|
|

Hố sâu cách biệt thu nhập ở Mỹ

David Cay Johnston
Phạm Vũ Thịnh dịch
Lời người dịch:
David Cay Boyle Johnston
(sinh năm 1948) là một phóng viên điều tra và tác-gia người Mỹ,
chuyên gia về các vấn đề kinh tế và thuế, và là người đoạt giải
Pulitzer năm 2001 cho Báo cáo có b́nh luận xuất sắc nhất (Beat
reporting).
Từ tháng 7 năm 2011 cho đến tháng 9 năm 2012, ông đă là một người
phụ trách chuyên mục của hăng thông tấn Reuters, viết và
thực hiện video b́nh luận về các vấn đề toàn cầu về thuế, kế toán,
kinh tế, tài chính và kinh doanh. Ông cũng viết bài cho hăng thông
tấn Al Jazeera Anh và Mỹ trong những năm gần đây. Và là
Giảng viên thỉnh giảng tại Khoa Luật và Trường Quản trị Kinh doanh
Whitman tại Đại học Syracuse.
Dưới đây là bản dịch phần Dẫn nhập –
Introduction trong cuốn sách của David Cay Johnston, xuất bản
năm 2014: “Divided: The Perils of Our Growing Inequality –
Cách biệt giàu nghèo: Những nguy cơ của t́nh trạng bất b́nh đẳng
ngày càng tăng của chúng ta”.
*
Năm 2001, ngay sau khi George W. Bush nhậm chức (Tổng thống),
tôi đă gọi đến văn pḥng báo chí của Nhà Trắng để xin lời b́nh
luận của Sở Thuế IRS về số liệu thu nhập quốc dân mới nhất. Người
phụ tá phát ngôn của IRS tỏ ra không mấy tin tưởng vào các số liệu
chính thức mà tôi đọc lên, đến nỗi tôi phải hỏi: "Thế bà nghĩ
số trung điểm của thu nhập quốc dân trên tờ khai thuế ở Mỹ
hiện nay là bao nhiêu?" Câu trả lời của bà là: 250 ngàn
USD. Và con số thực tế vào thời điểm đó là: 28 ngàn USD.
Những nhận thức sai lầm về mức giàu có hay nghèo đói, vẫn tiếp tục
lây nhiễm trong nền chính trị ở Mỹ, ngay trong khi hố sâu ngăn
cách giữa những người Mỹ giàu nhất với mọi người khác đă trở thành
dấu ấn của thời đại chúng ta. Không có lực tự nhiên nào quyết định
thu nhập, của cải và phẩm chất cuộc sống của con người cả.
Chính chúng ta quyết định ai sẽ giàu lên và ai không — hoặc
chúng ta để mặc người khác quyết định cho chúng ta. Trong các
xă hội có chính phủ được bầu cử dân chủ, chính dân chúng là người
quyết định số phận của ḿnh, bởi v́ khi chúng ta bầu lên các
chính trị gia, chúng ta đă quyết định chọn các chính sách của họ,
do tổng thống và các thống đốc thực hiện, cùng với Quốc hội và các
cơ quan lập pháp, và những người mà họ bổ nhiệm làm thẩm phán và
quản lư. Hiện tại, những ǵ người dân Mỹ chúng ta đă chọn là
t́nh trạng bất b́nh đẳng cùng cực, tồi tệ nhất vượt xa bất kỳ quốc
gia nào có nền kinh tế hiện đại.
Khi lựa chọn sự bất b́nh đẳng này, chúng ta đă chọn việc từ
bỏ một tầng lớp trung lưu rộng lớn và mạnh mẽ với kỳ vọng
ngày càng cao, thu nhập ngày càng tăng, tỏa rộng quyền sở hữu nhà
ở, và tiếp cận với giáo dục đại học. Khi lựa chọn sự bất b́nh
đẳng về chăm sóc sức khỏe, chúng ta đă quyết định làm suy yếu
hàng triệu tinh thần, từ khước cơ hội thành công của hàng triệu
trẻ em, và biến bao nhiêu người nạp thuế chăm chỉ trở thành những
người tàn phế vĩnh viễn và do đó trở thành gánh nặng cho xă hội,
đơn giản chỉ v́ họ không thể có được phẫu thuật hoặc thuốc men
chữa trị để họ trở lại được cuộc sống hữu ích. Chúng ta đă tạo ra
một xă hội trong đó tất cả các lợi nhuận kinh tế của quốc gia đều
tuôn tràn vào tầng lớp trên cùng, trong khi đại đa số ở các tầng
dưới phải chịu thu nhập bị đ́nh trệ hoặc sút giảm. Chúng ta đă
phải chấp nhận chuyện phá sản, nợ nần, thất nghiệp kéo dài, lương
bổng không tăng thậm chí giảm sút, như một t́nh trạng b́nh
thường mới. Đồng thời chúng ta đă hào phóng cung ứng tiền mặt,
cắt giảm thuế, và trợ cấp kín đáo cho những người giàu nhất trong
chúng ta, cho họ càng ngày càng giàu thêm.
Mà có phải luôn luôn như thế này đâu!
Từ cuối Thế chiến thứ hai cho đến đầu những năm 1970, th́ đại đa
số người Mỹ đă được hưởng thụ cuộc sống tăng tiến đều đặn.
Tiền lương tăng và ngày càng có nhiều người lao động được hưởng
lợi từ việc làm ổn định cùng với các lợi ích phụ trội như chăm sóc
sức khỏe, kỳ nghỉ được trả lương, và hưu bổng tốt. Số lượng việc
làm tăng trưởng đều đặn, đặc biệt là những việc làm đ̣i hỏi tŕnh
độ đại học hoặc bằng cấp cao; đồng thời đầu tư của dân chúng vào
các nghiên cứu cơ sở đă tạo ra được các sản phẩm cụ thể và các
dịch vụ kéo dài tuổi thọ. Thêm nhiều người trở thành chủ nhà,
thường nhận thấy rằng số tiền chi trả hàng tháng lại ít hơn so với
khi họ c̣n ở nhà thuê. Nghèo đói vẫn là một vấn đề, nhưng đă giảm
dần đi, đặc biệt là đối với những người Mỹ lớn tuổi. Đối với
hầu hết các gia đ́nh có trẻ em, th́ chỉ cần một người có thu nhập
là đủ. Người Mỹ thời đó cũng có các khoản nợ, nhưng mức sống
của họ đă phát triển song hành với nền kinh tế. Xe hơi thường được
mua bằng các khoản vay 3 năm, chứ không phải các khoản vay 5, 6
hay 7 năm phổ biến hiện nay. Thu nhập thực tế do đại đa số 90%
người Mỹ khai thuế liên bang đă tăng gấp đôi từ khi Thế chiến kết
thúc cho đến năm 1973.
Thế mà sau đó, cuộc sống của đại đa số người Mỹ ngừng tăng
tiến, và một vài năm sau, bắt đầu một thời gian dài trượt lùi
đau đớn. Số nghiệp đoàn lao động giảm dần, chuyển quyền quyết định
mức lương bổng từ các nhóm công nhân có tổ chức với tư vấn từ các
chuyên gia thị trường, sang việc thương lượng riêng lẻ của từng
công nhân viên, hoặc thường th́ người lao động chỉ c̣n cách chấp
nhận mức lương do chủ hăng quyết định.
Chi phí chăm sóc sức khỏe tăng cao đă chuyển hướng từ bù đắp thêm
vào tiền lương sang chi trả phí bảo hiểm. Các quy tắc (hiệp ước)
thương mại thường có lợi cho các quốc gia khác, đă hủy diệt nhiều
việc làm lương cao trong các ngành sản xuất của Mỹ, kể cả hơn
50 ngàn nhà máy và 2,8 triệu việc làm đă dời sang China.
Kết quả là, thu nhập trung b́nh của đại đa số người Mỹ chỉ tăng
trên mức năm 1973 có bốn lần — vào các năm 1999, 2000, 2001 và
2007 — mà thậm chí dù có tăng đi nữa, cũng chỉ tăng tương đương
với thu nhập trong một tuần lễ thêm vào mỗi năm mà thôi. Cho đến
năm 2012 th́ thu nhập trung b́nh của đại đa số người Mỹ đă giảm
xuống chỉ c̣n tương đương với thu nhập trong 45 tuần lễ của năm
1973 – tức là giảm bớt 13%, xuống c̣n có 30.997 USD từ mức 35.584
USD năm 1973, tính theo trị giá USD năm 2012.
Rồi từ năm 1998 đến năm 2011, mức lương trung điểm hàng tuần –
nghĩa là một nửa số người kiếm được nhiều hơn mức này, và nửa kia
th́ thấp hơn – lại tŕ trệ trong khoảng từ 533 USD đến 546 USD
theo trị giá năm 2012, sau đó giảm xuống c̣n có chừng 529 USD vào
năm 2012, tức là mức lương 27.519 USD trong trọn năm đó. Và gần
một phần ba trong số 153,6 triệu người Mỹ có việc làm ở bất kỳ
thời điểm nào trong năm 2012, đă kiếm được ít hơn 15 ngàn USD, mà
trung b́nh th́ chỉ được 6.100 USD.
Trong những năm gần đây, hầu như tất cả sự gia tăng thu nhập là từ
những việc làm được trả lương trên 75 ngàn USD — tức là cho chỉ
một phần tám số người làm việc mà thôi. Mà đặc biệt ở tầng lớp
trên cùng th́ thu nhập tăng vọt. Năm 2012, số người có việc làm
trả lương bằng tiền mặt từ 5 triệu USD trở lên đă tăng 27% đến mức
8.982 người, và lương bổng toàn bộ của tầng lớp này điều chỉnh
suất lạm phát th́ đă tăng đến 40% so với năm 2011.
Lại nữa,
loại việc làm được trả lương cao đă
tăng mức lương nhiều đến nỗi vào
năm 1994, Social Security Administration – Sở An sinh Xă hội đă
phải nâng nấc thang lương bổng cao nhất từ “hơn 5 triệu
USD” lên thành “hơn 20 triệu USD”. Rồi năm 1997, lại nâng
lên thành “hơn 50 triệu USD”.
Trong
khi đó, tiền lương tăng trưởng chậm lại
rồi ngừng hẳn — hoặc thậm chí c̣n giảm xuống nữa — đối với hàng
triệu công nhân, và tổng thu nhập trung b́nh của 90% toàn dân th́
bị sút giảm, các khoản nợ đă tăng cao và số phá sản tăng nhanh hơn
nhiều so với mức tăng dân số. Kể từ năm 1980, đă có 32 triệu hồ
sơ phá sản cá nhân trong nước Mỹ có trung b́nh khoảng 100
triệu hộ gia đ́nh, nghĩa là cứ khoảng ba hộ gia đ́nh th́ một hộ đă
phải t́m nơi nấp trốn các chủ nợ.
Vậy mà ở tầng lớp trên cùng th́ lại là chuyện hoàn toàn khác.
Ở tầng lớp này, chúng ta không thấy có được bao nhiêu những nhà
lănh đạo doanh nghiệp mạo hiểm bỏ vốn ra tạo thêm việc làm, mà
thấy có rất nhiều những giám đốc điều hành, siêu sao giải trí (từ
cầu thủ bóng chày cho đến ca sĩ nhạc pop), và những người giàu có
khác, nhiều người được trả lương cao. Thu nhập trung b́nh của 1
phần trăm dân số Mỹ, thuộc tầng lớp trên cùng này đă tăng vững
vàng từ cuối Thế chiến đến năm 1973 cùng với mọi người khác, nhưng
trong khi thu nhập của đại đa số tăng gấp đôi, th́ thu nhập của
nhóm 1 phần trăm hàng đầu này chỉ tăng có một phần ba. Thế
rồi ngược lại, từ năm 1973 cho đến năm 2012, là những năm mà đại
đa số người làm việc chứng kiến thu nhập của ḿnh giảm sút, th́
nhóm 1 phần trăm hàng đầu ấy lại có thu nhập trung b́nh tăng hơn
gấp đôi, tăng 153 phần trăm đến trên 1 triệu USD. Nhóm 1
phần trăm hàng đầu kiếm được gần gấp 13 lần mức trung b́nh của 90
phần trăm c̣n lại, vào năm 1973, nhưng đến năm 2012, tỷ lệ này đă
là gấp 41 lần.
Trong khi thu nhập trung b́nh năm 2012 của đại đa số đă sụt trở
lại chỉ c̣n ở mức năm 1966 (chính xác là thấp hơn 9 USD so với năm
1966), th́ t́nh h́nh lại quá tốt cho nhóm 1 phần trăm hàng đầu.
Thu nhập trung b́nh của nhóm này đă tăng gần 441 ngàn USD lên
1.264.000 USD, một mức tăng thực tế gần gấp ba lần thu nhập
trước thuế của họ! Mà đối với những người ở tột đỉnh, th́ c̣n phải
nói là tuyệt vời mới đúng. 1 phần trăm tột đỉnh của nhóm 1 phần
trăm hàng đầu, hay nói cách khác, cứ 10 ngàn hộ gia đ́nh Mỹ th́
lại có một hộ đă có thu nhập trung b́nh tăng vọt như hỏa tiễn
từ 5,4 triệu USD năm 1966 lên đến gần 30,8 triệu USD vào năm 2012.
Có nghĩa là cứ 1 USD thu nhập năm 1966, mỗi hộ gia đ́nh ở tột đỉnh
ấy đă báo cáo thu nhập tăng thành 5,67 USD vào năm 2012. Tất nhiên
hầu hết chẳng cứ phải là những người cũ, nhưng các số liệu này cho
thấy nước Mỹ đă thưởng thêm cho nhóm tột đỉnh giàu có này như thế
nào, trong khi đại đa số (cũng không phải tất cả là những người
cũ, 46 năm sau) đă phải chịu giảm sút thu nhập.
Hậu quả là tăng trưởng thu nhập đă tập trung thái quá ở nhóm tột
đỉnh
đến nỗi trong khoảng từ năm 2009 khi cuộc Đại Suy Thoái kết thúc
cho đến năm 2012, chỉ 16 ngàn hộ gia đ́nh trên đỉnh đă thâu tóm
đến 31% tổng số tăng trưởng thu nhập trên toàn quốc Mỹ có 315
triệu dân. Số tiền khổng lồ đó đă vào tay chỉ 1 phần trăm của 1
phần trăm người Mỹ ở tột đỉnh mà thôi. Mà chỉ 1 phần trăm ở tột
đỉnh ấy đă chiếm đến 94,8% tất cả khoản tăng trưởng thu nhập đó,
phần nhỏ nhặt c̣n lại (5,2%) th́ lọt vào tay của 10 phần
trăm dân số ở hàng đầu về lương bổng.
Thế c̣n đại đa số người Mỹ, là tầng lớp 90% dưới cùng th́
sao nào? Phân tích báo cáo thuế của các nhà kinh tế nổi tiếng
Emmanuel Saez và Thomas Piketty cho thấy rằng trong cùng thời kỳ
này, từ năm 2009 đến năm 2012, thu nhập trung b́nh của tầng lớp
này đă giảm đến 15,7%.
Chúng ta lại cũng đă chọn để cho người giàu giữ lại được nhiều hơn
phần thu nhập tăng thêm đó của họ. Các gánh nặng về thuế liên bang
ở cấp cao nhất đă giảm mạnh, trong khi thuế đánh vào tầng lớp 90%
phía dưới lại tăng nhẹ. Trong khoảng từ năm 1961 đến năm 2011, tỉ
lệ đóng thuế thu nhập liên bang của nhóm 400 người ở tột đỉnh
trong tổng số thuế thu nhập toàn quốc đă giảm bớt 60%. Trong khi
cùng những năm đó, gánh nặng thuế đối với tầng lớp 90% dân số ở
dưới th́ chỉ giảm có 20%. Nếu tính thêm các khoản thuế An sinh Xă
hội và Medicare cao lên vào nữa, th́ nhóm 400 người hàng đầu
giữ được nguyên mức thuế cũ, nhưng gánh nặng thuế của tầng lớp 90%
dân số thực sự đă tăng lên một ít. Điều này có nghĩa là chính phủ
đă đẩy gánh nặng ngân sách xuống vai tầng lớp người dân ở phía
dưới trong bậc thang thu nhập.
Dấu hiệu của t́nh trạng bất b́nh đẳng hiện-đại bộc lộ ở mọi nơi.
Tư nhân đua nhau dùng máy bay phản lực nhỏ thay cho máy bay
động-cơ-piston của những năm 1960. Trong thập kỷ vừa qua, chúng ta
đă chứng kiến ngày càng tăng những đội máy bay phản lực khổng
lồ Boeing 767 và 747 của tư nhân. Chúng ta thấy ngày càng
nhiều khung khán đài riêng tư tại các sân chơi thể thao (được xây
dựng chủ yếu bằng tiền thuế từ dân chúng) có các đường dốc vào ra
riêng biệt. Hơn 7 triệu người Mỹ sống trong các khu nhà ở có rào
kín và trạm kiểm soát. Bằng cách này và vô số cách khác nữa,
những người siêu giàu tự tách riêng ra khỏi xă hội về mặt thể xác,
văn hóa và tâm lư. Những xu hướng này giúp giải thích làm thế
nào mà người phụ tá phát ngôn với báo chí của Nhà Trắng thời Tổng
thống Bush lại có thể tin rằng một nửa số dân Mỹ kiếm được hơn 250
ngàn USD (mỗi năm), trong khi thực tế th́ chỉ ít hơn một
trong năm mươi người mới kiếm được đến mức ấy.
Trong khi đó, t́nh trạng nghèo đói ngày càng trầm trọng hơn.
Trong số tất cả các nước phát triển th́ chỉ có Romania là có tỷ lệ
trẻ em nghèo cao hơn Mỹ mà thôi. Trong bất kỳ năm nào gần đây,
hơn 1 phần 5 dân số trẻ em Mỹ sống trong những căn nhà có nhiều
bữa không có đủ thức ăn cho mọi người trong gia đ́nh. Trẻ em
da đen và gốc Tây Ban Nha sống trong các hộ gia đ́nh mà chính phủ
ta gọi là “an ninh lương thực rất thấp” nhiều hơn gấp 5 lần so với
trẻ em màu da khác nói chung. Các Food bank - kho thực phẩm từ
thiện báo cáo rằng kệ hàng hóa của họ thường trống trơn trước
khi trọn hàng người đang chờ được phục vụ cả, và hầu hết khách
hàng mới của họ kể từ năm 2008 lại là các cặp vợ chồng có con, đă
từng có hai việc làm mà giờ đây thất nghiệp. Đối với những người
đă quen với tủ bếp đựng thức ăn đầy ắp và tủ lạnh không c̣n đủ chỗ
cho mọi thứ mua từ cửa hàng tạp hóa về, th́ điều này có thể khó mà
hiểu cho được. Vậy mà theo thống kê th́ ngày nay cứ năm mươi hai
người Mỹ mà bạn gặp mặt lại có một người không có thu nhập ǵ
ngoài phiếu thực phẩm.
Tuy nhiên, trên thực tế, bạn có thể sống suốt đời mà hoàn toàn
không biết bất kỳ ai trong số 6 triệu người Mỹ hiện đang phụ thuộc
hoàn toàn vào phiếu thực phẩm để sống c̣n, bởi v́ chúng ta
đang quá tách biệt với nhau về kinh tế.
Vào cuối thế kỷ thứ mười tám, các vị vua nước Pháp cũng đă sống
trong cảnh sung sướng không cần biết đến t́nh cảnh nghèo đói xung
quanh họ. Một trong số các vua ấy thậm chí c̣n xây dựng một lâu
đài riêng cho t́nh nhân của ḿnh, trong đó ông ta dự định đặt một
chiếc bàn ăn khổng lồ nhô cao lên khỏi nhà bếp bên dưới, để giới
quư tộc không bao giờ phải nh́n thấy những người hầu hạ; dự án đó
chưa kịp thực hiện th́ con trai của ông, vị vua cuối cùng của nước
Pháp, đă bị mất đầu. Tương tự như vậy, những người giàu có ở Mỹ
rất dễ dàng làm ngơ trước mọi người nghèo khó mà chỉ giao tiếp với
những người giàu có như họ vây quanh. Không có liên hệ sâu sắc
và liên tục với toàn xă hội, những người giàu có nhất bắt đầu nh́n
nhận về bản thân theo cách phủ nhận thực tế những ǵ đang diễn ra
xung quanh họ. Cứ thế, các chính sách mà họ t́m kiếm từ chính phủ
— được mua bằng tiền quyên góp trong các cuộc vận động chính trị,
hay những lần di chuyển bằng máy bay tư nhân miễn phí, và những
việc làm họ cấp riêng cho bạn bè và gia đ́nh của các chính trị gia
— đă bóp méo nền kinh tế Mỹ nhiều hơn nữa, nghiêng sân chơi về
phía có lợi cho họ mà hại cho tất cả mọi người khác.
Nhưng không thể cứ như thế này măi được! Vẫn có thể cải thiện được
chứ. Chúng ta có thể chọn khôi phục sự thịnh vượng rộng khắp, thay
v́ thúc đẩy sự thịnh vượng tập trung cao độ đồng thời gia tăng
nghèo đói, nhất là t́nh trạng nghèo đói ở lứa tuổi trẻ em.
Chúng ta có thể xây dựng một nước Mỹ tốt đẹp hơn, một nước Mỹ giảm
bớt đói nghèo và xung đột, đồng thời triệt hạ quyền lực của những
kẻ phiến động mị dân. Tuy nhiên, việc thay đổi các chính sách
của chúng ta, trước hết đ̣i hỏi kiến thức, chẳng hạn như dữ liệu
thực tế về thu nhập quốc dân mà người nữ phát ngôn viên hàng đầu
ấy của chính quyền Bush đă ngây thơ không biết đến. Thế nhưng ngay
cả có được dữ liệu thật đi nữa cũng vô ích nếu không nhận thức
được nguyên nhân của t́nh trạng bất b́nh đẳng cùng cực hiện tại và
các đ̣n bẩy tác động cần thiết để thay đổi. Thay đổi lại cũng đ̣i
hỏi hành động có tổ chức ở cấp cơ sở nữa, bởi v́ ở Mỹ,
cải cách luôn luôn thực hiện từ dưới lên.
Xă hội nào cũng được xác định bởi các quy luật của xă hội đó.
Bất b́nh đẳng là sản phẩm của các quy luật được đặt ra bởi những
người mà chúng ta đă bầu chọn, hoặc nếu chúng ta không bỏ
phiếu, th́ để mặc cho đồng bào của chúng ta bầu chọn. Các quy luật
đó quyết định một cách kiên cố thành phần nào sẽ thịnh vượng và
thành phần nào không, ai sẽ hưởng lợi từ hệ thống thuế của chúng
ta và ai sẽ chịu gánh nặng thuế khóa. Nước Mỹ đă khởi đầu với một
hiến pháp quy định thành luật rằng phải tôn trọng quyền sở hữu nô
lệ, thế nhưng chúng ta đă xóa bỏ chế độ nô lệ, là h́nh thức bất
b́nh đẳng cực đoan nhất. Và phụ nữ đă giành lại được quyền
bầu cử nhờ nỗ lực kiên quyết trong nhiều thập kỷ của Susan B.
Anthony, Elizabeth Cady Stanton và rất nhiều người khác nữa.
Đạo luật về lao động trẻ em đầu tiên đă đ̣i hỏi nỗ lực đến nửa thế
kỷ, và phải cần hơn một thế kỷ để có được quy luật về độ tuổi tối
thiểu và số giờ tối đa cho lao động trẻ em thông qua Fair
Labor Standards Act - Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công-bằng năm
1938. Thế mà hiện nay một số tiểu bang lại đă làm suy yếu các luật
này, thậm chí một số đảng viên Cộng ḥa trong Quốc hội Liên bang
c̣n bảo nên băi bỏ chúng nữa.
Chúng ta có các luật cho phép các công đoàn tổ chức và thương
lượng để cải thiện lương bổng và điều kiện làm việc, nhưng
chúng cũng đă bị suy yếu rất nhiều trong ba thập kỷ qua. Chúng ta
cũng có luật pháp mạnh mẽ về môi trường, nhưng chúng cũng
đang bị tấn công dữ dội. Các chiến thắng ấy, các quy luật ấy đă
đạt được với cái giá rất đắt, trước đây đă tạo ra được một xă hội
tương đối lành mạnh hơn, giàu có hơn, gắn bó hơn, nói chung là tốt
đẹp hơn về tổng thể. Theo cách tương tự, ngày nay chúng ta có thể
xây dựng một xă hội tốt đẹp hơn nhiều nếu chúng ta lựa chọn tích
cực.
Công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người
là một trong hai nhiệm vụ song hành mà Quốc hội Mỹ theo luật đă
quy định cho Federal Reserve - Cục Dự trữ Liên bang, tức là ngân
hàng trung ương của quốc gia chúng ta. Nhiệm vụ kia, thường được
báo chí và giới quan chức chú ư đến nhất, là kiềm chế lạm phát.
T́nh trạng thiếu việc làm cho thanh niên, đặc biệt là những
người có bằng đại học và cao đẳng, sẽ là một lực tŕ kéo cản trở
nghiêm trọng đối với nền kinh tế của chúng ta trong nhiều thập kỷ,
trừ khi chúng ta thay đổi hướng đi mà tập trung vào tạo việc làm.
Vào cuối năm 2013, nền kinh tế Mỹ chỉ hoạt động ở mức 93% tiềm
năng của nó, có nghĩa là khoảng một ngh́n tỷ USD (one trillion)
hoạt động kinh tế phụ trội là hoàn toàn khả thi trong tầm tay,
nhưng lại đă thất thu v́ các chính sách
sai lầm của chúng ta. Một phần lớn
khoản thiếu hụt giữa thực-thu và tiềm-năng kinh tế đă tồn tại, bởi
v́ nước Mỹ đang thiếu hụt từ 9 triệu đến 11 triệu việc làm, dựa
trên dữ liệu trong lịch sử về năng suất làm việc và mức gia tăng
dân số. Chúng ta vẫn c̣n trôi dạt trong t́nh trạng ảm đạm về
kinh tế bởi v́ chính chúng ta lựa chọn như thế.
Giáo hoàng Francis I,
khi tố cáo "nền kinh tế loại trừ", đă chọn bất b́nh đẳng
là trọng tâm chú mục và hành động trong triều đại của ngài:
“Cũng như điều răn "Ngươi không được giết người" đặt ra một giới
hạn rơ ràng để bảo vệ giá trị của sự sống con người, ngày nay
chúng ta cũng phải nói “Ngươi không được” đối với nền kinh tế
loại trừ và bất b́nh đẳng. Một nền kinh tế như thế giết mất sự
sống. Làm sao đến nỗi khi một người già vô gia cư chết v́ đói lạnh
nắng gió th́ không phải là mục tin tức ǵ, mà khi thị trường chứng
khoán sụt hai điểm th́ lại là tin tức náo động đối với mọi người?
Ngày nay, mọi thứ đều tuân theo quy luật cạnh tranh và chỉ kẻ nào
mạnh nhất th́ sống c̣n, cá lớn nuốt cá bé.
Kết quả là, hàng loạt người thấy ḿnh bị loại trừ hay bị gạt ra
ngoài lề xă hội: không có việc làm, không có hy vọng, không có
bất kỳ phương tiện thoát thân nào khỏi cảnh đói nghèo.
Chính bản thân con người được coi là hàng hóa tiêu thụ được sử
dụng rồi loại bỏ.
Chúng ta đă tạo ra một loại văn hóa “vứt bỏ” hiện đang lan
rộng. Không c̣n chỉ đơn giản là bóc lột và áp bức, mà là một thứ
ǵ mới kia. Sự loại trừ như thế cuối cùng phải liên quan
đến ư nghĩa “thành phần của xă hội” mà chúng ta đang sống; bởi
những người bị loại trừ không c̣n là ở “dưới đáy” hay “ngoài
ŕa” của xă hội hoặc “bị tước quyền”, mà họ thậm chí không c̣n
là một thành phần của xă hội nữa. Những người bị loại trừ
không phải là những người “bị bóc lột” mà là những người bị ruồng
bỏ, những thứ phế thải.”
*
Tôi đă chọn các chương (cho cuốn sách này) từ một nguồn bao
quát gồm các bài phát biểu, nghiên cứu học thuật, tiểu luận và
sách của nhiều tác giả Mỹ quan tâm đến sự lâu bền của quốc gia
chúng ta, và được đồng nghiệp của họ kính trọng về chuyên môn.
Trước tiên, chúng ta sẽ xem xét vấn đề thu nhập và sự giàu có,
xuyên qua các thế hệ, bởi đó là những thước đo bao trùm nhất và
được ghi chép rơ ràng nhất, có cả bài phát biểu thuyết phục của
Tổng thống Obama về lư do tại sao bất b́nh đẳng lại là vấn đề quan
trọng. Tiếp theo là chăm sóc sức khỏe v́ vấn đề này chiếm
phần rất lớn - hiện đang ở mức 18% sắp tăng đến 20% - trong nền
kinh tế của chúng ta, và giữ vai tṛ trung tâm đối với hạnh phúc,
khả năng làm việc và là một nhân tố lớn tạo ra bất b́nh đẳng.
Những bài viết đóng góp khác khảo sát vấn đề nợ nần và nghèo
đói, kể cả các chính sách xem nợ nần là tội ác h́nh sự và làm
trầm trọng thêm nạn nghèo đói, mà lâu nay lại ít được báo chí quan
tâm, do đó vẫn c̣n là loại chuyện bê bối được giấu kín.
Các chính sách thúc đẩy cả b́nh đẳng lẫn bất b́nh đẳng là
chủ đề của phần tiếp theo đó, cung cấp nhận thức về những phương
cách mạnh mẽ mà tinh tế, dùng luật pháp và quy chế để thực hiện
hạnh phúc kinh tế cho cá nhân. Và ở đây cũng thế, luật h́nh sự
cũng đóng một vai tṛ quan trọng.
Tiếp đó là các bài viết về vai tṛ trung tâm của gia đ́nh,
sẽ cho thấy các chính sách của chính quyền tác động lên gia đ́nh
như thế nào, cùng với giáo dục, là ch́a khóa cho nhiều người kể cả
chính tôi, có thể đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn, và một thế
giới giàu có hơn, an toàn hơn và hạnh phúc hơn, nhờ ở những kiến
thức mới.
Với sự chấp thuận của những tác giả có tác phẩm được tŕnh bày ở
đây, tôi đă bỏ bớt những từ ngữ, cước chú và các chi tiết có phần
xưa cũ hoặc phức tạp, để người đọc nói chung có thể rút ra được ư
nghĩa chính yếu từ mỗi bài viết.
Trong các năm qua, tôi đă nghe thường xuyên từ độc giả và khán giả
tham dự các buổi diễn thuyết trước công chúng của tôi, về những ǵ
khiến họ cảm nhận được là những hiểu biết mới hoặc hữu ích. Khi
lựa chọn những bài viết đóng góp, tôi đă tập trung vào những điều
mà các độc giả, khán giả này đă bảo tôi là họ khao khát được biết,
những ǵ họ ngạc nhiên khi biết, và những ǵ họ lo là nhận được
quá ít sự chú ư từ báo chí, từ các chính trị gia và thậm chí từ
tôi.
Khi bạn đọc các bài viết này, xin nhớ rằng bất b́nh đẳng không
chỉ là chuyện thu nhập hoặc giàu nghèo, mà tôi chỉ sử dụng như
một lăng kính để tập trung vào các thước đo dễ nắm bắt nhất. Bất
b́nh đẳng c̣n liên quan đến khả năng tiếp cận và cơ hội tiến thân,
là những thứ khó đo lường hơn nhiều. Giáo dục, chăm sóc sức
khỏe và tiếp xúc với các hiểm họa môi trường đều có thể chi phối
h́nh thái xă hội, ảnh hưởng đến việc ai có cơ may đạt được
thành công; ai nhận được thành công dâng đến tận tay họ; ai có thể
vượt qua chướng ngại và ai được thấy các chướng ngại vật đó dẹp bỏ
sẵn cho họ rồi.
Điểm quan trọng nhất của cuốn sách này là: hăy ghi nhớ ai được lợi
và ai không. Đó là sự lựa chọn của chính người dân Mỹ chúng ta.
Chúng ta quyết định như thế. Và chúng ta có tự do để lựa chọn
tốt hơn, nhằm củng cố xă hội của chúng ta để nước Mỹ và quyền
tự do của người dân Mỹ được trường tồn.
Phạm Vũ Thịnh
dịch
22 Sep 2021
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"
Cảm tưởng, ư kiến xin gởi về
t4phamvu@hotmail.com
|
|