PHÙNG HIỆP

    

 

Nguyên tác :    Dạ Đàm Tùy Lục  
Tác gỉa    :    Ḥa Bang Ngạch  
Bản dịch của :  Phạm xuân Hy

 

                                           Một ngọn đèn xanh lửa đóm, hắt hiu tranh sáng với loài ma

                                                  Bao phen dặm cát bụi hồng, tất cả khêu cười cho lũ quỷ

                                                                  Liễu Tuyền Cư Sĩ BỒ TÙNG LINH

   

Uông Cẩn, người Hoa Đ́nh, tuổi ngoài ngũ tuần, vẫn c̣n lao đao lận đận trên đường khoa cử. Sau nhiều lần lên kinh dự thí, nhưng chẳng đỗ đạt chi cả, tay trắng vẫn hoàn tay trắng, Cẩn đâm buồn chán, chỉ ở trong nhà, không muốn ra ngoài rong chơi.

Một hôm, gặp ngày gió thu man mác, Cẩn bỗng động niềm cố quận, bèn mua một con thuyền để xuôi Nam.

Trong khi chờ yết bảng, chàng cho buộc thuyền đậu ở mé tây huyện Vơ Thành ngày trước. Giữa lúc Cẩn đang buồn v́ cảnh chiều tịch mịch cô liêu, th́nh ĺnh Cẩn thấy có một đứa nô bộc chạy sồng sộc đến, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, đưa cho chàng một phong thư, nói :

-Ông chủ tôi là Phùng nhị quan, xin có thư bái yết !

Cẩn nh́n tấm danh thiếp, thấy đề mấy chữ, xưng là :

'' Hương quyến văn sinh Phùng Hiệp ''

Cẩn tự thấy ḿnh đă già, lại bần hàn, ngay cả người chí thân bè bạn có gặp trước mặt cũng chẳng thèm nhận, lẽ nào gă Phùng Hiệp này, b́nh sinh chàng chưa hề gặp, lại chủ động đến bắt thân với chàng. Hà huống lại ở nơi tha hương đất lạ. Càng không thể tin được.

V́ thế, Cẩn cho là có sự lầm lẫn, nên ba bốn lần từ tạ, không nhận tấm danh thiếp.

Đứa nô bộc nói :

-Vậy, chẳng hay công tử có phải quê ở Ṭng Giang, họ Uông không đấy ?

Cẩn đáp :

-Đúng thế , tôi họ Uông quê ở Ṭng Giang.

-Vậy th́ không thể lầm được !

Nói xong, hộc tốc chạy đi.

Khoảnh khắc th́ Hiệp tới. Áo quần rạng rỡ, mũ mạo chỉnh tề, tuổi tác vào khoảng ngoài tam tuần. Thoạt gặp Cẩn, Hiệp trịnh trọng khiêm tốn chắp tay vái chào, rồi lấy ra bốn tấm lụa Lộ Châu tặng cho Cẩn để làm lễ ra mắt , và tự giới thiệu :

-Đệ là người Sơn Tây, tính đi Dương Châu ghé thăm một người bạn làm Tuần Kiểm ở Thượng Quan Kiều . Nghe nói huynh cũng trở về Ṭng Giang, nên đến xin huynh cho quá giang. Chẳng biết huynh có dung nạp nhau chăng ?

Cẩn thấy Hiệp có vẻ đôn hậu, ăn nói thật thà chất phác. Bèn nhận lời. Hiệp bảo đứa nô bộc mang khăn gói hành lư để vào cuối khoang thuyền.

Đến tối cùng nhau ngồi đàm đạo, Cẩn mới hỏi :

-Huynh người miền Tây, c̣n đệ người miền Nam, v́ sao trên danh thiếp lại xưng là hương quyến với đệ ?

Hiệp đáp :

-Có điều huynh chưa rơ ! Tổ quán của đệ là người Ṭng Giang, sau ngày đỉnh cách, đến đời Thanh, mới thiên cư đến Sơn Tây huyện Phần Dương. Sở dĩ, trên danh thiếp, đệ tự xưng là đồng hương với huynh là để cho khỏi quên mất cái nguồn gốc cũ mà thôi.

Cẩn lại hỏi :

-Sao huynh không ra làm quan, để khỏi phí cái tuổi thanh xuân đi ?

Hiệp đáp :

-Làm quan cũng là có số cả. Không thể cưỡng cầu được đâu. Đệ từng bỏ ra rất nhiều vàng bạc để mua lấy một chức quan ty, cuối cùng cũng công toi. Mới đầu th́ c̣n ấm ức buồn phiền. Sau, dần dần hiểu ra. Chẳng phải ai cũng có thể muốn làm quan là được. Cứ như thân phận của đệ. Tài hoa th́ không bằng đầu mũi chỉ. C̣n khả năng th́ không quá một gang. Dầu có ra làm quan, bất quá cũng chỉ là người ngồi không ăn lương thôi, chẳng làm nên nổi sự nghiệp to tát ǵ. C̣n nói v́ nghèo mới ra làm quan để kiếm chác, th́ đó lại không phải sở nguyện của đệ, vả gia tư cũng phong phú giầu có. Nên nghĩ đi nghĩ lại, đệ đành làm một kẻ bố y b́nh dân thôi. Chẳng hay huynh có biết chuyện Giang Đông Độc Bộ Vương Thản Chi ngày xưa không?Giả sử cứ giữ chí đừng ra làm quan, th́ thanh danh thuở thiếu thời c̣n tồn tại măi, đâu đến nỗi phải cầm hốt ngược ḷi chuôi, để cho hậu thế chê cười.

Cẩn chán ngán thở dài :

-Huynh nói rất đúng. Có tiền hối lộ, mà c̣n chẳng làm quan được, huống hồ nghèo như đệ không có tiền hối lộ, lại không chịu để bị đời bịp, liệu có được không ?

Hiệp nói :

-Đạo lư mỗi ngày một suy vi. Hễ có sự canh biến thuyên chuyển, lần đầu th́ c̣n ủy thác gửi gấm được. Đến lần sau, nếu không hối lộ không xong. V́ thế, người công chính ngay thẳng bị bỏ rơi nơi thôn dă, đứa nha dịch ti tiện được đề bạt vào làm quan trong triều. Bậc liêm khiết bị truất phế, kẻ tham ô gian nịnh được thăng thưởng. Thậm chí, vua mua chuộc bầy tôi, bầy tôi mua chuộc vua. Bậc hiền giả c̣n bị biến chất, nói chi đến người thường.

Cẩn nghe những lời luận bàn thâm sâu xác đáng của Hiệp, rất lấy làm bội phục. Nỗi buồn chán u ẩn chất chứa trong ḷng bấy lâu, nhất thời tiêu tan đi hết.

Từ đấy, hai người sáng chiều gặp nhau, t́nh ư rất là tương đắc.

Một hôm, thuyền đến địa giới huyện Hoài An, gặp ngày rằm tết Trung thu, khí trời mát mẻ, Cẩn ra chợ mua rượu thịt về mời Hiệp cùng đánh chén, thưởng trăng. Đến lúc rượu ngà ngà say, Hiệp th́nh ĺnh nâng chén rượu lên, cảm khái đọc một câu thơ của Lục Cơ đời Tam Quốc lúc bị hại :

Hoa Đ́nh hạc lệ, khả phúc văn hồ ?

Cẩn không hiểu rơ ư của Hiệp, nhân mới hỏi :

-Người bạn của huynh làm quan Tuần Kiểm, gia cảnh hẳn là thanh bần kham khổ. Huynh vừa đi vừa về mất cả mấy ngàn cây số, chẳng hóa ra vô ích sao ?

Hiệp nghe hỏi , chỉ im lặng không nói. Mt lúc sau mới đặt chén xuống bàn, buông tiếng thở dài năo nuột , nói :

-Mấy tuần nay, cảm ơn huynh hậu đăi. Đệ đă mấy lần muốn đem ḷng thành bầy tỏ cho huynh rơ , nhưng lại e làm huynh sợ hăi, nên cứ ẩn nhẫn không nói. Nay huynh đă hỏi, chẳng đành dấu diếm được nữa. Gă họ Trần, làm quan Tuần Kiểm ở Thượng Quan Kiều ấy, tuy là bè bạn, nhưng thực ra kẻ thù. Cách nay mười ba năm, đệ đem một ngàn tấm vải Tô Châu đi bán. Đến trấn Nhẫm B́nh, đệ ngụ chung với Trần trong một lữ quán. Hôm ấy gặp ngày mưa to lũ lụt, đường xá không đi lại được, thương khách đều phải trọ lại trong quán. Trần cùng một số người khách bèn mở cuộc đổ bác đỏ đen. Chỉ một đêm, Trần thua sạch túi, lại c̣n nợ người ta hơn một trăm lạng nữa, không vay mượn được ai mà trả, bị chủ nợ chửi bới lăng nhục thậm tệ. Đệ thấy thế, thương t́nh, bỏ tiền ra trả nợ hộ. Việc mới yên. Lại cho thêm hai chục lạng để làm lộ phí. Lúc bấy giờ, Trần tỏ ra mang ơn rất mực, dù phải tan xương nát thịt để báo đền. Sau đấy Trần bảo với đệ :

-Em ở nhà c̣n có cha mẹ già, mà không sao nuôi nổi, muốn bỏ tiền theo lệ triều đ́nh mua một chức quan nhỏ, ngặt trong túi không c̣n một xu. Anh là người trọng nghĩa khinh tài, liệu có thể giúp em năm trăm lạng nữa được không ?Nếu sau này được tuyển bổ, em xin hậu báo, không quên.

Thấy hắn có vẻ là người con hiếu thảo, đệ vui vẻ đồng ư nhận lời ngay. Lúc đó đệ thật là hồ đồ, nên chẳng bảo hắn làm giấy tờ ǵ cả. Năm năm sau, đệ đem hàng trở lại kinh sư bán, nghe tin Trần được bổ vào một chân quan khuyết ở Dương Châu, chưa làm xong thủ tục, c̣n chờ tin tức ở ngoài cửa Tuyên Vơ. Trong ḷng đệ lấy làm mừng cho hắn, vội vă đến thăm, chứ chẳng nghĩ ǵ đến chuyện nợ nần. Ai ngờ, hắn lấy cớ là đi vắng, từ chối không tiếp. Đệ trở lại hai ba lần nữa, hắn mới miễn cưỡng tiếp , nhưng tỏ ra lănh đạm, kiêu căng.

Cẩn nghe Hiệp kể, nổi cơn tức giận đến ḷi con mắt, than :

-Ḷng người khó lường đến thế là cùng !

Hiệp lại nói :

-Đệ nghĩ chẳng phải tại ḷng người khó ḍ đâu, mà tại bọn ḿnh quá thực thà, chân thật, đem ḷng quân tử đăi bụng kẻ tiểu nhân mà thôi. Huynh hẳn chưa nghe chuyện ''Con lang ở trong núi'' à ?

Cẩn đáp :

-Có, đệ có nghe. Đệ cũng đă vốn ghét cái bọn vong ân phụ nghĩa từ lâu. Bọn người như chúng, huynh nên đ̣i lại tiền, rồi cắt đứt không giao thiệp ǵ với hắn nữa, đường ai nấy đi là xong.

Hiệp nói :

-Đệ suy kỹ lại, cơn nóng bốc lên, đ̣i hắn trả lại món nợ . Hắn chẳng những không trả, lại c̣n buông những lời tục tĩu, rủa đệ là đồ vô lại. Đệ phẫn hận, cùng hắn căi cọ phải trái , đâu phải v́ tiếc món tiền nợ, chỉ v́ giận hắn quá bạc bẽo. Hắn c̣n âm hiểm, giảo trá, ngậm máu phun người như loài quỷ vực, mua chuộc bọn phường khóm, ỷ quyền cậy thế, bắt đệ đưa đến nha môn. Đệ không có bằng cớ nào để chứng minh, quan phủ lại chỉ nghe lời hắn, cho đệ là bịa đặt để lấy tiền của người, rồi tống giam đệ vào ngục, đánh đập tra khảo bắt phải nhận tội. Đệ chịu không nổi những nghiêm h́nh kéo dài tàn khốc, mà phải chết trong ngục thất tha hương lạnh lùng. Oan hồn không tiêu tán được, mới đến Diêm La Điện cáo án, được Diêm Vương thương t́nh hoàn huyết. May, lại được huynh cho đi theo về Dương Châu, nếu sau này trả được mối thù, nguyện xin kết thảo hàm hoàn, báo đáp ơn sâu !

Cẩn nghe kể, ḿnh nổi gai ốc, lạnh toát cả người, hỏi :

-Vậy ra huynh là ma, chứ không phải là người !

Hiệp đáp :

-Vâng, xin cứ ra chỗ đèn sáng trăng soi mà nghiệm th́ sẽ rơ !

Nói xong, Hiệp đi ra chỗ có ánh trăng. Quả nhiên, Cẩn chẳng thấy một h́nh tích nào của Hiệp cả. Cẩn sợ quá, mồ hôi toát ra, ướt đầm áo, ngồi ngây người như gà gỗ, mặt xám ngắt như tro.

Hiệp thấy thế, an ủi :

-Xin huynh đừng có sợ!Ma hay  Quỷ cũng như người vậy thôi. Có nhiều loại lắm. Nào là Câu Hồn  Quỷ, Sách Mệnh  Quỷ, Sắc  Quỷ, Ngạ  Quỷ, Oan Khuất  Quỷ vân vân. Đệ thuộc loại Oan Khuất  Quỷ, chỉ cần báo cừu tuyết hận, xong lại trở về dương thế, không hề làm hại người ta. Vả, huynh đối đăi tốt với đệ hậu như thế này, lẽ nào lại hại huynh sao ?

Một lúc lâu sau, Cẩn mới hơi hoàn hồn. Tuy thế , Cẩn cả ngày vẫn cứ áy náy, nóng ḷng như ngồi phải lửa, cùng Hiệp trông ngóng ra ngoài.

Chừng thuyền đến Dương Châu, Hiệp mới buồn rầu bảo Cẩn :

-Từ đây xin tạm biệt với huynh. Nhưng đă có duyên ắt c̣n ngày sẽ gặp lại nhau . Đệ vốn biết huynh với quan thái thú Dương Châu là chỗ cố giao, ngày mai huynh có đến thăm, nhờ huynh thay đệ nói h nỗi oan khuất của đệ , đừng để cho đứa vong ân phụ nghĩa, lấy ân trả oán, lấy danh nghĩa thanh liêm mà lừa dối thiên hạ nữa.

Nói xong, chắp tay vái từ biệt Cẩn, rồi ra đi. Cẩn cũng cảm động, bụng buồn bă, đưa tiễn Hiệp xuống thuyền, và chỉ đứa nô bộc của Hiệp hỏi :

-Thế thằng bé đày tớ này của huynh cũng là ma à ?

Hiệp đáp :

-Đệ đă là ma, th́ lẽ nào đày tớ lại là người được. Thằng bé này đệ bỏ năm ngàn quan mua nó ở dưới cơi âm đấy. Nó cũng là người đồng hương với huynh, con gă Lư Tứ bán giầy vớ ở cửa Nam thị trấn Ṭng Giang đấy mà !

Sau khi hai thầy tṛ Hiệp ra đi, Cẩn mới yên ḷng, nhưng tính vốn kín đáo, nên thủ khẩu như b́nh, không hề hé môi thuật lại một lời. V́ thế, cả thuyền không một ai biết ǵ về câu chuyện đă xẩy ra trên đây.

Ngày hôm sau , Cẩn vào thăm người bạn cũ là viên Thái Thú Dương Châu, được Thái Thú mời ở lại uống rượu hàn huyên, cùng nhau ôn lại chuyện cũ. Giữa lúc hai người rượu đang cao hứng, th́nh ĺnh viên tiểu tốt gác cổng vào thông báo là viên Tuần Kiểm họ Trần ở Thượng Quan Kiều, đêm qua bất ngờ bị bạo bệnh qua đời.

Thái Thú kinh ngạc, nói :

-Viên Tuần Kiểm này thường ngày vẫn mạnh khỏe, sao bỗng dưng lại chết bất đắc kỳ tử như thế ?

Cẩn thở dài :

-Có oan có báo, có thù có trả , âm hay dương cũng đều như thế cả, lẽ trời há dám xem thường được sao !

Nhân thế mới đem chuyện oan hồn của Hiệp theo thuyền xuống Dương Châu để trả thù, nhất nhất thuật lại cho viên Thái Thú nghe.

Thái Thú nghe xong, chỉ há mồm trợn mắt ngạc nhiên, không nói năng ǵ.

Sau này, đến sưu tra nhà cuả Trần, viên Thái thú tịch thâu được một ngàn hai trăm lạng, trong ḷng lấy làm tức giận Trần là người bất chính, bèn tặng hết cho Cẩn.

Cẩn về quê nhà, thăm ḍ hỏi han nhiều lần, quả nhiên t́m được gia đ́nh Lư Tứ , có đứa con trai mười lăm tuổi chết cách đây đă hai năm.

Tướng mạo h́nh dạng trông hệt đứa đày tớ của Hiệp.

(Dịch xong 2 giờ đêm )

  _______________________________________________________________

 

Vài nét về tác giả:

Ḥa Bang Ngạch (和 邦 额)

Tác giả « Dạ Đàm Tùy Lục » là Ḥa Bang Ngạch, tự là Nhàn Trai, hiệu là Tễ Viên Chủ Nhân, người Măn tộc, sinh khoảng năm Càn Long nguyên niên, tức năm 1736, chết năm nào không rơ. Cuộc đời của ông chu du nhiều nơi, từ Thiểm Tây , Thanh Hải, Cam Túc, Triết Giang, Phúc Kiến, Kinh đô đều có lưu lại dấu chân ông. Ông lại là người có kiến thức rộng, thích thâu thập những truyện dân gian kỳ lạ. Ông là một tiểu thuyết gia nổi tiếng vào đời nhà Thanh.

Dạ Đàm Tùy Lục, gồm có 12 quyển, 160 đoản biên tiểu thuyết, viết theo lối văn ngôn. Nội dung tuy là các chuyện nói về ma, quỷ, chồn tinh, yêu quái, nhưng phản ảnh xà hội hủ bại đương thời, chỉ trích các thế lực gian tà hắc ám, đề cao chân thiên mỹ , ca tụng những mối t́nh trai gái thủy chung. Các nhân vật thần tiên, quỷ quái, thư sinh, kỹ nữ. . . đều được tác giả mô tả rất sinh động như sống thật, văn phong trong sáng.

Trong lịch sử văn học Trung Quốc, Dạ Đàm Tùy Lục chiếm một địa vị quan trọng, và được vinh dự coi là Liêu Trai Trí của Măn tộc.

Một số truyện trong Dạ Đàm Tùy Lục đă được chúng tôi tuyển dịch và in trong Hâu Liêu Trai và Thiếp Bạc Mệnh. trước đây.

 

Vài hàng chú thích :

Hương quyến văn sinh Phùng Hiệp (鄕 眷 晚 生 冯 勰)

Câu này bày tỏ ư nhún nhường , khiêm xưng đối với người khác, ư như nói « Kẻ đồng hương sinh sau đẻ muộn là Phùng Hiệp »

 

Đỉnh cách (鼎 革) :

Đỉnh Cách là tên một quẻ trong Kinh Dịch, có nghĩa bỏ cái cũ lấy cái mới, sau chỉ việc thay đổi triều đại , trong câu này ư nói nhà Thanh lên thay thế nhà Minh ở bên Tàu.

Ở ba triều đại, Hạ, Thương, Chu, « đỉnh » được coi báu vật của quốc gia, tượng trưng của chính quyền. Quốc gia bị diệt tắc đỉnh bị thiên di. Nên trong văn chương khi nói đến việc thiết lập một chính quyền, xác đinh quốc đô, th́ bảo là « định đỉnh ». C̣n biểu thị cái ư muốn soán đoạt ngôi vua th́ bảo là « vấn đỉnh » « quan đỉnh ». Quốc gia bị loạn lạc th́ gọi là « luân đỉnh ». Thay đổi triều đại, th́ gọi là « thiên đỉnh » hay « di đỉnh ». C̣n nói chính quyền nhà Chu th́ gọi là « Chu Đỉnh »

 

Bố y (布 衣) :

Y phục được chế bằng ma bố (vải gai) hoặc bằng cát bố (vải đay) gọi là bố y. Nước Tàu thời cổ , trước khi có việc chuyển nhập bông vải vào, vật liệu chức phẩm làm quần áo là gai, đay, và tơ . Thông thường th́ chỉ có quư tộc và quan viên được mặc y phục dệt bằng tơ, c̣n giới b́nh dân th́ mặc quần áo bằng vải gai, vải đay, gọi chung là bố y. V́ thế, bố y trở thành từ ngữ chỉ người b́nh dân.

Lư Tư , trong "Sử Kư -Lư Tư Liệt Truyện" của Tư Mă Thiên, bị gọi một cách khinh thị là ''Thượng Sái bố y, lư hạng chi linh thủ 夫 斯 乃 上 蔡 布 衣 閭 巷 之 齡 首'' -dân áo vải đất Thượng Sái, kẻ đầu đen trong xóm ngơ- tức kẻ b́nh dân. Sau Lư Tư làm thừa tướng nước Tần.

Bố y, c̣n chỉ người học tṛ lúc tay trắng nghèo, chưa hiển đạt.

 

Lục Cơ (陸 機) :

Lục Cơ là văn học gia, trứ danh đời Tây Tấn, người Hoa Đ́nh , Ngô Quận (nay là huyện Ṭng Giang, thành phố Thượng Hải), xuất thân thế gia đại tộc. Lúc c̣n trẻ, ông từng nhậm chức Nha Môn Tướng dưới triều Ngô . Sau khi Ngô bị diệt vong, ông không ra làm quan trong ṿng mười năm.

Năm Thái Khang đời Tấn Vơ Đế, ông cùng em là Lục Vân đến Lạc Dương, tiếng tăm vang động một thời.

Ông làm quan nhà Tây Tấn trải qua các chức Thái Tử Tẩy Mă, Trứ Tác Lang, Trung Thư Lang, rồi làm B́nh Nguyên Nội Sử, nên người đời gọi là Lục B́nh Nguyên.

Năm 303 ông vâng lệnh Thành Đô Vương đem quân thảo phạt Trường Sa Vương, thất bại, bị dèm pha, rồi bị Thành Đô Vương giết.

Khi ra pháp trường ông có than rằng : « Dục văn Hoa Đ́nh Hạc Lệ, khả phúc đắc hồ ! » (Nay có muốn được nghe lại tiếng hạc kêu ở Hoa Đ́nh quê nhà, đâu c̣n được nữa). Hậu thế dùng điển tích này để bầy tỏ cái ư nuối tiếc đă ra làm quan để rồi gặp tai nạn, hoặc bầy tỏ cái t́nh nhớ quê hương, và quyến luyến nhân sinh.

Hoa Đ́nh Hạc Lệ ( 亭 鶴 唳 ) :

Coi chú thích Lục Cơ ở trên.

 

Tuyên Vơ (宣 武) :

Tức Tuyên Vơ Môn. Cựu thành Bắc Kinh ngày xưa có chín cửa. cửa này nằm ở phía nam. Nhà Nguyên gọi là Cửa Thuận Thừa, đến năm Chính Thống tứ niên (tức năm 1439) đời Minh Anh Tông mới đổi là Tuyên Vơ, tục gọi là Thuận Trị Môn.

Diêm Vương (閻 王) :

Trong thần thoại cổ Ấn Độ , Diêm Vương c̣n gọi là Diêm La, Diêm LaVương, Diêm Ma Vương, là vị vua trông coi âm gian. Đạo Phật sử dụng thần thoại này coi là Ma Vương cai quản địa ngục. Theo truyền thuyết, thuộc hạ của Diêm Vương có 18 vị Phán Quan, chia ra cai quản 18 tầng địa ngục, trông coi các sổ sinh tử của người trần gian.

Diêm Vương được dịch ư từ chữ Phạn Yamarăjă.

 

Kết thảo hàm hoàn (結 草 銜 瓌) :

Có nghĩa như đền ơn đáp nghĩa.

Thành ngữ này rút từ hai điển tích là :

1-Kết thảo báo Ngụy.

2-Hoàng tước hàm hoàn.

-Kết thảo báo Ngụy.

Thời Xuân Thu, quan Đại Phu nước Tấn là Ngụy Vơ Tử, có người ái thiếp là, chưa có con, khi bắt đầu bệnh, Vơ Tử dặn con trai là Ngụy Khỏa rằng : « Sau khi ta chết, th́ cho bà ấy cải giá ». Đến lúc bệnh nguy kịch lại dặn là : « Sau khi ta chết, th́ cho bà ấy tuẫn táng theo ta ».

Khi Ngụy Vơ Tử chết, Ngụy Khỏa cho người ái thiếp ấy được cải giá, và giải thích là tuân theo ư của cha ḿnh lúc c̣n tỉnh táo.

Sau này, Ngụy Khỏa đánh nhau với viên tướng nổi tiếng của Tần, là Đỗ Hồi, Ngụy Khỏa thấy có một ông già dùng cỏ kết thành giây, ngáng trở chân ngựa của Đỗ Hồi, làm Đỗ Hồi té và vị bắt.

Ban đêm , Ngụy Khỏa nằm mộng thấy ông già ấy đến bảo : « Lăo là cha người đàn bà mà ông đă cho cải giá, mà không bắt phải tuẫn táng, lăo đến để tạ ơn.

-Hoàng tước hàm hoàn.

Theo truyền thuyết, Dương Bảo người đời Hán, lúc chín tuổi, đến chơi núi Hoa Âm thấy con chim hoàng tước bị chim si kiêu , đánh bị thương rơi ở gốc cây, lại c̣n bị kiến bâu vào chỗ bị thương, nên động ḷng trắc ẩn, , bèn đem về nhà cho vào lồng nuôi dưỡng, lấy hoa vàng cho ăn. Sau một trăm ngày, con hoàng tước khỏi, lông cánh mọc đầy, cứ sang bay đi chiều bay về. Vài ngày sau th́ bay đi luôn.

Một tối, vào khoảng canh ba, Bao đang ngồi đọc sách, bỗng thấy có một đồng tử mặc áo màu vàng đến vái chào, nói : « Tôi là sứ giả của Tây Vương Mẫu, nhân xuất sứ Bồng Lai, giữa đường bị chim Si Kiêu làm hại, may nhờ ḷng nhân ái của ông cứu giúp, ḷng thật cảm kích vô cùng ». Nói xong lấy bốn cái ṿng bạch ngọc tăng cho Bảo, rồi nói : « Kính chúc con cháu ông sau sẽ liêm khiết trong trắng như bốn chiếc bạch ngọc này, và làm quan đến Tam Công.

Quả nhiên, con cháu bốn đời của Dương Bảo đều làm đến đại thần.

 

Thái thú (太 守 ) :

 Tên gọi một chức quan.

-Nhà Tần đặt chức Quận Thú, trông coi mọi việc cai trị.

-Đến đời Cảnh Đế nhà Hán th́ đổi Quận Thú là Thái Thú, là vị quan đứng đầu coi việc hành chánh, trật nhị thiên thạch. ( Thái Thú đầu tiên của quận Giao Chỉ là Thạch Đới, do Hán Vơ Đế phái đến, và Thái Thú nổi tiếng là tàn ác là Tô Định, bị hai Bà Trưng đánh đuổi về Tầu)

-Đời nhà Tùy đổi quận ra là châu, đặt quan Thứ Sử đứng đầu coi một châu.

-Đời Đường lại đổi châu thành quận, th́ vị trưởng quan là Thái Thú. Sau đó lại đổi là châu, th́ lại gọi là Thứ Sử.

-Đời Tống đổi quận làm phủ hoặc là châu, v́ thế cũng gọi là tri phủ, hay tri châu, là thái thú.

Trung sơn lang ( ) :

Trong văn thơ cổ điển của Trung Quốc, người ta thường dùng từ ngữ "trung sơn lang -Con lang ở trong núi Trung Sơn", để chỉ kẻ vô ơn bạc nghĩa.

Theo "Trung Sơn Lang truyện" của Mă Trung Tích th́ Triệu Giản Tử đi săn ở núi Trung Sơn, bắn trúng một con lang, lang đào tẩu chạy trốn, Triệu Giản Tử đuổi theo bắt, bấy giờ Đông Quách Tiên Sing đi qua, con lang van xin cầu cứu. Đông Quách Tiên Sinh động ḷng từ bi, bỏ con lang dấu vào trong cái túi đựng sách, để che dấu Triệu Giản Tử, nhờ thế con lang thoát chết. Con lang được sống, chẳng những không tạ ơn cứu mệnh, trái lại c̣n muốn ăn thịt Đông Quách Tiên Sinh.

Dương Châu ( ):

Dương Châu là một thành phố thuộc tỉnh Giang Tô, nằm ở trung bộ tỉnh Giang Tô ngày nay.

-Thời Xuân Thu năm 486 trước CN , Ngô Vương Phù Sai bắt đầu đào Hàn Câu và xây dựng

Hàn Thành ở đây . Đến nhà Tần th́ đặt huyện Quảng Lăng, thuộc quận Cửu Giang. Sau đó trở thành trị sở của quốc, quận, châu, và phủ.

-Năm 558 CN nhà Tùy bỏ quận, đặt ra châu, mới bắt đầu có tên là Dương Châu. Tùy Dạng Đế ba lần đến Giang Đô, khai thông Tế Cừ, và Hàn Câu , nên từ Trường An đến Giang Đô, lập hơn 40 ly cung.

-Đời nhà Đường, Dương Châu trở nên một trung tâm thương mại lớn nhất toàn quốc. Nhà thơ Đỗ Mục , thời Văn Tông , là mộ liêu của Ngưu Tăng Nho ở Dương Châu, từng có bài thơ , nuối tiếc cảnh phồn vinh đô hội ở đây. Sau trải qua nhiều cuộc chiến tranh, Dương Châu bị tàn phá.

-Nhà Minh thương nghiệp và thủ công nghiệp lại phát triển, năm Gia Tĩnh tam thập tứ niên , tức 1555 CN, ở phía tây của cựu thành cho xây cất thành tường, và đặt tên là Tân Thành.

-Đến nhà Thanh, nhân v́ nơi đây là trung tâm vận chuyển đường thủy, chuyên trở lương thực, và ngành buôn bán muối, nên Dương Châu lại trở nên phồn thịnh sầm uất. Các hoàng đế nhà Thanh như Khang Hy, Càn Long nhiều lần xuống miền nam và đến Dương Châu.

Dương Châu từ cổ nổi tiếng có nhiều vườn cây đẹp, là nơi tụ tập của nhiều bậc danh gia, anh tài, với nhiều di tích văn hóa, lịch sử. , như các lăng mộ nhà Hán , Đại Minh Tự, B́nh Sơn Đường, Sấu Tây Hồ, Tam Chúc Am, Tiên Hạc Tự v. v. . .

___________________________________________________________________________

Cảm tưởng về thơ văn của anh Phạm Xuân Hy xin gởi về  pxhy@erct.com