|
Có nhiều câu hỏi về
vùng đất Tam Kỳ của tỉnh Quảng Nam xưa: Địa danh này nghĩa là ǵ?
Được lập từ khi nào và có ǵ đặc biệt? Từ khi nào tên xă Tam Kỳ lại
được dùng đặt tên cho một phủ?

Đ́nh xă Tam Kỳ xưa
(nay gọi là Đ́nh làng Hương Trà). Ảnh: P.B
Nguồn gốc tên gọi
Tam Kỳ
Trước đây, các nhà
nghiên cứu đưa ra nhiều lư giải nguồn gốc địa danh Tam Kỳ: Có người
cho tên gọi Tam Kỳ chỉ vùng có ba cái cồn đất lớn (kỳ: cồn đất); có
người cho là vùng có ba ngọn núi đất là Quảng Phú, An Hà và Trà Cai
(kỳ: g̣ đất lớn); có người cho rằng do ở đây có ba ngả rẽ (kỳ: ngả
rẽ) xuống biển, lên trung du và xuôi theo đường thiên lư.
Nhà nghiên cứu
Nguyễn Khắc Thuần (trong Hội thảo “100 năm Phủ lỵ Tam Kỳ 1906 -
2006”) đă theo ghi chép của Lê Quư Đôn và của Quốc sử quán triều
Nguyễn cho biết địa danh Tam Kỳ ở Quảng Nam từng được sử dụng để chỉ:
(1) Tên của một con sông; (2) Tên của một bến đ̣; (3) Tên của một
cái đầm; (4) Tên của một ngôi chợ; (5) Tên của một nhà dịch trạm;
(6) Tên của một làng; (7) Tên của một xă; (8) Tên của một huyện; (9)
Tên của một phủ; (10) Tên của một phủ lỵ; (11) Tên của một quận;
(12) Tên của một quận lỵ; (13) Tên của một thị xă; (14) Tên của một
thành phố.
Nhưng Nguyễn Khắc
Thuần quên nhắc đến một tên quan trọng: đó là Ngă ba sông Tam Kỳ.
Chính cái ngă ba sông này mới là khởi nguyên của tất cả tên/địa danh
Tam Kỳ kể trên - tính từ xưa đến nay. Đọc các ghi chép trong sách
Đại Nam thực lục của triều Nguyễn, thấy các tên Tam Kỳ giang (ở miền
Bắc, miền Trung) và Ngũ Kỳ giang, Thất Kỳ giang (ở miền Nam) trong
cả nước đều tương ứng với các vùng có các ngă ba, ngă năm, ngă bảy
của các con sông. Từ đó, có thể suy, địa danh Tam Kỳ ở vùng Nam
Quảng Nam có lẽ cũng có xuất xứ từ việc lấy ngă ba sông ở đây mà đặt
tên.
Tên Tam Kỳ xuất
hiện từ khi nào?
Trước Phủ biên tạp
lục (PBTL) của Lê Quư Đôn, chưa có một thư tịch hoặc bản đồ nào ghi
nhận tên Tam Kỳ. Tư liệu sớm nhất c̣n lưu ở vùng này có xuất xứ từ
thời chúa Nguyễn Phúc Chu ghi niên hiệu Cảnh Trị thứ 9 (tức năm 1699
đời vua Lê Huyền Tông) ghi địa danh xă ven ngă ba sông Tam Kỳ này là
“vi tử tân lập Tam Kỳ xă”. Rồi đến thời chúa Nguyễn Phúc Thuần,
trong một tư liệu ghi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27 (năm 1766 đời vua
Lê Huyền Tông), Tam Kỳ được ghi nhận là tên một xă lệ vào “thuộc Nội
phủ Liêm hộ” của phủ Thăng Hoa.
Các chúa Nguyễn
thời ấy, nắm quyền ở Đàng Trong nhưng đều lấy hiệu của các vua Lê để
“hiệu lệnh thiên hạ”. V́ vậy, xét niên hiệu ghi trong các văn bản kể
trên, có thể thấy tính khả tín rất cao. Nói khác đi, đến cuối thế kỷ
17 đến giữa thế kỷ 18 đă thấy tên Tam Kỳ xuất hiện trên văn bản hành
chính. Điều đó có nghĩa là quá tŕnh lập địa hiệu Tam Kỳ phải diễn
ra trước đó ít nhất gần cả trăm năm. Gia phả các tộc tiền hiền ở xă
Tam Kỳ xưa cho biết các vị thủy tổ của họ đă vào vùng ngă ba sông
Tam Kỳ từ cuối thế kỷ 16.
Tam Kỳ nói riêng và
Tam Kỳ nói chung
Từ đầu thế kỷ 20
trở về trước, địa danh Tam Kỳ chỉ dùng khu biệt để chỉ “xă Tam Kỳ” (tức
phạm vi các phường Ḥa Hương, Phước Ḥa, An Xuân và một phần phường
An Mỹ của TP.Tam Kỳ hiện nay). Xă/làng Tam Kỳ đó thuộc về tổng Chiên
Đàn, huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa (sau đổi là Thăng B́nh) của tỉnh
Quảng Nam.
Đến năm 1906, huyện
Hà Đông được tách ra khỏi phủ Thăng B́nh để nâng lên thành phủ Hà
Đông (sau đổi thành phủ Tam Kỳ) và không lâu sau đó phủ lỵ được dời
về đặt tại xă Tam Kỳ. Từ đó, trong dân gian, Tam Kỳ được hàm hai
nghĩa rộng hẹp khác nhau. Với nghĩa hẹp, Tam Kỳ là một xă phủ lỵ;
với nghĩa rộng, Tam Kỳ là một phủ gồm nhiều tổng mà ngày nay bao gồm
các huyện Núi Thành, Bắc Trà My, Tiên Phước, Phú Ninh và TP.Tam Kỳ.
Tuy vậy, trước Cách mạng Tháng Tám 1945, khi nói đến địa danh Tam Kỳ
th́ ai cũng hiểu đó là nói “Tam Kỳ hẹp”.
Xă Tam Kỳ xưa
Từ “vi tử Tam Kỳ”
đến “vi tử Tam Kỳ tân lập xă” đến “xă Tam Kỳ”, tên gọi tuy có khác,
nhưng theo các tư liệu ruộng đất hiện c̣n ở địa phương, địa giới của
vùng đất này không đổi: phía nam và đông nam giáp sông Tam Kỳ, phía
tây nam giáp xă Dưỡng An, phía tây giáp xă Đá Bạc, phía bắc giáp một
nhánh nữa của sông Tam Kỳ. Tứ cận ấy đă được địa bạ thời Gia Long
ghi rất rơ.
Xă Tam Kỳ xưa nằm
ven đường thiên lư; từ phía bắc vào có cống Suối Đá (được ghi tên
trong sách PBTL). Cống ấy nay gọi là cống Ngân hàng v́ cạnh đấy, có
trụ sở một ngân hàng tư nhân từ trước năm 1975. Gần đến sông Tam Kỳ
có nhà dịch trạm Tam Kỳ (nay gần khu vực chùa Tịnh Độ). Bến tuần đ̣
sông Tam Kỳ (được nhắc đến trong sách PBTL) nay nằm giữa cầu cũ và
cầu mới Tam Kỳ. Đối diện bến ấy là làng Khương Mỹ - nơi có ba ngọn
tháp Chăm được nhiều người biết.
Xă Tam Kỳ xưa có
một công tŕnh trị thủy rất nổi tiếng. Đó là con đường đắp chặn một
nhánh sông Tam Kỳ để nối ấp Hương Trà (thuộc xă Tam Kỳ) - nằm trên
một cồn đất giữa sông với đường thiên lư. Con đường đắp này được
trồng cây cừa, cây sưa để giữ chân. Về sau, sưa, cừa mọc sum sê nên
có tên là Vườn Cừa. Nơi đây về sau trở thành thắng cảnh với hàng vài
chục gốc sưa già hàng năm trổ hoa vàng rực rỡ, thơm ngát.
Tam Kỳ xưa có một
vị trí đặc biệt, được cho là nền một tháp Chăm đă đổ (v́ căn cứ vào
gạch đá, tượng, di tích c̣n lại), trên ấy người xưa xây một miếu
Quan Thánh đế quân (c̣n gọi là Chùa Ông), nay c̣n một tượng Quan
Công. Về sau, hào lư xă Tam Kỳ đă cho dời đ́nh làng Tam Kỳ về đặt
ngay trước miếu này. Chư vị tiền hiền xă Tam Kỳ được cung nghinh thờ
ở đ́nh (sau này gọi là đ́nh làng Hương Trà). Sự gặp gỡ của ba yếu tố
văn hóa Chăm, Hoa, Việt thể hiện rất rơ trên các công tŕnh ở cùng
vị trí nói trên.
Ở ấp Hương Trà xă
Tam Kỳ xưa có một ngôi mộ gắn liền với câu chuyện huyền hoặc “Thầy
Lánh” nổi tiếng ở Nam Quảng Nam: Đó là ngôi mộ được cho là nơi chôn
chiếc giày của Thầy Lánh đánh rơi khi nhân vật huyền thoại này cỡi
rồng bay vào Nam để tránh bị triều đ́nh xử tội. Trên tấm bia trước
mộ ghi đây chính là mộ người (Bích Nhăn tôn sư Nguyễn Đức Lánh tiên
sinh thần mộ); nhưng dân địa phương vẫn cứ cho đây là “ngôi mộ giày”
và thường kể đi kể lại bao hành trạng “diệt ác, trừ gian, cứu dân
nghèo” của nhân vật liên quan.
Về thăm TP.Tam Kỳ,
t́m dấu tích xă Tam Kỳ xưa sẽ thấy c̣n khá nhiều di tích (mộ cổ,
miếu thờ, nhà cổ, chuyện xưa…) cần được thống kê và khám phá.
PHÚ B̀NH
|