|
|
THÁI
HƯ TƯ PHÁP TRUYỆN
太
虛
司 法 傳 Nguyên
tác : Tiễn Đăng Tân Thoại Phùng Đại
Dị đơn danh là Kỳ, vốn là tay
cuồng sĩ vùng Ngô Sở, thường ỷ tài
ngạo vật khinh thị tha nhân, không tin có
quỷ thần, phàm gặp những điều yêu
ma quái dị, y phụ cỏ cây, làm kinh người
hăi chúng, th́ Phùng nhất định sẽ
sắn tay, vén áo đương đầu,
rồi lăng nhục, phá huỷ một hồi
mới thôi. Đôi
khi c̣n lấy lửa đốt miếu, sau đó
đem các tượng thờ trong miếu vứt
bỏ xuống sông, hung hăn không hề cố
kỵ. V́ thế, Phùng
được người đời khen là can
đảm. Đến năm
Chí Nguyên tam niên đời
vua Thuận Đế nhà Nguyên,
Phùng đến cư ngụ tại cửa đông
ở Thượng Sái, nhân
có việc phải đến một làng bên. Lúc
đó, binh
hoả đă tàn, chiến tranh cũng mới
vừa chấm dứt, nên thôn xóm hoang sơ tiêu
điều, không có người cư ngụ.
Đường xá chỉ thấy hun hút cát vàng,
xương trắng. Khi Phùng chưa
đi đến làng đó, th́ mặt trời
đă ngả về tây, bốn phía mây đen
nổi lên, trông cảnh vật ảm đạm,
u sầu. Chung quanh, không có lấy một lữ
điếm. Chỉ duy có một khu rừng thông
già cằn cỗi nằm cạnh ven đường.
Chàng lập tức tiến vào, đến
ngồi dựa dưới một gốc cây
nghỉ ngơi. Chợt nghe có
tiếng cú kêu ở phía trước. Rồi
tiếng lang sói gầm gừ, tiếng hồ ly gào
rống ở phía sau chàng. Khoảnh khắc,
lại có một bầy quạ đen ở đâu,
từng con từng con bay đến. Có con nhẩy
c̣ c̣ một chân mà kêu. Có con đập hai cánh vào
nhau mà múa. Tiếng kêu quang quác. Âm thanh quái
dị, rợn rùng. Như vây bủa lấy người
Phùng. Sau đó,
lại thấy xuất hiện tám chín cái tử
thi. Thằng nằm ngang. Thằng nằm dọc.
Tả hữu đều có. Trong đêm tối, âm
phong thổi nghe phần phật. Buốt giá. Mưa
th́nh ĺnh đổ xuống. Rồi một
tiếng sấm nổi lên, tất cả tám chín
cái tử thi ấy đều đứng bật
dậy. Chúng thấy Phùng ngồi dựa gốc cây,
bền bảo nhau kéo ào tới, túm lấy chàng. Phùng nắm
vội lấy một cành cây, cố leo lên.
Trốn chạy. Đám tử thi chỉ c̣n nước
vây quanh dưới gốc cây gào thét, mạ
lị. Đứa đứng. Đứa ngồi,
bàn tán bảo nhau : - Đêm nay
bọn ḿnh phải bắt cho được tên này
! Bằng không, tất sẽ có tai hoạ. Phút chốc, mây
tan mưa tạnh. Nguyệt quang loang loáng xuyên qua
ngọn cây đổ xuống mặt đất.
Th́ thấy một con quỷ Dạ
Xoa từ xa tiến lại, trên đầu có
hai cái sừng, ḿnh mẩy trông xanh lè, hầm
hầm bước tới, vừa đi vừa la
lối. Khi vào đến rừng thông, Dạ Xoa bèn
lấy tay núm lấy những tử thi, rồi
bẻ từng cái đầu mà nhai ngấu
nghiến, chẳng khác ǵ như người ta
ăn dưa hấu vậy. Ăn xong, no nê th́
nằm kềnh ra ngủ. Ngáy vang như sấm. Âm
thanh kinh thiên động địa. Phùng ở trên
cây, bụng bảo dạ nơi đây không
thể ở lại lâu được, nhân lúc
Dạ Xoa c̣n đang ngủ say, bèn leo xuống
trốn chạy. Chàng chạy chưa được
hơn mười bộ,
lúc ngoảnh đầu lại, đă thấy
Dạ Xoa đuổi ở đằng sau. Chàng
thục mạng chạy tiếp, suưt bị Dạ
Xoa bắt được, may gặp một ngôi chùa
bỏ hoang, bèn gấp rút lẩn vào trong đó. Phùng thấy
hai dẫy hành lang mé đông và mé tây của chùa
đều đă bị sụp đổ. Duy trên
điện, c̣n có một pho tượng đất
thật lớn, sau lưng có một lỗ
hổng. Đường cùng quẫn bách, bèn chui
tọt vào trong nằm im trong bụng tượng,
tự an ủi là kiếm được chỗ
tị nạn, thoát được nguy hiểm. Th́nh ĺnh, Phùng
nghe tiếng tượng đất vỗ vào
bụng, cười bảo : -Thằng cha
muốn bắt hắn mà bắt không được,
ḿnh chẳng cầu th́ hắn lại tự
dẫn xác đến, đêm nay ḿnh có món
thịt đánh chén, khỏi cần ăn chay
nữa ! Phùng nghe nói
thế, sợ hăi, lập tức cố gắng
đứng dậy, bỏ chạy tiếp. Nhưng
cảm thấy bước đi nặng nề, tŕ
trọng. Chạy chừng mười bộ, th́
đụng một cái cửa chặn lại, té lăn
cù xuống đất. Chàng ngoái
đầu lại nh́n, chỉ thấy đất
cát, gỗ đá loạn xạ, bừa băi trên
mặt đất. Té ra,
thai cốt của pho tượng đất
đă bị vỡ nát. Phùng vừa thoát khỏi
bụng tượng, lại mở miệng
lớn lối nói : -Tên
quỷ nào mà cả gan chọc vào tay "đại
lăo gia" này, nên mới rước hoạ
vào thân như thế ! Phùng ra
khỏi chùa, vừa đi vừa ngoái lại nh́n.
Xa xa, ngoài cánh đồng, giữa ánh lửa
lập loè, thấp thoáng có một đám người
đang hành lễ tân khách, rồi cùng nhau
ngồi xuống. Phùng cả mừng, dấn bước
tiến tới. Chừng đến nơi, té ra
đều là những thây ma không đầu. C̣n
đứa có đầu th́ cụt hết hai tay,
hoặc què một chân. Phùng thấy vậy,
sợ hăi, quay ḿnh bỏ chạy. Lũ thây ma
giận dữ bảo nhau : -Bọn ḿnh rượu
đang đến lúc cao hứng, thằng cha này
quả thật lớn mật, cả gan đến
phá bĩnh, phải bắt cho được
hắn làm gỏi nhắm rượu mới
thoả. Rồi cả
bọn tập tễnh hô hoán t́m bắt Phùng.
Đứa nắm cứt trâu mà ném. Kẻ
nhặt xương khô mà chọi. C̣n đứa
không đầu th́ nghển lên mà truy cản. Cũng
may, lúc đó trước mặt Phùng có một
con sông nằm chắn ngang, Phùng nhẩy liều
xuống, vẫy vùng loạn xạ, bơi sang bên
kia bờ. Lũ thây ma
đuổi đến bờ sông, th́ ngừng
lại không dám qua. Phùng chạy
được chừng nửa dặm, ngoảnh
đầu lại nh́n, c̣n nghe tiếng lũ thây
ma la lối om x̣m, văng vẳng không dứt. Chẳng
mấy chốc, trăng tà khuất núi. Cảnh
sắc tối ṃ. Đen kịt. Phùng không thể
nh́n rơ đường lối, hụt chân té
xuống một cái hố thật sâu, cơ
hồ như không có đáy. Té ra là một hang
quỷ. Dưới hang, gió cát vù vù bay đầy
mắt, âm khí lạnh buốt giá rét như kim châm,
thấu tận cốt tuỷ. Một bọn
quỷ sứ đang tề tập họp nhau
ở đấy. Có đứa tóc đỏ hoe mà
lại có hai sừng. Có đứa lông xanh mà
lại có hai cánh, miệng nhỏ bé như
giống chim, răng ḷi ra trông rất là ghê
sợ. Có đứa đầu trâu mặt thú, thân
h́nh xanh bủng như da trời, miệng phà ra
lửa. Bọn quỷ trông thấy Phùng đến,
đều tỏ ra mừng rỡ, chúc tụng
lẫn nhau : -Cừu nhân
của chúng ta đă đến kia rồi. Sau đó,
bảo nhau lấy xích sắt cột vào cổ Phùng,
và dùng dây da trói ngang lưng chàng lại, lôi
đến trước chỗ ngồi của Quỷ
vương, rồi tâu rằng : -Tên cuồng sĩ
này lúc ở dương thế không tin quỷ
thần, lại c̣n lăng nhục chửi rủa
bọn chúng tôi. Quỷ vương
nghe tâu, hầm hầm nổi giận, trách
mắng Phùng : -Nhà ngươi
có đầy đủ tứ chi, đầu năo,
lại có học hành, lẽ nào không nghe nói
rằng oai đức của quỷ thần đầy
dẫy khắp nơi. Khổng
Tử là bậc thánh hiền mà c̣n nói "kính
nhi viễn chi", đối với quỷ
thần phải kính trọng mà xa lánh, Kinh
Dịch th́ bảo rằng "tải
quỷ nhất xa". Sách "Tiểu
Nhă" ghi "vi quỷ vi vực". C̣n các
sách khác như "Tả
truyện" th́ chép giấc mộng của
Tấn Cảnh Công, và
truyện Bá Hữu
mắng quỷ, đều là những truyện chính
đáng, ngươi là cái thá chi, dám cả gan nói
là không có quỷ thần. Bọn ta bị ngươi
hối nhục đă lâu, hôm nay gặp nhau đây,
không thể làm ngơ được. Nói xong, ra
lệnh cho chúng quỷ lột áo quần, mũ
mạo của Phùng ra, đánh đ̣n khảo
đả. Phùng bị đánh đến nước
thân thể bầm tím, máu chảy lâm ly, cầu
sống cũng không xong, cầu chết cũng không
được. Lúc đó
Quỷ vương lại bảo Phùng : -Ngươi
muốn khuấy bùn thành tương, hay muốn
biến thành thân cao ba trượng ? Phùng nghĩ
bụng, quấy bùn thành tương th́ không
thể được, nên xin được làm
thân cao ba trượng. Lũ quỷ bèn
lôi Phùng đặt lên trên một chiếc giường
bằng đá, rồi như người ta vê
xoắn bột bánh, chúng quỷ dùng tay xoa bóp người
Phùng, lật qua lật lại, thân thể Phùng
bỗng dần dần dăn dài ra. Lát sau, chúng
quỷ vực chàng đứng dậy, quả nhiên
người chàng cao đến ba trượng, trông
lêu nghêu như một cây gậy trúc. Chúng
quỷ, nh́n chàng đùa rỡn, chửi rủa và
gọi chàng là "Trường
can quái " Quỷ vương
lại hỏi Phùng : -Ngươi có
muốn thành đá chiên ra nước, hay muốn
nhỏ lại bằng một xích ? Phùng c̣n đang
khổ sở, buồn rầu v́ thân thể
lềnh khềnh cao dài, không thể tự ḿnh
đứng dậy được, nay Quỷ vương
hỏi thế, bèn xin được nhỏ
lại c̣n một xích. Chúng quỷ lại lôi chàng
đến đặt trên chiếc bàn đá,
rồi như người ta nhào bóp bột ḿ,
lấy hết sức lực dằn nén trên thân
thể Phùng. Chỉ nghe tiếng xương
cốt của chàng bị vỡ vụn kêu
rắc rắc, rồi chúng quỷ vê vét chàng
lại thành một khối, quả nhiên người
chàng chỉ c̣n một xích, tṛn tṛn như
một con cua lớn. Chúng quỷ lại reo cười
bêu rếu Phùng, gọi chàng là "bành
kỳ quái 蟛蜞怪".
Phùng lổm
ngổm ḅ ở dưới đất, khổ
sở không sao chịu nổi. Bấy giờ đứng
gần bên cạnh chàng, có một lăo quỷ già
thấy cảnh tượng như vậy, vỗ
tay cười ha hả, bảo với Phùng : -Túc hạ b́nh
nhật vốn không tin có quỷ thần, hôm nay
sao h́nh cốt lại như thế này ? Nói xong lăo
quỷ già quay ra thỉnh cầu với chúng
quỷ : -Hắn tuy vô
lễ với bọn ḿnh, nhưng chịu nhục
nhă cũng đă nhiều, xin quư huynh thương
t́nh tha cho hắn ! Được
chúng quỷ đồng ư, lăo quỷ già cúi
xuống nâng Phùng dậy, rồi xốc xốc
mấy cái, thân h́nh Phùng lập tức khôi
phục trở lại nguyên dạng. Phùng năn
nỉ xin được trở về nhà. Chúng quỷ nói
: -Ngươi
đă đến nơi này, th́ cũng không nên
trở về tay không. Bọn ta mỗi người
có một vật tặng ngươi, để
khi về trên ấy, cho nhân gian biết rơ là có
sự tồn tại của quỷ thần
bọn ta. Lăo quỷ già
nói : -Vậy, xin anh
em cho biết là những tặng vật nào ? Một quỷ
nói : -Tôi xin
tặng cặp "bát vân giác" ! Rồi lấy
hai chiếc sừng cắm vào trán của Phùng, hướng
vào nhau trông cao nghễu nghện. Một quỷ
khác nói : -Tôi xin
tặng một chiếc "sáo phong chuỷ". Lập tức
lấy ra một cái c̣i sắt gắn vào môi
của Phùng, trông nhọn hoắt như mỏ
chim. Một quỷ
nói : -Tôi xin
tặng "chu hoa phát". Nói xong lấy
lấy một thứ nước mầu đỏ
bôi lên đầu Phùng. Đầu tóc của Phùng
trở thành tán loạn, dựng đứng
cả lên, trông đỏ như lửa. Lại một
quỷ nữa nói : -C̣n tôi xin
tặng cặp "bích quang t́nh". Rồi lấy
hai con ngươi mắt xanh, gắn vao mắt
của Phùng. Mắt Phùng biến thành mầu bích
lục. Sau đó, lăo
quỷ già dẫn đưa Phùng ra ngoài cửa
hang, căn dặn bảo Phùng : -Túc hạ nên
tự bảo trọng. Vừa rồi bọn
tiểu quỷ xâm phạm châm trọc túc hạ,
xin túc hạ đừng để bụng làm ǵ.
Phùng may
mắn thoát khỏi hang quỷ, nhưng h́nh
dạng biến đổi. Đầu mang
sừng. Mắt xanh. Tóc đỏ. Miệng chim.
Nghiễm nhiên trông giống hệt một con
quỷ kỳ quái. Chàng về đến nhà,
vợ con không ai dám nhận. Ra ngoài chợ búa, người
ta xúm đông lại quan sát, coi như một quái
vật. Trẻ con đều sợ hăi bỏ
chạy. Do đó, Phùng buồn chán, đóng
cửa ở trong nhà, không ăn uống ǵ,
uất ức sinh bệnh. Lúc lâm chung, Phùng
dặn bảo với người nhà : -Ta bị lũ
quỷ quấy phá, nay sắp chết, hăy bỏ
nhiều giấy bút vào quan tài cho ta, để ta
làm đơn thưa lên thiên đ́nh. Vài ngày
nữa, vùng Thái Châu này,
ắt sẽ phát sinh một số điều quái
dị, đó là lúc ta được thắng
kiện, các ngươi hăy lấy rượu mà
vẩy xuống đất để chúc mừng
ta. Nói xong th́
chết. Quả nhiên,
sau đó ba ngày, trời đang nắng ráo,
bỗng mưa to gió lớn ào ào đổ
xuống. Mây đen vần vũ nổi lên
bốn góc trời. Rồi sấm xét ầm
ầm vang động cả vùng. Bao nhiêu mái nhà
bằng ngói đều tan vỡ, bay đi mất.
Cây cối th́ bật gốc rễ. Một ngày
sau mưa tạnh mới tạnh, trời quang
đăng trở lại. Cái hang động mà Phùng
bị té trước đó, biến thành một
cái hồ lớn, rộng dài hàng mấy dậm.
Nước hồ trông đỏ ngầu như máu.
Những gia nhân
của Phùng th́nh ĺnh nghe có tiếng nói phát
từ quan tài của Phùng phát ra : - Ta nay đă
thắng được vụ kiện. Lũ
quỷ ở cái hang đó đều bị tiêu
diệt hết, không c̣n vết tích ǵ. Thượng
đế thương ta là người chính
trực, nên phong cho ta làm Tư
Pháp trông coi Thái Hư Điện. Chức
phận rất long trọng, nay không muốn tái
hồi trần thế nữa. Gia nhân của
Phùng tế lễ xong, đem thi hài chàng mai táng.
Đó đây, sự linh thiêng ẩn hiện
thấp thoáng như vẫn tồn tại măi. ( Dịch theo bản văn ngôn trong
"Hàn Quốc Tàng Trung Quốc Hy Kiến Trân
Bản Tiểu Thuyết 韓 國 藏 中 國
稀 見
珍
本
小
說"
và bản bạch thoại của " Thượng
Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xă 上
海
古
籍
出
版
社"
– Phạm xuân Hy ) _______________________________________________________________
Vài
nét về tác giả . Cù Hựu (瞿
佑)
: Thái Hư Tư Pháp Truyện
(Truyện quan Ty Pháp ở Điện Thái Hư)
được trích từ Tiễn Đăng Tân
Thoại 箭
燈 新 話 của
Cù Hựu.
Cù Hựu tự là Tông Cát, biệt
hiệu là Tồn Trai người Tiền
Đường, nay thuộc Hàng Huyện tỉnh
Triết Giang. Ông sinh năm Chí Chính nguyên niên nhà
Nguyên tức năm 1341. Hồi c̣n trẻ nổi
tiếng là người đa tài đa nghệ,
giỏi thi thơ, nhưng thường bất
đắc chí. Đầu năm Hồng Vơ đời
Minh Thái Tổ, Cù Hựu được lần lượt
bổ nhậm làm Huấn Đạo tại Nhân
Hoà, Lâm An, Tuyên Dương, rồi thăng làm
Hữu Trưởng Sử trong Chu Vương
Phủ. Khoảng năm Vĩnh Lạc đời
Minh Thành Tổ, nhân làm một bài thơ bị
tội, đầy đến huyện Bảo An
(nay là tỉnh Cam Túc) làm nhung thú, trải qua mười
năm, đến năm Hồng Hy (tức năm
1425) đời vua Minh Tông mới được xá,
về làm gia sư cho Anh Quốc Công ba năm,
đến năm Tuyên Đức nhị niên,
tức năm1427 th́ mất, thọ tám mươi
bẩy tuổi. "Tiễn Đăng Tân Thoại"
được viết vào khoảng Hồng Vơ
thập nhất niên, gồm bốn quyển, hai mươi
hai truyện. Phần lớn những truyện
trong Tiễn Đăng Tân Thoại đều
lấy ma quỷ quái dị, hôn nhân luyến ái, làm
đề tài phản ánh những hiện thực
xă hội hắc ám dưới triều nhà Nguyên,
cũng như chống lại những điều
vô lư trong chế độ hôn nhân phong kiến cũ.
Nhưng Tiễn Đăng Tân Thoại lại
mạnh dạn tuyên dương tư tưởng
"Trung, Hiếu, Tiết , Nghĩa" và
những phong tục mê tín quỷ thần. Một
số truyện có mầu sắc nhân quả báo
ứng của nhà Phật. Ngoài Tiễn Đăng Tân Thoại,
được người đời truyền
tụng và khen là có những ngôn từ hoa lệ,
uỷ uyển như "ôm thuư ấp
hồng", có ảnh hưởng rất
nhiều đối với tiểu thuyết
truyền kỳ chí quái như Liêu Trai Chí Dị,
Dạ Vũ Thu Đăng Lục, Huỳnh Song
Dị Thảo của hai triều Minh và Thanh, Cù
Hựu c̣n để lại cho đời sau
một số tác phẩm như : - Hương Đài Tập - Du Nghệ Lục - Tồn Trai Loại Biên -Qui Điền Thi Thoại. -Vịnh
Vật Biên -Nhạc
Phủ Di Âm Vá
hàng chú thích của Phạm Xuân Hy Thuận
Đế
順
帝: Thuận Đế là thụy
hiệu của vua Nguyên Huệ Tông, vua đời
thứ 11 và cũng là vị vua cuối cùng
của Nguyên triều. Thuận Đế tên là
Kỳ Ốc Ôn Thoả Hoan Thiếp Mục Nhĩ,
con trưởng của Nguyên Minh Tông, mẹ là Hăn
Lộc Lỗ Thị, sinh năm 1320, tức vị
năm 1333. Năm 1368 Nguyên Thuận Đế rút
khỏi Bắc Kinh, nhà Nguyên vong, đến năm
1370 Thuận Đế bị bệnh qua đời,
chung niên 51 tuổi, miếu hiệu là Huệ Tông,
thụy hiệu là Thuận Hoàng Đế, c̣n
gọi là Ô Cáp Đồ Khả Hăn. Dạ Xoa 夜
叉: Dạ Xoa được dịch âm từ
Phạn văn Yaksa, cũng c̣n gọi là "Dược
Xoa", "Duyệt Xoa", có nghĩa là nhanh
nhẹn, dũng tiệp. Theo thần thoại Ấn Độ th́
Dạ Xoa là một loại bán thần. C̣n theo
Phật Giáo th́ Dạ Xoa là một loại Hộ
Pháp Thần trong Thiên Long Bát Bộ gồm có: Thiên,
Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La,
Ǵa Lâu La, Khẩn Na La , Ma Hầu La Ǵa. Dạ Xoa nguyên là một loại quỷ
ăn thịt người, có tài đằng vân
độn thổ, được coi là tuần la
binh của Long Chúng. Nhưng ở một vài tác
phẩm văn học cổ điển, Dạ Xoa
bị coi là một ác ma, nên trong dân gian, người
Trung Hoa thường gọi người đàn bà
hung ác là Mẫu Dạ Xoa. Bộ 步
: Đơn vị đo chiều dài ngày xưa,
một bộ bằng năm xích, và một xích
bằng một phần ba mét, vậy một
bộ bằng gần hai mét. Xích
尺
: Đơn vị đo chiều dài của
Trung Hoa. Mười thốn là một xích, và 10 xích
bằng một trượng. Một xích bằng
1/3 mét. Khổng Tử 孔子
: Khổng Tử sinh năm 551 trước Công
Nguyên và mất năm 479 trước Công Nguyên. Ông là người cuối thời Xuân Thu,
vừa là một tư tưởng gia, chính
trị gia, giáo dục gia, đồng thời là
người sáng lập ra Nho Gia Học Phái, tên là
Khâu, tự là Trọng Ni, người Tưu
Ấp nước Lỗ (nay thuộc Khúc Ấp
tỉnh Sơn Đông). Tổ tiên của
Khổng Tử vốn là quư tộc nước
Tống, nhưng v́ loạn lạc phải
chạy sang nước Lỗ, đă nhiều
đời làm người nước Lỗ. Hồi trẻ, Khổng Tử chẳng
những nghèo, đến khi trưởng thành
được bổ nhiệm vài chức quan
nhỏ như Uỷ Lại, trông coi về thương
khố, và Thừa Điền, trông coi về súc
vật, từng theo học Vô Thương Sư,
theo truyền thuyết, Khổng Tử từng
hỏi Lư Đam về "lễ". Khổng
Tử cũng từng học nhạc với Trường
Hoằng, và học đàn với Sư Tương
, đến trung niên th́ lo việc dậy học
và sinh hoạt chính trị. Năm năm mươi tuổi, dưới
thời Lỗ Định Công, do chức Trung
Đô Tể được thăng làm Tư Không,
Tư Khấu, hành nhiếp công việc của Tướng
quốc. Sau v́ người nước Tề ly gián,
Khổng Tử bị Lỗ Định Công lănh
ngộ nên dẫn đệ tử dời nước
Lỗ, chu du các nước Vệ, Tống,
Trần, Sái, Tề, Sở nhưng không được
các nước này sử dụng. Đến năm
Lỗ Ai Công thập nhất niên, tức năm
484 trước Công Nguyên, ông trở về nước
Lỗ, hết ḷng lo việc dậy học và văn
hoá, chỉnh lư các sách cổ điển
"Thi", "Thư", và san tu lại sách
"Xuân Thu", cuốn sử của nước
Lỗ, trở thành một tác phẩm đầu
tiên thuộc loại biên niên thể của Trung
Quốc. Học sinh của ông rất đông,
được mệnh danh là "đệ
tử tam thiên, thất thập nhị hiền nhân弟子三千七十二賢
học tṛ có đến ba ngh́n người, và
bẩy mươi hai người hiền". Ông
lấy "Nhân 仁",
tức "Nhân ái 人愛",
t́nh yêu thương con người, làm ṇng
cốt cho học thuyết của ông, và là nguyên
tắc đạo đức tối cao, quyết
định, trong sự quan hệ giữa người
với người. Ông đề xướng
"khắc kỷ phục lễ", và cái đạo
"hiếu đễ", "trung thứ",
chủ trương "chính danh" và duy hộ
chế độ tông pháp đẳng cấp "
quân quân, thần thần, phụ phụ, tử
tử". Trong suốt hơn hai ngàn năm,
kể từ Hán Vơ Đế, Khổng Tử
được các nhà cầm quyền phong
kiến thống trị tôn thờ là thánh nhân, và
coi tư tưởng học thuyết của ông là
tư tưởng học thuyết chính thống
để cai trị dân, ảnh hưởng
cực kỳ sâu rộng. Sách "Luận
Ngữ", là sách kinh điển chủ yếu
để nghiên cứu về tư tưởng
của Khổng Tử. Tuy thế, năm 1974, Mao Trạch Đông v́
nhu cầu bảo vệ "Cuộc Cách Mang Văn
Hoá" chống lại phe dị kỷ đối
lập, phê chuẩn cho Vương Hồng Văn
và Giang Thanh, vận động phong trào " Phê Lâm
phê Khổng" trên toàn quốc, xếp Khổng
Tử ngang với Lâm Bưu để phê đấu,
và ảnh xạ Chu Ân Lai là "Hiện đại
nho gia", "Đảng nội đích đại
nho". Các tượng Khổng Tử bị
Vệ Binh Đỏ đập phá tan tành. Các
miếu thờ Khổng Tử bị tịch thâu
làm kho trữ thóc lúa. Kính nhi viễn chi
敬
而 遠 之: Nguyên cả câu là :" Kính quỷ
thần nhi viễn chi 敬
鬼
神
而
遠
之"
trong sách Luận Ngữ. Có nghĩa là kính
trọng quỷ thần th́ nên xa cách không nên
đế gần. Sau trở thành thành ngữ
"Kính nhi viễn chi" để biểu
thị thái độ đối với người
khác ḿnh kính sợ, hoặc không ưa thích, th́ nên
tránh, không nên thân cận, để khỏi mang
lỗi. Tả Truyện 左
傳: Một trong những kinh điển của
Nho gia. Nguyên gốc gọi là "Tả Thị Xuân
Thu 左
氏 春 秋"
hoặc "Xuân Thu Tả Thị Truyện 春
秋 左 氏 傳",
tương truyền là do sử quan nước
Lỗ là Tả Khâu Minh người cuối đời
Xuân Thu soạn ra. Tả Truyện là bộ biên niên sử
kế tục "Xuân Thu", bắt đầu
ghi chép từ năm Lỗ Ẩn Công nguyên niên,
tức năm 722 trước Công Nguyên,
chấm dứt vào năm Lỗ Điệu Công
tứ niên, tức nam 464 trước Công Nguyên,
tổng cộng 259 năm lịch sử, so với
"Xuân Thu" th́ dài hơn 17 năm. Tư tưởng
có phần tiến bộ, yêu nước, dân
bản. Văn chương ưu mỹ, kư sự
rơ ràng, nghị luận tinh tế, đề tài
rộng lớn, bảo lưu được
nhiều tài liệu sử cổ đại,
được coi là một bộ Trung Quốc
cổ đại sử và là một sáng tác văn
học trứ danh. Tả Truyện được
các học giả nhiều triều đại quan
tâm chú giả. Như Đỗ Dự đời
Tấn có "Xuân Thu Tả Thị Tập
Giải". Khổng Dĩnh Đạt đời
Đường có "Xuân Thu Tả Truyện Chính
Nghĩa", Hồng Lượng Cát có "Xuân
Thu TẢ Truyện Cổ". Tấn Cảnh Công
晉
景 公
: Theo Tả Truyện th́ đời Xuân Thu
Tấn Cảnh Công nằm mộng thấy
quỷ, đầu tóc rũ rượi đến
tận đất, dậm chân đấm bụng,
phá huỷ đại môn, tẩm môn,
rồi đi vào ngoại thất của
Tấn Ẩn Công. Bá Hữu 伯有
: Theo Tả Truyện th́ Lương Tiêu (良霄)
là Đại Phu nước Trịnh thời Xuân
Thu, tự là Bá Hữu, bị người sát
hại. Sau khi chết thuộc quỷ, mới báo
mộng cho người nước Trịnh
hẹn thời gian sẽ giết kẻ thù
của ḿnh, đến kỳ hẹn, quả nhiên
ứng nghiệm. Túc hạ 足下: Túc hạ là từ ngữ dùng để xưng hô người đối thoại với ḿnh, một cách trang trọng kính nể. Tương truyền từ ngữ này được sử dụng từ thời Xuân Thu, khi Tấn Văn Công , tức Công Tử Trùng Nhĩ gọi Giới Tử Thôi là túc hạ. Điển tích ghi rằng Công Tử Trùng Nhĩ cùng với Giới Tử Thôi trốn ở nước ngoài 18 năm;Giới từng phải cắt thịt đùi của ḿnh để cho Trùng Nhĩ ăn. Khi Trùng Nhĩ trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng các người cùng từng bôn ba với ḿnh, riêng Giới Tử Thôi không được phong ǵ hết, ông bèn làm một bài ca, Trùng Nhĩ thấy vậy mới bảo : -A!Ta thật có lỗi!Khanh tất phải được phong thưởng, đợi sáng mai vào triều ta sẽ ban tước và đất đai ở phía bắc Hà Đông cho. Nhưng Giới Tử Thôi đáp : -Thôi này nghe nói là đạo người quân tử, nếu phải nhờ xin sỏ mới có tước vị, th́ kẻ sĩ có ḷng ngay không làm. Phải đua tranh dành dật mới có của cải, th́ bậc liêm khiêm không cần. Rồi bỏ vào núi ở ẩn, Trùng Nhĩ phái người đến gọi, nhưng Thôi không chịu đi ra, bèn cho đốt rừng để mong Giới Tử Thôi phải sợ mà ra , Cuối cùng, Giới Tử Thôi nhất định ôm cây chịu chết. Trùng Nhĩ thương sót vô hạn, ra lệnh cho dân gian vào ngày 5 tháng 5 không được đốt lửa thổi cơm, rồi chặt cây làm guốc đi ở dưới chân, mỗi khi nh́n xuống guốc, lại than : -Bi hồ !Túc hạ. (Thương thay!túc hạ. ) Túc hạ ở đây chỉ Giới Tử Thôi. Đó là nguồn gốc của từ ngữ "túc hạ", đựơc xử dụng để xưng hô. Tư Pháp 司
法: Tư Pháp là tên gọi một
chức quan đời xưa, trông coi về h́nh
pháp. Dưới lưỡng Hán, các quận có viên
quan phụ tá gọi là Quyết Tào và Phú Tào
Duyện trông coi về h́nh pháp. Nhà Bắc Tề
gọi là Pháp Tào Tham Quân, ở châu th́ gọi là
Tư Pháp Tham Quân, tại huyện th́ gọi là Tư
Pháp. Nhà Tống ngoài Tư Pháp Tham Quân c̣n có Tư
Lư Tham Quân. Đến nhà Nguyên th́ bỏ. Dịch
Kinh (易
經): Dịch
易,
cũng gọi là "Chu Dịch", hay
"Dịch kinh", là
cuốn sách bói toán cổ xưa của người
Trung Hoa, có 64 quái 卦, ta thường gọi là
quẻ.
Mỗi quẻ chia làm 2 bộ phận trên và dưới.
Thượng quẻ có 3 hào爻. Hạ quẻ có ba hào,
cộng là 6 hào. Hào có hào âm và hào dương không
giống nhau. Quái th́ có quái từ 卦
辭
(lời của quẻ), hào có hào từ
爻
辭(lời
của của hào), cổ đại hào từ và quái từ
mông lung lờ mờ khó hiểu, và văn tự
lại giản đơn, Khổng Tử mới
nghiên cứu những quái từ và hào từ
rồi giảng giải tường tận, làm thành
tư tưởng triết học của Nho gia
để truyền thụ cho học tṛ. Những
lời giảng của Khổng Tử được
ghi chép, về sau được các người
chuyên môn về Dịch bổ sung gọi là
Dịch truyện 易傳, hay là Thập Dực 十翼. Tự 序,
tức tự quái 序卦,
giải thích ư nghĩa chung và thứ tự
của 64 mươi quẻ. Tượng 象,
tức tượng từ 象辭, là những câu luận đoán đại
ư của quái từ, rơ ràng hơn lúc nguyên
thủy, trong đó đại tượng 大象 căn cứ vào ư của quẻ
đưa ra những điều nên tránh.
Thuyết quái 說卦,
th́
tự thuật về sự biến hóa của bát quái 八卦(tức
tám quẻ chính). Văn Ngôn 文言,
chuyên giải thích những quái từ của hai
quẻ Càn và Khôn 乾坤; Dịch bao hàm những yếu tố
đơn sơ tự phát của tư tưởng
biện chứng pháp, đó là cái căn bổn
của triết học của Khổng Tử. Dịch được người Trung Hoa xếp vào trong lục nghệ là Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, và Xuân Thu. Cảm tưởng về thơ văn của anh Phạm Xuân Hy xin gởi về Japan_ob@yahoo.com |