có
khoa danh hoặc ấm sanh, học sinh tọa giám mới được vào hội”. Như vậy,
thành phần của Văn hội Nho học thời xưa gồm những người đỗ đạt các
kỳ thi hương, thi hội; những người có tập ấm (cha làm quan; con được
sát hạch chữ nghĩa và được phong chức ấm sinh) cùng những người đă
đỗ kỳ thi hương và được theo học ở trường Quốc tử giám. Nhưng về sau,
đến năm 1920 thi cử Nho học bị băi bỏ.
Căn cứ vào tư liệu này có
thể biết sự khác biệt trong thành phần hội viên của Văn hội Nho học
huyện Hà Đông trước và sau khi thi cử Nho học bị băi bỏ như thế nào?
Qua đó cũng được biết thêm Văn hội xưa c̣n có một tên khác là Văn
thự (thự: chữ Nho nghĩa là cơ quan, nơi làm việc). Đó cũng là lư do
v́ sao tên những sở ruộng được chính quyền xưa cấp cho Văn hội Nho
học huyện Hà Đông để lấy hoa lợi dùng vào việc cúng tế hoặc khuyến
khích người đỗ đạt được gọi là “ruộng Thự”.
Nói về tác động của Văn hội
Nho học huyện Hà Đông đối với việc học tập của sĩ tử xưa, ông Nguyễn
Lương Tri đă tổng kết như sau: “Nhờ sự khuyến khích và đào tạo của
Văn hội nên vùng Tam Kỳ lúc bấy giờ (gồm cả Tiên Phước) đă xuất hiện
nhiều nhân tài lỗi lạc như các nhà cách mạng nổi danh: Phan Châu
Trinh (phó bảng), Huỳnh Thúc Kháng (tiến sĩ), Trần Dư (tiến sĩ); các
bậc hào hùng khí tiết như: Lê Vĩnh Khanh (phó bảng), Phan Xưởng (cử
nhân); các bậc khoa danh xuất sắc như Nguyễn Thích (tiến sĩ), Nguyễn
Tựu (phó bảng) v.v. C̣n về khoa cử th́ tiến sĩ, phó bảng, cử nhân,
tú tài nối tiếp mà đề tên Kim bảng quá nhiều.”
Thành tựu của việc học ở
huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam xưa được nhắc trong “Bảng vàng” trên
đây hẳn c̣n tổng quát; nhưng phong khí học tập và sự thành đạt của
sĩ tử vùng đất học này được ghi nhận qua các tư liệu như Đại Nam
thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều Hương khoa lục… đă cho
thấy sự đóng góp của Văn hội Nho học huyện Hà Đông là không hề nhỏ.
________
(*) Cụ Nguyễn Lương Tri là thân phụ của các Liệt
sĩ Nguyễn Lương Ư và Nguyễn Lương Y- quê vùng Quán Rường, tổng Chiên
Đàn, phủ Tam Kỳ xưa (nay là xă Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng
Nam). Cụ là một trong những người sáng lập Hội Cổ học tỉnh Quảng Tín
cũ.
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|