VÀI HÀNG TIỂU SỬ

TRA LƯƠNG DUNG (Kim Dung)

 查 良 鏞

 PHẠM XUÂN HY

Kim Dung tên là Tra Lương Dung, xuất thân từ dòng họ Tra, một dòng họ nổi tiếng là thư hương môn đệ, đã nhiều đời cư ngụ Viên Hoa Trấn ở huyện Hải Ninh tỉnh Chiết Giang. Ông là  hậu duệ của Tra Thận Hành, một thi nhân nổi tiếng thời Khanh Hy, và Tra Y Hoàng, một người từng được Bồ Tùng Linh trong Liêu trai Chí Dị khen ngợi là « ban ơn nhiều cho người ta mà không cần cho biết tên, thật là chân hiệp sĩ, cổ trượng phu ».

Cha ông là Tra Xu Khanh , năm 1950 bị Trung Cộng kết tội là phản động và bị xử tử.

Ông là nhà văn có nhiều đọc giả nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc hiện đại, và truyện của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Ở Việt nam, trước 1975, hầu hết các báo hàng ngày đều đua nhau dịch truyện Kim Dung để câu khách. Độc giả của ông có đủ thành phần, từ trí thức đến bình dân. Có nhiều nhà văn vì hâm mộ Kim Dung, còn dùng tên những nhân vật trong tiểu thuyết của ông làm bút danh, như Đoàn Dự, Kiều Phong (hay Tiêu Phong), Vương Trùng Dương…

Kim Dung chào đời ngày 10-3-1924.

Năm lên sáu tuổi ông vào học tiểu học ở trường làng.

Năm lên tám tuổi, ông lần đầu đọc tiểu thuyết võ hiệp, khi đọc đến bộ truyện Hoang Giang nữ hiệp荒 江女俠 của Cố Minh Đạo, cảm thấy rất say mê, từ đó thường sưu tầm tiểu thuyết thể loại này .

-Năm 1936, Kim Dung  dời gia đình lên Gia Hưng để vào sơ trung.

-Năm 1937, khi quân Nhập xâm lăng Trung Quốc, vì chiến tranh Kim Dung phải di chuyển theo trường học đến Dư Hàng, Lâm An, Lệ Thủy.

-Năm 1941 Kim Dung viết bài chế diễu viên chủ nhiệm huấn đạo là đầu hàng chủ nghĩa trên một tờ bích báo, nên bị đuổi ra khỏi trường học, nhưng được hiệu trưởng  bà Trương Ấn Thông giới thiệu đến học ở Cù Châu.

-Năm 1942, Kim Dung tốt nghiệp Trung Học ở Cù Châu.
-Năm 1944, Kim Dung thi vào học Ngoại Giao tại trường Trùng Kháng Trung Ương Chính Trị Đại Học, nhân bất mãn với học sinh đảng viên ở trong trường nên tố giác với ban giám học, nên lại bị đuổi học. Sau theo lớp huấn luyện ở thư viện trung ương, được đọc một số lớn sách vở.

-Năm 1945, cuộc kháng chiến chống Nhật thắng lợi, Kim Dung từng tạm thời làm ký giả cho báo " Đông Nam Nhật Báo ".

-Năm 1946 Kim Dung đến Thượng Hải theo học lớp luật Quốc tế ở trường Đông Ngô Đại Học Pháp Học Viện, năm sau tốt nghiệp.

-Cũng vào năm 1946, Kim Dung làm phiên dịch cho báo « Đại Công Báo » ở Thượng Hải, năm 1948 được điều đến phân xã ở Hồng Kông.

Năm 1950, Kim Dung đến Bộ Ngoại Giao Trung Cộng ở Bắc Kinh đến xin làm, nhưng bất mãn với chính sách ngoại giao của Trung Cộng, thì lại quay lại làm cho tờ « Đại Công Báo » phụ bản.

-Năm 1952 Kim Dung được điều đến làm biên tập phụ bản tờ « Tân Văn Báo » ; ông viết các kịch bản điện ảnh như « Tuyệt Đại Giai Nhân », « Lan Hoa Hoa ».
Trong thời gian này ông quen và làm bạn với tiểu thuyết gia võ hiệp là Lương Vũ Sinh tác giả “Bạch Phát Ma Nữ“. Lúc bấy giờ Tổng Biên Tập là La Tranh của tờ báo, sắp xếp để Lương Vũ Sinh viết truyện võ hiệp « Long Hổ Đấu Kinh Hoa », còn Tra Lương Dung dưới bút danh Kim Dung  viết truyện « Thư Kiếm Ân Cừu Lục », tiếng tăm vang dội. Nhất thời Kim Dung được tề danh ngang cùng với Lương Vũ Sinh.

-Năm 1956 đăng suốt năm truyện "Bích Huyết Kiếm» trên tờ « Hương Cảng Thương Báo ».

-Năm 1959, Kim Dung tự đứng ra làm tờ Minh Báo, đăng liên tiếp truyện « Thần Điêu Hiệp Lữ » .

Dưới bút danh Lâm Hoan, từ năm 1953 đến năm 1958, Kim Dung từng viết kịch bản cho « Trường Thành Điện Ảnh Công Ty », trong đó có « Tuyệt Đại Giai Nhân » được giải vàng của Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Văn Hóa Bộ ». Cũng từng hợp tác làm đạo diễn hai bộ phim. Hợp tác với Trùng Thiệp Cao làm phim « Hữu Nữ Hoài Xuân ».

-Năm 1959, Kim Dung sáng lập tờ Minh Báo ở Hương Cảng, sau ra thêm các tờ « Minh Báo Vãn Bao », « Minh Báo Nguyệt san », « Minh Báo Chu San », và tờ « Tân Minh Báo Nhật Báo » ở Mã Lại Tây Á. Kim Dung hoàn thành việc thành lập Minh Báo Xuất Bản Công Ty và Minh Sơn Xuất Bản Xã.

Tập đoàn Minh Báo của Kim Dung doanh thâu năm 1991 lên đến một ức quan. Sau khi tập đoàn Minh Báo ở Hương cảng ra đời, ông dời bỏ công việc quản lý báo, đi chu du các nước, tĩnh tâm, nghiên cứu kinh điển. Tên ông được liệt thứ 64, vào danh sách các Hoa nhân tỷ phú, giầu có hàng trăm triệu ở Hương Cảng, trở thành  nhà văn điển hình giầu có .

Trên Minh Báo ông là người vừa viết tiểu thuyết vừa viết bình luận. Người ta còn nhớ, năm 1960 khi ngoại giao giữa Trung Cộng và Nga Sô bị xấu đi. Việc an toàn của Trung Cộng không có gì bảo đảm, và toàn diện bị uy hiếp, Trung Cộng khai triển tích cực nghiên cứu  hạch tâm, võ khí nguyên tử.

-Năm 1963, Trần Nghị, Bộ Trưởng Ngoại Giao của Trung Cộng, từng đề xuất « Hạch Khố Luận », và nói : « Dù có đóng khố cũng phải tạo nguyên tử ».

-Thì năm 1964, Kim Dung viết vài bình luận trên Minh báo là :“Cần có khố mặc chứ không cần nguyên tử », phản đối chế tạo nguyên tử trong khi đất nước còn nghèo đói. Thế là Kim Dung bị các báo Trung Cộng như « Đại Công Báo », « Văn Nhai Báo », « Tân Vãn báo » lên tiếng phản đối cho Kim Dung là « Phản Cộng Phản Hoa », « Sùng bái Anh Mỹ », « Bội phản lập trường dân tộc ». Cuối cùng Trần Nghị phải ra mặt chế chỉ sự công kích của phe tả phái. Mặc dầu, hệ thống Minh Báo không phải là loại báo quá khích, nhưng trong thời kỳ cuộc Cách Mạng Văn Hóa bạo phát, Kim Dung và Minh Báo công khai giữ thái độ chống đối . Những bài viết của Kim Dung thường chống lại với Văn Cách. Cụ thể là nhắc đến những công tích của Bành Đức Hoài, cho kịch phẩm « Tạ Dao Hòan » của Ngô Hàm là đúng. Kim Dung bị các phần tử tả phái ở Hương Cảng nhục mạ « Hán Gián », « Tẩu Cẩu », « Sài Lang Dung », thậm chí còn bị đe dọa giết chết, nên có thời kỳ Kim Dung phải dời Hương Cảng để ty nạn.

-Năm 1973, Kim Dung được Trung Hoa Dân Quốc mời sang Đài Loan, đến gặp Tưởng Kinh Quốc.

Sau khi cuộc Văn Hóa Đại Cách Mạng kết thúc, khoảng năm 1981 đến 1984, Kim Dung có đi thăm lục địa, và từng đàm luận với Đặng Tiểu Bình và Hồ Diệu Bang.

-Đến năm 1985,“Hương Cảng Đặc Biệt hành Chánh Khu Cơ Bản  Pháp Khởi Thảo Uỷ Viên Hội“ tuyên cáo thành lập, Kim Dung được chọn là một trong những ủy viên, đứng về phía Hương Cảng, là thành viên phụ trách « Cơ Bản Pháp Chính Trị Thể Chế Khởi Thảo Tiểu Tổ »

Kim Dung cùng với Tra Tế Dân đề xuất  một phương án gọi là « Chính Chế Hiệp Điệu Phương Án » để bàn cãi. Đối với thời bấy giờ thì phương án này bị coi là bảo thủ, làm cản trở tiến trình dân chủ, nên không được Hương Cảng ủng hộ.

-Năm 1991, Minh Báo Công Ty ra đời, Kim Dung làm Giám Đốc Công Ty.

-Năm 2005, Kim Dung đã 81 tuổi dời Hương Cảng đến trường Đại Học Cambrige ở Luân Đôn học và đậu bằng Thạc sĩ về lịch sử.

-Năm 2010 Kim Dung còn làm luận án tiến sĩ ở trường đại Cambridge ở Luân Đôn.

Bút danh Kim Dung của ông là từ chữ Dung 鏞 tách ra thành hai chữ  金 kim và 庸dung. Chữ  Dung 鏞 nghĩa là cái chuông, một loại nhạc khí thời cổ (金+ 庸.)

Về trứ tác, Kim Dung sáng tác phần lớn là võ hiệp tiểu thuyết gồm 14 bộ mà ông xếp thành một câu đối :

飛雪連天射白鹿,

笑書神俠倚碧鴛

(Phi Tuyết Liên Thiên Tạ Bạch Lộc, Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên - Tuyết bay đầy trời nhìn hươu trắng-Truyện cười thần hiệp tựa uyên xanh)

Đúng ra, ông còn bộ chót là Việt Nữ Kiếm .

Tên các tác phẩm :

Phi Hồ Ngoại Tuyện               1960

Tuyết Sơn Phi Hồ                   1959

Liên Thành Quyết                   1963

Thiên Long Bát Bộ                  1963

Xạ Điêu Anh Hùng Truyện      1957

Bạch Mã Khiếu Tây Phong      1961

Lộc đỉnh ký                            1969-1972

Tiếu Ngạo Giang Hồ              1967

Thư Kiếm Ân Cừu Lục           1955

Thần Điêu Hiệp Lữ                 1959

Hiệp Khách Hành                   1961

Ỷ Thiên Đồ Long Kiếm          1965

Bích Huyết Kiếm                    1956

Uyên Ương Đao                     1961

Ngoài ra Kim Dung còn viết nhiều bài chính luận và tản văn, nhưng tiểu thuyết võ nghệ vẫn là nghề tay phải của ông.

Kim Dung mất buổi trưa ngày 30-10-2018, hưởng thọ 94 tuổi tại bệnh viện ở Hương Cảng, để lại nhiều thương tiếc cho hàng chục triệu độc giả khắp nơi, và ngay cả tại Trung Cộng, đã từng say mê các tác phẩm võ hiệp nổi tiếng của ông.

Kim Dung đã xử dụng những chữ đầu những tác phẩm của mình để tạo thành một câu đối như đã nêu ở trên. Trừ Việt Nữ Kiếm được viết sau cùng.

Tra Lương Dung là hậu duệ của các danh nhân văn học Trung Quốc, liên quan đến những vụ án văn tự ngục  quan trọng, tàn nhẫn dưới triều nhà Thanh  là : Tra Kế Tá và Tra Tự Đình.

Chúng tôi xin ghi thêm ở dưới đây : 

TRA KẾ TÁ

查  繼  佐

 

Tra Kế Tá (1601-1676) vốn tên là Kế Hựu, nhưng khi đi thi ở huyện viết nhầm là Tá, bèn dùng luôn làm tên. Sinh ra trong thời buổi loạn lạc, Tra Kế Tá sửa đổi  khá nhiều tự hiệu như. Mới đầu tự là Tam Tú, sau đổi ra là Y Hoàng (Tra Y Hoàng), Kính Tu, hiệu là Dữ Trai, Tả Ẩn, Phương Đan, Phát Tiêu, Chước Ngọc, Hưng Trai, đến cuối đời thì lại đổi là Đông Sơn Chước Tẩu, người Viên Hoa, huyện Hải Ninh tỉnh Chiết Giang. 

Lúc nhỏ nhà nghèo, nhưng ông là người ham học, đọc sách không biết mệt. Năm Sùng Trinh lục niên tức năm 1633, Tra Kế Tá đậu cử nhân.

Dưới triều Nam Minh Lỗ Vương, Tra Kế Tá từng giữ chức Binh Bộ Chức Phương Chủ Sự, tích cực chống lại nhà Thanh, và tham dự đấu tranh võ trang để bảo vệ Tiền Đường Giang. Tra Kế Tá từng cầm quân đánh bại quân Thanh ở Giả Sơn, và đi theo Ngự Sử Hoàng Tông Hy vượt biển, đóng quân ở Đàm Sơn.

Đến khi nhà Minh bị diệt, Tra Kế Tá đổi tên là Tỉnh, tự là Bất Tỉnh, và đổi chữ 查 Tra ra chữ Tra 楂, trở về tụ tập học trò để dạy học, đồng thời biên soạn « Minh Sử ». 

Năm Khang Hy nhị niên, tức năm 1663, nhân liên lụy trong vụ án Minh Sử với Trang Đình Long bị bắt bỏ ngục, nhờ có Đề Đốc Quảng Đông là Ngô Lục Kỳ tấu thỉnh biện giải mới được tha.

Sau khi ra khỏi ngục, Tra Kế Tá lại đổi tên là Tả Y, hiệu là Phi Nhân Dân, ẩn cư ở Giáp Sơn tỉnh Sơn Đông, và tụ hội học trò để dậy học. Người bấy giờ gọi Tra Kế tá là Đông Sơn Tiên Sinh.

Tra Kế Tá là người đam mê lịch sử, trứ tác rất phong phú ;Tra Kế Tá đã để ra 29 năm trời, sửa lại bản cảo đến 10 lần, phỏng vấn hàng ngàn người, mới hoàn thành tác phẩm Minh sử vĩ đại « Tội Duy Lục », ghi lại những rất nhiều những tài liệu về các cuộc khởi nghĩa của nông dân cuối thời Minh mạt.

Về trứ tác, có « Ban Hán Sử Luận », « Lỗ Xuân Thu », « Sơn Đông Quốc Ngữ », « Quốc Thọ Lục », đều là tác phẩm giá trị. Ngòai ra, Tra Kế Tá còn tinh thâm âm luật, thích gẩy đàn ca xướng.trong nhà có ban nữ nhạc, do đích Tra Kế Tá dậy dỗ, và viết các tạp kịch như « Tục Tây Sương Ký », « Minh Phong Độ », các truyện truyền kỳ có « Tam Báo Ân », « Phi Phi Tưởng », và « Sơn Đông Ngọai Kỷ », “Ngũ Kinh Thuyết », « Tứ Thư Thuyết », « Thông GiámNghiêm », « Tri Thị Lục », « Nam Ngữ », « Bắc Ngữ », « Kính Tu Đường Thi Tập », « thuyết Nghi », « Việt Du Tạp Vịnh ». Tra kế Tá còn giỏi cả thư họa. 

Bồ Tùng Linh trong Liêu Trai Chí Dị, từng có lời khen ngợi  « ban ơn nhiều cho người ta  mà không cần cho biết tên , thật là chân hiệp sĩ, cổ trượng phu 厚 施 而 不 问 其 名,夫 哉!Hậu thí nhi bất vấn kỳ danh, chân hiệp liệt cổ trượng phu tai ! ». 

Cũng trong Liêu Trai Chí Dị, truyện « Đại Lực Tướng Quân » có thuật truyện về Ngô Lục Kỳ. 

Ngô Lục Kỳ lúc hàn vi từng đi ăn mày, Tra Kế Tá thấy Ngô Lục Kỳ là người hữu dũng khỏe mạnh, bèn mời uống rượu thật say, rồi tặng tiền bạc, sau đó bỏ ra về.

Sau này Ngô Lục Kỳ tòng quân, làm quan đến Đề Đốc, nhưng không quên ân nghĩa cũ. Khi Tra Kế Tá gặp tai nạn, Ngô Lục Kỳ ra sức cứu giúp, và từng đón Tra Kế Tá đến Quảng Đông nghỉ ngơi, và từng giúp xây cất chỗ ở cho Tra Kiến Tá.

Ngày 29 tháng 2 năm 1676 Tra Kế Tá  qua đời, thọ 75 tuổi. 

Kim Dung tác giả của những bộ tiểu thuyết võ hiệp của Trung Quốc, tên thực là Tra Lương Dung, là hậu duệ của Tra Kế Tá. 

TRA TỰ ĐÌNH

查 嗣 庭

Tra Tự Đình (1664-1727), tự là Nhuận Mộc, Hiệu là Hoành Phố, người huyện Hải Ninh tỉnh Triết Giang, đậu tiến sĩ năm Bính Tuất, Khang Hy tứ thập ngũ niên, tức năm 1706, được tuyển bổ làm Hàn Lâm Viện Thứ Cát Sĩ. Năm Khang Hy tứ thập bát niên, tức năm 1709, được thụ chức Biên Tu ở Tán Quán. Năm Khang Hy ngũ thập tứ, tức năm 1715, được làm Phó Khảo quan thi Hương ở Hồ Quảng. Sau đó từ năm  1717 đến 1719, làm Hà Nam Học Chính. Sau đó được thang làm Thị Giảng, Thị Độc, Thị Độc Đại Học  Sĩ.

Năm Ung Chính nguyên niên, tức năm 1723, do Long Khoa Đa tiến cử thăng làm Nội Các Học Sĩ.

Đến tháng 6 năm Ung Chính tứ niên, tức năm 1726,Tra Tự Đình được bổ nhiệm làm chính khảo quan khoa thi hương ở Giang Tây.

Sau đó, đến tháng 9 Tra Tự Đình trở về kinh, thì phát sinh ra vụ án ra đề thi.

Nguyên  do có người cáo giác bốn chữ "Duy Dân Sở Chỉ 維 民 所止", mà Tra Tự Đình đã lấy từ Kinh Dịch dùng để  làm đề thi, có hàm ý phỉ báng và cầu chúc cho  vua Ung Chính  雍 正 bị chặt đầu. 

Sở dĩ như vậy là vì hai chữ "Duy 維" và chữ "止" trong bốn chữ của đề thi "Duy Sở Chỉ 維 民 所 止", theo cách chiết tự chính  là hai chữ "Ung 雍" và chữ "chính 正" bị cắt mất đầu. Chữ Ung 雍“mất đầu” thì là chữ Duy維, Chữ “Chính正” mất đầu thì là chữ “Chỉ 止”

Ung Chính phái người đến sưu tra những văn tự  tại ngụ sở của Tra Tự Đình ở kinh, sau đó cách chức Tra Tự Đình và  tống giam vào ngục, giao cho Tam Pháp Ty (tức Hình Bộ, Đô Sát Viện, Đại Lý Tự) điều tra vụ án. 

Tháng tư năm Ung Chính ngũ niên, tức năm 1727, Tra Tự Đình bị chết trong ngục thất. 

Vụ án Tra Tự Đình là một vụ án văn tự ngục lớn dưới triều vua Ung Chính và do chính Ung Chính tạo ra. Tội danh do hội đồng Cửu Khanh, Hàn Lâm, Thiêm Sự sau khi thẩm tra, kết luận  là "Đại nghịch bất đạo, oán phỉ chớ chú", còn Ung Chính gán cho là "Tâm hoài oán vọng", nên dù Tra Tự Đình đã bệnh chết trong ngục thất, cũng bị lôi thây ra chém đầu thị chúng. Gia sản bị tịch thâu. Các anh và con cháu từ 16 tuổi trở lên bị chém ngang lưng, vợ và con gái dưới 16 tuổi cho các đại thần làm nô bộc. 

Tại sao Ung Chính lại tạo ra vụ án văn tự ngục ghê gớm đến thế.  

Các sử gia giải thích là vì Tra Tự Đình ngày trước vốn xu phụ viên đại thần Long Khoa Đa, người từng với Niên Canh Nghiêu âm mưu ủng lập Ung Chính, sau bị Ung Chính ghét và diệt trừ, nay Ung Chính nhân vụ án này muốn diệt trừ nốt bè đảng của Long Khoa Đa ở trong triều.

 


Cảm tưởng về thơ văn của anh Phạm Xuân Hy xin gởi về  Japan_ob@yahoo.com