|
Bài thơ về Tam Kỳ của nữ sĩ Sầm Phố
Phú B́nh
Đầu thế kỷ XX, tại phạm vi phủ Tam Kỳ lưu hành một
bài thơ vịnh phong cảnh địa phương, như sau:
Phải huyện Hà Đông trước ở đây?
Có Nhà Dây thép, có đồn Tây
Chữ Hời bia đá rêu phong kín
Tượng Phật chùa Hang bụi lấp đầy
Kim Đái - đai vàng nào đâu thấy?
Thạch Kiều - cầu đá hăy c̣n đây!
Sông Tiên nào thấy ông Tiên tắm?
Bủa lưới buông câu mấy chú chài.
Về sau, từ bài trên, dân gian c̣n thêm một dị bản:
“Huyện mới Hà Đông đặt ở đây/Có đồn đại lư, có lầu Tây?/ Nước
sông Bàn Thạch quanh quanh chảy/ Ngọn núi Tùng Lâm lớp lớp xây/ Kim
Đái đai vàng đâu chẳng thấy?/ Thạch Kiều cầu đá hăy c̣n đây!/ Sông
Tiên nào thấy ông Tiên tới?/ Bủa lưới giăng câu mấy chú chài!”.
Câu 4 của dị bản này có khi c̣n được đọc thành “Ngọn núi Thanh Lâm
lớp lớp xây”.

Bà Nguyễn Thị Đào cùng gia đ́nh
con trai Tạ Quang Đệ. Nguồn: Báo Phụ Nữ Việt Nam.
Cả hai bản thơ đều cố gắng chỉ ra những địa danh,
dấu tích vốn có của vùng huyện Hà Đông xưa mà đến năm 1906 đă được
nâng lên thành phủ Tam Kỳ.
Trước hết đó là các di tích chùa Hang và tháp Hời
- những nơi từng được các sách địa dư chí thời Nguyễn nhắc đến. Chùa
Hang nằm ở xă B́nh An Trung, tổng Đức Ḥa - là vùng cực nam của
huyện Hà Đông xưa (nay thuộc thôn An Thiện, xă Tam Nghĩa, huyện Núi
Thành). Đó là ngôi chùa vắng vẻ tại vùng núi Ḥn Bà, được cho là do
một vị sư người ở tỉnh khác đến lập rồi trụ tŕ. Nhà sư này, lúc cao
niên yếu bệnh đă viên tịch bằng cách tự thiêu. Sau đó khá lâu, một
sư nữ quê Tam Kỳ đă đến đó an cư, tu tập, kiêm luôn việc chữa bệnh
cho dân quanh vùng. Nay, chùa đó vẫn c̣n, có tên là Thạch Động Tự.
Di tích “chữ Hời” tại các tháp Chăm được nhắc
trong bài thơ chắc chắn là ở hai cụm tháp Khương Mỹ và Chiên Đàn
(nay ở hai huyện Núi Thành và Phú Ninh) vốn rất quen thuộc với người
dân địa phương. Nhưng, tấm “bia đá rêu phong kín” mà tác giả đề cập
nay đă mất dấu; chẳng rơ các nhà nghiên cứu người Pháp có đem nó về
Cổ viện Chàm ở Đà Nẵng như họ đă từng làm với các bia, tượng Chàm ở
các nơi khác thuộc Quảng Nam xưa?
“Thạch Kiều” cũng là một di tích Chăm. Đó là một
cây cầu đá nhỏ nằm ở thôn Thạch Kiều, gần vùng tháp Khương Mỹ, thuộc
tổng Đức Ḥa, huyện Hà Đông xưa (nay là xă Tam Xuân I, huyện Núi
Thành). Ở vùng này, dấu vết của những con mương đá dẫn nước và nền
móng các di tích kiến trúc gạch thi thoảng vẫn được người địa phương
phát hiện khi đào xới.
Ở vùng Tam Kỳ, cách hiểu về mấy ngọn núi ghi trong
bản thơ thứ hai không giống nhau: Có người cho rằng “núi Tùng Lâm” ở
vùng xă Quảng Phú, tổng Phú Quư (nay thuộc TP.Tam Kỳ). Đó là hai
ngọn đồi đất đỏ Quảng Phú (c̣n gọi là Núi Cấm - tên chữ ghi trong
thư tịch triều Nguyễn là Cấm Sơn) và đồi An Hà. Có người khẳng định
Tùng Lâm chính là núi Thanh Lâm ở xă Thanh Lâm, tổng Tiên Giang
Thượng (nay thuộc xă Tiên Thọ, huyện Tiên Phước). Tên Thanh Lâm
không thấy ghi tên trong sách Đại Nam nhất thống chí và Đồng Khánh
địa dư chí - có lẽ v́ núi không lớn; nhưng người địa phương biết đến
nhiều v́ dưới chân vùng núi này là các trũng ruộng ph́ nhiêu. Làng
Thanh Lâm nằm ven núi này, nổi tiếng không chỉ là nơi đồn trú nghĩa
quân Cần vương của cụ Trần Văn Dư vào khoảng năm 1885 mà c̣n là địa
phương có mở “Hội vây cọp” hàng năm. Theo như cách thức được diễn tả
trong bài thơ, mỗi tổng của huyện Hà Đông được mô tả qua một vài dấu
tích, th́ có khả năng câu “ngọn núi Thanh Lâm lớp lớp xây” là đúng
cho bản thứ hai.
Các ḍng sông được nhắc trong hai bản thơ này gồm:
sông Tiên ở tổng Tiên Giang thượng và sông Bàn Thạch (c̣n gọi là
sông Phước Xuyên) phân chia ranh giới hai tổng Chiên Đàn và Phú Quư.
Sông Tiên nổi tiếng v́ có đoạn “chảy ngược về hướng tây”, từ đó dựng
lên lời đồn mang tính phong thủy là “nơi đâu có nước chảy ngược ḍng,
nơi đó có nhiều con gái đẹp”. Sông Bàn Thạch nổi tiếng v́ có vạn ghe
Bàn Thạch, sau gọi là chợ Vạn - Tứ Bàn, là nơi tập trung buôn bán
đông nhất của toàn vùng nam Quảng Nam xưa.
Cuối ḍng Bàn Thạch về hướng bắc, tiếp giáp với
vùng đầm An Hà trù phú có một dải cát như h́nh chiếc thắt lưng màu
vàng ôm ấp toàn vùng này. Dựa vào h́nh thế đó, những người đầu tiên
đến định cư ở vùng đất quanh đầm An Hà đă đặt tên Kim Đái để định
danh (Kim: vàng, Đái - c̣n đọc là Đới: cái đai lưng) sau đó thành
tên của một làng (nay thuộc xă Tam Thăng, TP.Tam Kỳ).
Ít người cao niên ở Tam Kỳ c̣n nhớ được h́nh dáng
và vị trí tọa lạc của “lầu Tây”, nhưng ai cũng chỉ ra được vị trí
của “đồn Tây” tức Đồn đại lư Pháp nằm ngay ở khu đất phía tây của
góc đường Trần Cao Vân và Trần Dư hiện nay. Xưa, đây là nơi đồn trú
của lính Pháp có nhiệm vụ giúp chính quyền Nam triều cai trị vùng
phủ Tam Kỳ; đây cũng là một trong hai nơi diễn ra cuộc biểu t́nh của
dân 7 tổng thuộc phủ Tam Kỳ trong phong trào kháng sưu chống thuế
năm 1908.
Nhà dây thép được mô tả trong bài thơ gốc chính là
trụ sở Bưu điện Tam Kỳ ở đường Trần Cao Vân - gần ngă tư Nam Ngăi
sau này. Địa điểm và công năng bưu chính của nơi này được giữ nguyên
từ ngày người Pháp xây dựng đến nay.
Về Sầm Phố nữ sĩ
Tác giả của bài thơ gốc là bà Tạ Quang Diệm,
nhũ danh Nguyễn Thị Đào, bút danh Sầm Phố - một phụ nữ thông Nho học,
thạo văn chương…, là thân mẫu của hai nhân vật nổi tiếng: GS. Tạ
Quang Bửu và nhà báo Tạ Quang Đệ (bút danh Quang Đạm).
Bà sinh năm 1885, quê ở làng Hoành Sơn (nay
thuộc xă Khánh Sơn, Nam Đàn, Nghệ An). Ông nội bà là cụ thám hoa
Nguyễn Đức Đạt, được triều đ́nh cử làm Đốc học nhưng mấy lần đều t́m
cớ từ quan về quê mở trường dạy học. Trong số học tṛ của cụ, có
nhiều danh nhân, chí sĩ như cụ Phan Bội Châu, cụ phó bảng Nguyễn
Sinh Sắc - thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ phó bảng Đặng Nguyên
Cẩn - thân sinh GS.Đặng Thai Mai, cụ cử nhân Đặng Văn Bá - một trong
những người sáng lập phong trào Duy tân...
Sinh ra và lớn lên trong một gia đ́nh, ḍng họ
lừng lẫy về khí tiết và học vấn như vậy, bà Nguyễn Thị Đào sớm thông
thạo Hán văn, làm nhiều thơ phú được biết rộng răi qua bút danh Sầm
Phố nữ sĩ. Bà kết hôn với cử nhân nho học Tạ Quang Diệm ở làng Hoành
Sơn, sau làm giáo thụ phủ Tam Kỳ. Bà và gia đ́nh có mối giao hảo với
các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc
Kháng… và từng gửi con đến thọ học. Bà làm thơ gửi cho các báo như
Tiếng dân, Phụ nữ thời đàm…
So với những nhà thơ khác đầu thế kỷ XX, thơ
của bà tuy không nhiều nhưng cũng đă góp thêm một tiếng nói yêu nước
kín đáo của giới nữ lưu vào những biến động và trăn trở của thời đại.
Nữ sĩ Sầm Phố qua đời năm 1975. Bài thơ gốc nói trên được bà Tạ
Quang Diệm sáng tác vào khoảng các năm từ 1920 - 1925 khi theo chồng
vào sống tại Tam Kỳ. (Nguồn: Báo Phụ Nữ Việt Nam)
PHÚ B̀NH
* Bài đă đăng trên Quảng Nam Online :
http://baoquangnam.vn/ . Đăng
lại với sự đồng ư của tác giả
|