Câu đối xuân ở huyện Hà Đông xưa

Phú B́nh

Cũng như nhiều địa phương khác trên đất Quảng Nam, tại các đ́nh miếu, nhà thờ tộc họ... tại khu vực huyện Hà Đông xưa c̣n lưu nhiều câu đối rất ư nghĩa. Các câu đối ấy vừa thể hiện sự biết ơn của con cháu đối với công lao khó nhọc của của tiền nhân; vừa thể hiện niềm tự hào về quê hương có chiều sâu văn hóa. Nhân dịp đầu xuân, thử đọc một số câu đối có liên quan xa gần đến chủ đề mùa xuân tại các nơi nói trên để biết rơ thêm.

Phía tây thôn Gia Thọ, xă Tam An (huyện Phú Ninh) có ngôi miếu nằm ở vị trí rất đẹp; người địa phương thường gọi là miếu Tướng quân. Chẳng rơ nơi ấy thờ vị tướng của thời nào? Chỉ biết trước miếu không xa có một ngôi mả Voi; cũng chẳng rơ thớt voi nằm trong mả có liên quan ǵ đến nhân vật được thờ trong ngôi cổ miếu? Từ ngôi mả Voi nh́n thẳng vào miếu có thể thấy đôi câu đối khắc ngay trước b́nh phong: “Miếu mạo trang nghiêm khai vạn cổ/ Thần ma a hộ ấm hương xuân” (Tạm dịch: Miếu mạo xây nghiêm từ thuở ấy/ Mong Ngài giúp đỡ cảnh luôn xuân). Tại ngôi miếu này có treo tấm bảng kể về sự tích lập làng Gia Thọ. Qua đó, khách qua đường có thể biết nơi đây là quê quán của các cụ phó bảng Nguyễn Dục, tiến sĩ Trần Văn Dư, tiến sĩ Nguyễn Thích và nhiều bậc khoa bảng yêu nước khác mà nhiều vị trong số đó đă hy sinh trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp.

Theo đường thiên lư, vào phía nam khoảng hơn cây số có làng Chiên Đàn là lỵ sở của huyện Hà Đông xưa. Tại mặt tiền của ngôi đ́nh cổ hơn 500 năm tuổi này có đôi câu đối: “Thu báo, xuân kỳ, lễ nhạc y quan chi sở/ Địa linh nhân kiệt, phi danh văn vật chi hương” (Tạm dịch: Xuân thu hương khói phụng thờ/ Đất linh, người giỏi, danh thơm lẫy lừng). Nơi đây được truyền tụng là quê hương của nhiều vị dũng tướng Tây Sơn. Thời Nho học thịnh đạt, vùng Chiên Đàn từng là trụ sở học thuật của nho sĩ cả vùng nam Quảng Nam. Từng có một Văn thánh Chiên Đàn uy nghi, một Văn hội nho học đầy thành tích đă góp phần rèn luyện nhiều bậc khoa bảng yêu nước thành tài mà tên tuổi các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh là tiêu biểu.

Cách làng Chiên Đàn không xa về phía đông nam là làng cổ Phương Ḥa. Gia phả của tộc Bùi ở làng này cho biết, từ năm Thiệu Thành thứ 2 (1402) thời Hồ Hán Thương, ông tổ 18 đời của tộc là Bùi Viết Nhân đă cùng thê tử băng rừng vượt suối trong ṿng hai tháng từ vùng xă Văn Xá, huyện Thanh Oai, Hà Đông đến cư ngụ tại đây; khi ấy có tên là ấp Bà Môn. Sau đó ông quy dân lập làng Chiên Đàn. Tại một ngôi nhà thờ một nhánh tộc Bùi ở làng Phương Ḥa có đôi câu đối: “Vị hiệp chi lan hương măn thất/ Xuân thâm tùng trúc tú đương đ́nh” (Tạm dịch: Chi lan hương ngát khắp nhà/ Hơi xuân thấm đẫm cả ngoài mái hiên). Lời lẽ toát lên niềm tự hào vô cùng về gia tộc ḿnh - gia tộc đến vùng Tam Kỳ sớm nhất.

Tộc Lê làng Trường Xuân (nay là phường Trường Xuân, TP.Tam Kỳ) cũng là gia tộc cũng đến vùng này từ rất sớm - ngay từ thời Hồng Đức (1470 - 1497). Theo gia phả, ông thủy tổ của tộc là Lê Tấn Trung, quê gốc ở phủ Thiệu Thiên, thừa tuyên Thanh Hoa, được vua Lê Thánh Tông bố trí ở lại cai quản vùng đất mới. Vị hoàng thân này, về sau được tuyên xưng là tiền hiền làng. Cũng theo gia phả Lê tộc, làng Trường Xuân có hai vị tướng tham gia phong trào Tây Sơn là các ông Lê Văn Thủ và Lê Văn Long. Tại nhà thờ tộc Lê - Trường Xuân có đôi câu đối: “Trường địa giang sơn thiên cổ quư/ Xuân thiên hoa thảo tứ thời hương” (Tạm dịch: Đất quư ngh́n năm bền vững măi/ Trời xuân hoa cỏ ngát hương đưa). Câu đối này ghép hai từ đầu thành tên làng Trường Xuân và ghép hai âm cuối thành từ “quư hương” gợi lên h́nh ảnh “ngôi làng danh giá”; tất cả thể hiện niềm tự hào sâu sắc của con cháu về công tích mở cơi của cha ông. Trong tư liệu của tộc Lê làng Trường Xuân cũng c̣n lưu hai câu “Trường tồn tôn tử thịnh/ Xuân lai quân dân hưng” (Tạm dịch: Cháu con thịnh đạt lâu dài/ Nước nhà hưng vượng giữa mùa xuân vui) đều thể hiện những ư nghĩa tốt đẹp đă nêu trên.

Ven sông Tam Kỳ có ấp Hương Trà (nay thuộc phường Ḥa Hương, TP.Tam Kỳ). Ấp này cùng với ấp Hương Sơn là hai đơn vị hành chính đầu tiên của làng Tam Kỳ, thành lập từ cuối thế kỷ 16 do hai ông Trần Văn Nghiêm và Nguyễn Đăng Vinh cùng đứng tên đồng tiền hiền. Đ́nh làng Tam Kỳ xưa hiện không c̣n. Người đời sau tái lập đ́nh ở ấp Hương Trà để tưởng nhớ ngôi đ́nh xưa đă mất dấu tích. Hiện nay, tại đ́nh Hương Trà có đôi câu đối mang hơi hướm mùa xuân với nhiều h́nh ảnh nên thơ: gió mát, sông trong, hoa thơm, cỏ thắm... “Hương địa thủy phong thanh, vạn cổ giang san y cảnh cựu/ Trà thiên tinh nguyệt lăng, tứ thời ba thảo hoán minh tân” (Diễn dịch: Đất lành gió mát sông trong/ Đứng trông cảnh cũ mà ḷng lâng lâng/ Trăng sao lăng đăng xa gần/ Bốn mùa thành một mùa xuân rạng ngời). Có đặt chân đến “con đường sưa Hương Trà” ven sông Tam Kỳ vào một đêm xuân mới cảm nhận được hết ư t́nh mà người viết câu đối muốn gửi gắm.

Đối diện ấp Hương Trà, bên kia sông có ấp Phú B́nh (nay thuộc xă Tam Xuân 1, huyện Núi Thành)). Đây là nơi an nghỉ của bốn vị tiền hiền của làng Phú Hưng xưa thuộc các tộc Nguyễn, Trần, Lê, Đỗ. Tại nhà thờ tộc Lê làng Phú Hưng có câu đối: “B́nh lâm Cổ Lũng điền thiên mẫu/ Phủ khám t́nh giang thủy nhất hoằng” (Tạm dịch: Đến vùng Cổ Lũng khai ngh́n mẫu/ Ven một gịng sông nước rất trong). Cổ Lũng là tên xưa của vùng đất này. Chẳng rơ hai từ đầu của câu đối “Phủ” và “B́nh” có phải là ghép lại theo tên ban đầu của ấp Phú B́nh? Cần phải t́m hiểu thêm! Bởi, khi đặt các câu đối trên miếu vũ, đ́nh làng, nhà thờ tộc... người xưa đều muốn lưu lại một dấu tích nào đó cho con cháu mai sau.

Cũng với ư lưu dấu tích nói trên, ta gặp tại nhà thờ tộc Trần Hữu ở làng Khương Mỹ (nay thuộc xă Tam Xuân 1, huyện Núi Thành) câu đối: “Phú Quư xuân hoa hồng vũ hậu/ Đức Ḥa kiều thụ tráng phong tiền” (Diễn xuôi: Hoa xuân ở tổng Phú Quư tươi thắm sau mưa/ Cây cao ở tổng Đức Ḥa sum suê trước gió). Đây là câu đối lưu lại một thực tế thay đổi địa giới hành chính: Làng Khương Mỹ vốn trước thuộc tổng Phú Quư sau giao về tổng Đức Ḥa. Cả hai tổng đều thuộc phạm vi huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa.

Trong các làng xă ven các con sông ở Tam Kỳ chỉ có làng Tứ Bàn (nay thuộc hai phường Ḥa Hương và Phước Ḥa, TP.Tam Kỳ) là thành lập muộn nhất. Phần lớn diện tích đất của làng này thuộc xứ Truông Dài của làng Tam Kỳ. Tên đầy đủ của làng mới lập là Tứ Chánh Bàn Thạch. Nó nằm ven triền sông Phước Xuyên. Giữa ḷng con sông này có một khối đá rất lớn; v́ thế, từ xưa sông này c̣n gọi là Bàn Thạch. Do những xuất xứ đó, tại nhà thờ Thất phái tiền hiền làng Tứ Bàn có đôi câu đối: “Bàn Thạch tự thiên khai, hạ ốc cừ cừ quang tổ ấm/ Truông Dài bồi địa thắng, xuân phong diếu diếu phát tôn chi” (Tạm dịch: Đá tảng tự trời sinh, nhà cửa dày liền nương phước tổ/ Truông Dài thêm đất tốt, cháu con phát triển tựa hơi xuân). Có đến ven sông vùng này vào một chiều xuân mới cảm nhận hết ư nghĩa của cụm từ “xuân phong diếu diếu” (gió xuân hây hẩy) mà người xưa đă nhẹ nhàng phô diễn.

Phía đối diện làng Tứ Bàn, tại thôn Quư Thượng làng Quảng Phú (nay thuộc phường an Phú, TP.Tam Kỳ) có nhà thờ tộc Nguyễn - một tộc đồng tiền hiền làng Tứ Bàn nhưng sau chuyển sang định cư bên kia sông. Tộc này nổi tiếng có nhiều người văn hay, chữ tốt - trong đó có ông Nguyễn Quư Hương từng một thời làm thư kư tại ṭa soạn báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Tại ngôi nhà thờ nói trên có câu đối với ḍng lạc khoản đề tên ông Nguyễn Quư Hương trang tặng như sau: “Sắc hoán đan thanh quang tự vũ/ Hương đằng lan ngọc măn đ́nh giai” (Tạm diễn xuôi: Ánh dương luân chuyển như nét vẽ làm sáng cả ngôi nhà thờ tộc/ Hương của cỏ hoa quanh vườn thơm lừng từ trong nhà ra đến bậc thềm). Điểm tài t́nh của câu đối này là vẽ nên một bức tranh xuân sống động mà không dùng bất kỳ một từ “xuân” nào.

P.B

 

* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online : http://baoquangnam.vn/ . Đăng lại với sự đồng ư của tác giả