|
Cho đến ngày nay vẫn không ai nhớ chúng tôi đă làm ǵ
phật ḷng ông ấy. Anh hàng thịt Dyer nhớ có một lần anh đă lầm
lẫn mà phục vụ một người khách khác trước ông ta. Thường thường
khi Dyer say, anh lại nhớ đến lần ấy và nguyền rủa chính ḿnh v́
đă ngu xuẩn như thế. Nhưng không ai tin thật Dyer là người đă
làm ông ấy phật ḷng.
Tuy nhiên chắc chắn là trong chúng tôi có người đă làm ǵ
đấy. Cách nào đấy, chúng tôi đă khinh thị ông ta, một người đàn
ông nhỏ con, ôn hoà, mang kính không vành, mặc áo quần tề chỉnh,
thường mỉm cười rất vui vẻ với mọi người. Có thể chúng tôi đă
cho rằng ông ấy có hơi khờ khạo, đôi khi im lặng và nhàm chán
quá, mà bỏ quên coi như không có ông ta ở đấy.
Khi c̣n là một cậu bé con, tôi thường hái trộm táo trên cây
nhà ông trong hẽm Mason. Ông ấy thường bắt gặp tôi. Không, nói
thế không đúng. Phải nói là tôi thường cảm thấy ông ấy bắt gặp
tôi đang trộm táo. Tôi ngờ ngợ rằng ông ấy đang ḍm ngó ḿnh sau
màn cửa ren trong nhà ông. Có rất nhiều đứa trong chúng tôi đă
đến hái trộm táo nhà ông, đi một ḿnh hay từng đám, và có thể
ông đang nghĩ cách bắt từng đứa hoàn trả mấy quả táo ấy theo
cách riêng khác đời của ông ta.
Thế nhưng tôi đoan chắc rằng cũng không phải v́ chuyện táo
nầy. Chuyện là, tất cả chúng tôi, cả 800 người, đă phải nhớ lại
những lỗi nhỏ đă phạm đối với ông Gleason có thời đă sống cùng
chúng tôi. Bố tôi, người chưa hề có ư tai quái nào đối với bất
cứ sinh vật nào, vẫn tin rằng ông Gleason có ḷng muốn làm điều
tốt cho chúng tôi, và ông ấy yêu làng này hơn bất cứ ai trong
chúng tôi. Bố tôi bảo chúng tôi đă chủ ư đối xử tồi tệ đối với
làng ḿnh, chúng tôi đă lợi dụng thung lũng nhỏ nầy không khác
ǵ một chỗ dừng chân tạm bợ. Một chỗ ngừng trên đường đi đến một
nơi nào khác. Ngay cả những kẻ đă sống ở đây nhiều năm cũng
chẳng hề nghĩ đến làng một cách nghiêm chỉnh. Ừ th́ phong cảnh
có đẹp thật. Đồi núi xanh và rừng có dày thật. Ḍng suối th́ đầy
cá thật đấy. Nhưng vẫn như không phải là chỗ chúng tôi muốn ở
lâu. Đă nhiều năm, chúng tôi xem phim ở rạp Roxy và mơ, nếu
không phải đến xứ Hoa Kỳ, th́ ít nhất cũng phải đến thủ đô của
chúng tôi. Bố tôi bảo, đối với làng ḿnh, chúng tôi chẳng có ǵ
hơn là ḷng khinh bạc. Chúng tôi đối xử tàn tệ với làng ḿnh như
với một con đĩ. Chúng tôi đă cưa đổ những cây khổng lồ cho bóng
mát trên đường, để lấy gỗ làm cửa cho trường học và băng ghế cho
sân đá bóng. Chúng tôi đă để lại những lỗ hổng to tướng khắp nơi
trong làng, từ đấy lấy đi mất than đá, mà chẳng làm ǵ bù lại
cả.
Ngay cả những khách buôn từ xa đến, hay mua cá và khoai chiên
ở quán của anh George người Hy Lạp ấy, mà c̣n biết nghĩ đến làng
nầy hơn cả chúng tôi, bởi cả bọn chúng tôi chỉ mơ đến những
thành phố lớn, đến cảnh giàu sang, đến nhà cửa tân thời, đến xe
hơi to, nói chung là những giấc mơ Hoa Kỳ, như bố tôi gọi chúng.
Bố tôi làm chủ một cây xăng, vừa là một nhà phát minh. Ông
ngồi trong văn pḥng, suốt ngày vẽ kiểu những máy móc kỳ lạ ở
mặt sau những hoá đơn. Tất cả những mảnh giấy dư trong nhà đều
có những h́nh vẽ loại nầy, và mẹ tôi luôn luôn thận trọng không
dám vất bỏ mảnh giấy nào, dù vụn vặt đến đâu. Bà cẩn thận xem
xét cả hai mặt của bất cứ mảnh giấy nào và luôn luôn giữ lại tất
cả những mảnh nào có chút vết bút ch́.
Tôi nghĩ v́ tính cách như thế nên Bố tôi cảm thấy hiểu được
ông Gleason. Bố tôi không hề nói rơ như thế nhưng hàm ư rằng ông
hiểu ông Gleason bởi v́ chính ông cũng để ư đến những chuyện
tương tự. Bố tôi đang nghiên cứu về một máy cán sỏi khổng lồ,
nhưng thỉnh thoảng ông vẫn bị phân trí và quan tâm đến chuyện
khác. Chẳng hạn, có lần anh hàng thịt Dyer mang đến một chiếc xe
đạp mới có trục biến tốc, thế là trong một thời gian, Bố tôi
chẳng nói chuyện ǵ ngoài cái biến tốc ấy. Tôi thường thấy ông ở
bên kia đường, ngồi bệt xuống đất bên cạnh chiếc xe đạp của Dyer
như đang tṛ chuyện với nó.
Tất cả chúng tôi đều đi xe đạp v́ không có tiền mua thứ ǵ
khá hơn. Bố tôi th́ có một chiếc xe tải Chev nhưng ít khi dùng
và giờ th́ tôi ngờ rằng chiếc xe ấy có thể có trục trặc máy móc
ǵ đấy không sửa được, hoặc quả thật đúng như lời Bố tôi nói:
chỉ v́ ông không muốn xe ấy hao ṃn quá nhanh. Thông thường Bố
tôi đi mọi nơi bằng xe đạp, và khi tôi c̣n bé, ông chở tôi trên
thanh ngang, rồi cả hai xuống xe h́ hục đẩy xe lên những ngọn
đồi dẫn đến hay đi từ con phố chính. Cảnh đẩy xe như thế vẫn
thường thấy trong làng. Xe đạp vừa là phương tiện di chuyển vừa
là gánh nặng của chúng tôi.
Ông Gleason cũng có xe đạp, mỗi giờ ăn trưa, ông lại đẩy hay
đạp xe từ những công sở trong phố về căn nhà gỗ của ông ngoài
hẽm Mason. Khoảng chạy chừng 3 dặm. Người ta kháo nhau rằng ông
Gleason kén ăn, không muốn ăn bánh ḿ kẹp vợ ông làm, hay cả
thức ăn nóng có sẵn ở quán cà phê của bà Lessing.
Những ngày ông Gleason đạp hay đẩy xe đi và về từ những công
sở trong phố như thế, mọi chuyện trong làng tiến hành b́nh
thường. Chỉ khi ông ta về hưu mới bắt đầu có chuyện trục trặc.
Bởi v́ từ ngày ấy ông Gleason bắt đầu cho xây một bức tường cao
bao quanh lô đất 2 mẫu trên đồi trọc Bald Hill. Ông ta đă trả hớ
cho miếng đất nầy. Ông đă mua lại từ Johnny Weeks mà tôi nghĩ
phải chịu trách nhiệm về mọi chuyện trục trặc sau nầy, trước
tiên là v́ hắn đă lừa ông Gleason, và thứ nữa là v́ chính chuyện
hắn đă bán miếng đất ấy cho ông ta. Ông Gleason thuê một đám lao
công người Tàu và khởi sự xây tường. Lúc ấy, chúng tôi hiểu ra
rằng chúng tôi đă làm ông ấy phật ḷng. Bố tôi đạp xe lên tận
Bald Hill để gắng thuyết phục ông Gleason bỏ chuyện xây tường,
bởi không ai cần đến những bức tường ngăn cách như thế trong
làng nầy. Rằng chẳng ai muốn ḍm ngó ǵ ông ấy, hay chuyện ông
muốn làm ǵ ở Bald Hill cả. Chẳng ai quan tâm đến ông Gleason
đâu. Ông Gleason, chỉnh tề trong bộ áo quần thể thao mới, chỉ
cúi mặt xuống mỉm cười. Đạp xe trở về, Bố tôi nghĩ có lẽ đă nói
quá lời, v́ sự thật th́ chúng tôi cũng có quan tâm đến ông
Gleason chứ sao không. Bố tôi quay xe trở lại mời ông Gleason
đến dự hội khiêu vũ vào Thứ Sáu tới, nhưng ông Gleason nói ông
không thích nhảy.
- "Cũng đâu có sao". Bố tôi nói. - "Bất cứ lúc nào được, mời
ông đến chơi".
Ông Gleason quay lại, tiếp tục chỉ huy đám lao công người Tàu
của ông, xây tường.
Đồi Bald Hill sừng sững trên cao nh́n xuống phố, từ cây xăng
nhỏ bé của Bố tôi có thể ngồi ngắm bức tường cao dần lên. Một
khung cảnh khá thú vị. Tôi ngắm cảnh ấy trong 2 năm, trong lúc
chờ khách đến thưa thớt. Sau giờ học và suốt những ngày Thứ Bảy,
tôi có trọn th́ giờ để ngắm công tŕnh xây tường tiến chậm đến
sốt ruột ấy. Sốt ruột như một chiếc đồng hồ.
Đôi khi tôi c̣n thấy đám lao công người Tàu mang gạch nhún
nhảy chạy trên các tấm gỗ dài. Ngọn đồi th́ trọc, mà ông Gleason
v́ lư do ǵ đấy, lại xây tường bao quanh khoảng đất không cây
cối ǵ cả. Lúc đầu, người ta lấy làm kỳ quái sao lại có người
muốn xây một bức tường lớn như thế trên đồi Bald Hill. Đồi nầy
chỉ có ưu điểm duy nhất là nh́n thấy khắp cả khu phố, mà ông
Gleason lại đang xây tường để ngăn cái nh́n ấy! Lớp đất thịt
trên mặt th́ mỏng, nhiều chỗ trơ ra đất sét. Chẳng thứ cây nào
lớn được ở đấy. Mọi người đồ rằng ông Gleason hẳn chỉ đơn giản
là đă phát điên rồi, và lúc đầu c̣n ṭ ṃ t́m hiểu, về sau họ
đành chấp nhận chuyện ông ấy điên, cũng như chấp nhận bức tường
của ông, cũng như đă chấp nhận ngọn đồi trọc Bald Hill.
Thỉnh thoảng lại có người lạ nào đấy đến mua xăng ở cây xăng
của Bố tôi, hỏi chuyện bức tường, để Bố tôi nhún vai, và tôi lại
thấy một lần nữa, cái kỳ quái của bức tường ấy.
- "Xây nhà hả?". Người lạ hỏi. - "Trên đồi trọc ấy sao?"
Bố tôi trả lời: - "Không, chỉ là bức tường do một tay tên là
Gleason xây đấy mà".
Người lạ lại muốn biết: để làm ǵ, và Bố tôi lại nhún vai,
ngước nh́n về phía Bald Hill mà nói:
- "Chính tôi cũng muốn biết đây".
Ông Gleason vẫn c̣n ở nhà cũ trong hẽm Mason, một căn nhà gỗ
thông-thường, có vườn hồng phía trước, mảnh vườn rau bên hông,
và vườn cây ăn trái phía sau nhà. Đôi khi lũ trẻ chúng tôi đạp
xe lên Bald Hill ban đêm. Cuốc xe khổ nhọc, mỏi đừ bắp thịt, khổ
nhất là khoảng dốc lên thật gấp chưa làm đường mà chúng tôi phải
đẩy xe lên, phổi khô khốc trong không khí ban đêm. Lên đến nơi,
chẳng thấy ǵ ngoài bức tường. Một lần chúng tôi đập vỡ vài viên
gạch trên tường, và lần khác ném sỏi vào các lều mà đám lao công
người Tàu đang ngủ. Chúng tôi làm thế để biểu lộ sự bực bội v́
bức tường khó hiểu nầy.
Bức tường ấy hẳn đă hoàn thành một ngày trước Sinh nhật thứ
12 của tôi. Tôi nhớ ḿnh đang tham gia tiệc Sinh nhật ngoài trời
trên vùng Suối 11 Dặm - Eleven Mile Creek. Chúng tôi nhóm lửa và
nướng thịt ở quăng uốn khúc của ḍng suối, từ đó có thể nh́n
thấy bức tường trên đồi Bald Hill. Tôi nhớ đang đứng cầm một đĩa
thịt nóng sốt trên tay th́ có người la lên: "Trông ḱa, họ rời
đi đấy!".
Chúng tôi đứng trên bờ suối, nh́n đám lao công người Tàu dẫn
xe đạp từ từ đi xuống đồi. Có ai đấy bảo rằng họ sắp sửa xây một
ống khói lớn trên khu mỏ A.1, và quả thật bây giờ đă có một ống
khói lớn ở nơi ấy, nên tôi đoán là do đám lao công người Tàu xây
lên.
Khi chuyện bức tường đă xây xong truyền đi th́ hầu như cả
làng đều lên đấy xem. Họ đi ṿng quanh 4 bức tường trông cũng
nhàm chán không khác ǵ mọi bức tường khác. Họ dừng chân trước
những cổng gỗ lớn, cố ḍm qua, nhưng chỉ thấy bên trong có một
bức tường chắn nhỏ nữa, rơ ràng là được dựng lên để ngăn chặn
chuyện ḍm ngó. Các bức tường đều cao 3 thước, trên gắn miểng
chai và dây kẽm gai. Khi hiểu ra là không thể khám phá ra những
ǵ bên trong những bức tường ấy, mọi người chán nản bỏ về.
Ông Gleason đă lâu không c̣n vào phố nữa. Thay vào đấy, bà vợ
đẩy chiếc xe thùng chở hàng từ hẽm Mason đến đường chính Main
Street, chất lên đấy những thức ăn và thịt - nhà ấy không mua
rau, họ tự trồng lấy - rồi kéo về hẽm Mason. Thỉnh thoảng, bà ấy
dừng lại bên chiếc xe thùng giữa đường dốc lên đồi Gell. Chỉ
đứng vậy thôi, chờ cho hơi thở b́nh thường trở lại. Chẳng ai hỏi
bà ta về bức tường. Họ biết bà không chịu trách nhiệm ǵ về
những bức tường ấy, và họ thương cho bà phải gánh vác sức nặng
của chiếc xe thùng cũng như sự điên rồ của ông chồng. Ngay cả
khi bà ấy viếng hiệu vật dụng xây cất Dixon , mua vôi, sơn và
keo ngăn nước, cũng chẳng ai hỏi bà mua để làm ǵ. Bà có lối
lảng mắt đi khi muốn tránh câu hỏi. Lăo Dixon xách vôi và sơn ra
xe thùng cho bà ta, và nh́n bà đẩy chúng đi khuất. Lăo nói: "Tội
nghiệp bà ấy".
Từ cây xăng tôi ngồi trong nắng, hay trong pḥng làm việc khi
tôi rầu rĩ nh́n những giọt mưa ngoài kia, thỉnh thoảng tôi thấy
ông Gleason đi ra đi vào khu đất của ông, chiếc bóng nhỏ nhoi
tuốt trên ngọn đồi Bald Hill. Và tôi nghĩ: "À, ông Gleason đấy",
nhưng không nghĩ ǵ hơn.
Đôi khi có vài người lạ lái xe lên đồi ấy xem có ǵ, thường
là v́ bị dân địa phương xúi giục rằng có chùa Tàu hay thứ ǵ lạ
trên ấy. Có lần một nhóm người Ư bày tṛ du ngoạn ngoài trời bên
ngoài những bức tường ấy, và chụp h́nh cho nhau trước cái cổng
đóng kín. Chỉ có Trời biết họ nghĩ có ǵ bên trong.
5 năm trong khoảng tôi 12 đến 17 tuổi, chẳng có ǵ làm tôi
chú ư đến những bức tường của ông Gleason. Những năm ấy biến mất
trong trí tôi và tôi chỉ nhớ rất ít về khoảng thời gian ấy. Tôi
đâm ra thích cô Suzy Markin và theo sau cô từ hồ bơi trên xe
đạp. Tôi ngồi ngay sau cô khi xem phim, và đi lang thang trước
nhà cô. Rồi cô dời nhà đi tỉnh khác và tôi ngồi trong nắng chờ
gia đ́nh cô trở lại.
Chúng tôi trở nên nhiệt thành trong chuyện tân trang nhà cửa.
Khi sơn màu đă có thể mua được th́ cả làng phát cuồng lên, qua
một đêm đă thấy bao nhiêu là nhà sơn những màu rỡ ràng. Rồi v́
sơn không có phẩm chất cao, nhanh chóng phai hay tróc đi, cả
làng trông như một vườn hoa héo úa. Nghĩ về những năm tháng ấy,
sự vật thật mà tôi nhớ lại được là tiếng kêu xịt nhỏ nhẻ của
những bánh xe đạp trên con đường chính. Bây giờ nhớ lại th́
tiếng ấy có vẻ êm đềm, nhưng ngày trước, nó đă khêu dậy trong
ḷng tôi cảm giác u buồn, như những buổi chiều khi mặt trời ch́m
xuống sau ngọn đồi Bald Hill, cả khu phố buồn như một pḥng
khiêu vũ trống vắng trong một chiều chủ nhật.
Rồi năm tôi 17, ông Gleason chết. Chúng tôi biết được điều ấy
khi thấy chiếc xe thùng của bà Gleason để trước nhà quàn Phonsey
Joy. Chiếc xe thùng đứng một ḿnh thật buồn trên đường lộng gió.
Chúng tôi nh́n chiếc xe và cảm thấy ái ngại cho bà Gleason, đời
sống của bà chẳng có ǵ thú vị cả.
Nhà quàn Phonsey Joy đưa xác ông Gleason ra nghĩa địa cạnh
nhà ga Parwan. Bà Gleason đi taxi theo sau. Người ta nh́n xe
tang chạy qua và nghĩ: " Ông Gleason đấy" nhưng không nghĩ ǵ
hơn.
Thế rồi, chưa đến một tháng sau ngày ông Gleason được chôn
cất ở nghĩa địa cô quạnh cạnh nhà ga Parwan, đám lao công người
Tàu đă trở lại. Thấy họ đẩy xe đạp lên đồi, tôi đang đứng với Bố
tôi và Phonsey Joy, tự hỏi không biết là chuyện ǵ. Rồi tôi thấy
bà Gleason bước lên đồi. Tôi suưt không nhận ra bà ấy v́ không
thấy chiếc xe thùng thường ngày. Bà cầm một cây dù màu đen, bước
chậm răi lên đồi, và chỉ khi bà dừng lại để thở, tựa người tới
trước, tôi mới nhận ra bà ấy.
- "Xem bà Gleason ḱa". Tôi nói. - "Bên đám người Tàu ấy".
Nhưng phải đợi đến sáng hôm sau mới rơ được chuyện ǵ xẩy ra.
Người ta đứng đầy con phố chính như những lúc có đám tang lớn,
nhưng thay v́ nh́n về góc đường Grant có nhà quàn, họ nh́n cả
lên đồi Bald Hill. Cả ngày hôm ấy và ngày hôm sau, người ta tụ
lại xem cảnh phá đổ các bức tường. Họ thấy đám lao công người
Tàu chạy tới chạy lui, nhưng chỉ đến khi một mảng lớn của bức
tường bị đập hẳn xuống, chúng tôi mới hiểu ra rằng quả thật có
ǵ ở bên trong các bức tường ấy. Vẫn không thể nh́n rơ là cái
ǵ, nhưng chắc chắn có cái ǵ đấy. Người ta đứng đấy thắc mắc và
chỉ trỏ bà Gleason cho người khác thấy khi bà ấy đi tới đi lui
chỉ huy công việc.
Cuối cùng, riêng lẻ hay từng cặp, xe đạp hay lội bộ, cả làng
leo lên đồi Bald Hill. Anh Dyer đóng cửa tiệm thịt, Bố tôi đem
chiếc xe tải Chev già nua ra và cả 12 người leo lên chạy đến
Bald Hill. Các người nầy dồn đống trong khung xe hay bám vào
vách khung xe, và Bố tôi thận trọng lái xe luồn lách trong đám
xe đạp, rồi đậu xe lại ngay chỗ khoảng dốc lên cao chưa làm
đường. Chúng tôi lê bước trên dốc nầy, hoàn toàn chẳng biết sẽ
thấy được những ǵ ở trên đỉnh.
Trên đỉnh thật yên lặng. Đám lao công người Tàu cần cù làm
việc. Họ đang âm thầm phá bức tường thứ 3 và thứ 4, cạo sạch các
viên gạch, chất lên thành đống thẳng thớm. Bà Gleason cũng chẳng
nói năng ǵ. Bà đứng ở góc c̣n lại của các bức tường, trừng mắt
nh́n vào đám người dưới phố đang đứng há hốc miệng ngạc nhiên ở
chỗ trước đây là một góc tường.
Ngay giữa chúng tôi và bà Gleason là một quang cảnh không thể
tưởng tượng được, quang cảnh đẹp nhất mà tôi được thấy trong
suốt đời tôi. Lúc đầu tôi không nhận ra. Tôi đứng há hốc mồm,
như bị thôi miên bởi vẻ đẹp đến kinh ngạc của quang cảnh ấy. Và
tôi nhận ra đấy chính là làng tôi. Những toà nhà chỉ cao chừng
60 phân, có vẻ hơi thô, nhưng thật chính xác. Tôi thấy anh Dyer
thúc khủy tay vào Bố tôi, th́ thầm rằng ông Gleason đă vẽ đúng
cả chữ "U" mờ nhạt trên bảng hiệu tiệm thịt "BUTCHER" của anh.
Tôi nghĩ rằng lúc ấy tất cả mọi người đều ngợp trong một niềm
vui giản dị thật lớn. Chính tôi chưa bao giờ cảm thấy vui vẻ,
hạnh phúc đến thế. Có thể là một t́nh cảm bồng bột có hơi trẻ
con, nhưng tôi ngước nh́n lên Bố tôi thấy nụ cười dẫn hơi ấm đến
khắp cả khuôn mặt của ông, khiến tôi hiểu rằng ông cũng đang cảm
thấy hạnh phúc giống như tôi.
Sau nầy Bố tôi bảo tôi rằng ông nghĩ ông Gleason đă xây dựng
mô-h́nh làng tôi chỉ cho giờ phút nầy đây, để tất cả chúng tôi
thấy được vẻ đẹp của làng ḿnh, để chúng tôi hănh diện về chính
ḿnh và ngừng mơ những giấc mơ Hoa Kỳ cám dỗ kia. Những ǵ xảy
ra sau đó th́, Bố tôi bảo, không có trong dự tính của ông
Gleason và ông đă không thể nào dự tưởng trước được.
Tôi cho rằng ư kiến nầy của Bố tôi có phần cảm-thương thái
quá, và lại có thể đă xem nhẹ khả năng của ông Gleason. Riêng
tôi th́ nghĩ rằng ông ấy đă đoán trước được mọi chuyện sẽ xẩy
ra. Ngày nào đó thuyết của tôi có thể được chứng minh. Chắc chắn
là phải có những giấy tờ cá nhân c̣n để lại, và những giấy tờ
nầy sẽ chứng minh được là ông Gleason đă hiểu chính xác những ǵ
sẽ xẩy ra.
Chúng tôi đă bị choáng ngợp bởi mô-h́nh đẹp đẽ của làng ḿnh
đến nỗi không nhận ra được điều đáng kể nhất. Không phải ông
Gleason chỉ xây dựng những nhà cửa, tiệm buôn của làng, mà ông
c̣n tạo nên cả các mô-h́nh người thực trong các phố nữa. Dơi
theo các nơi trong mô-h́nh, chúng tôi bất ngờ thích thú nhận ra
chính ḿnh trong ấy. "Nh́n ḱa" Tôi bảo anh Dyer. -"Anh đấy chứ
ai". Và quả thật là anh ấy, đứng trước tiệm thịt của anh, cũng
mặc tạp-đề như thế. Cúi gập người xuống để quan sát cho kỹ
mô-h́nh người nhỏ xíu ấy, tôi sửng sốt nh́n khuôn mặt của h́nh
người. Mẫu mă có phần thô, sơn thiếu tỉ mỉ, và mặt xem có vẻ
nhợt nhạt, nhưng nét mặt th́ hoàn toàn tuyệt vời: đôi môi nhíu
lại như trêu chọc, và đôi lông mày nhướng lên ấy th́ đúng là anh
Dyer, không c̣n là ai khác trên cơi đời nầy. Và đấy, bên cạnh
anh Dyer là Bố tôi, ngồi bệt trên lối đi, nh́n say đắm bộ biến
tốc trong chiếc xe đạp của anh Dyer, mặt ông có vết dầu nhớt, và
hy vọng.
Và tôi đấy, ở cây xăng, đang tựa người vào trụ bơm xăng trong
dáng đứng của một tay ch́ Hoa Kỳ, nói chuyện với Brian Sparrow
đang cố chọc tôi cười với ngón hề cố hữu.
Phonsey Joy đấy, đứng bên xe táng của anh ta. Lăo Dixon ngồi
trong tiệm vật liệu xây cất. Tất cả những người tôi biết đều có
mặt trong cái ngôi làng nhỏ xíu ấy. Không ở trên đường, hay vườn
sau th́ cũng ở trong nhà. Và không bao lâu, người ta hiểu ra
rằng c̣n có thể giở cả các mái nhà lên để xem được cả bên trong.
Chúng tôi rón rén đi ṿng các đường, nh́n vào các cửa sổ của
nhau, giở các mái nhà của nhau lên, tán thưởng vườn tược của
nhau. Trong khi ấy, bà Gleason im ĺm nhón gót chuồn thẳng xuống
đồi về hẽm Mason. Bà không nói ǵ với ai mà cũng chẳng ai nói ǵ
với bà.
Xin thú thật rằng tôi là người đă giở mái nhà Cavanagh, do
đấy tôi là người đầu tiên thấy quả-tang bà Cavanagh đang nằm
trên giường với cậu trai trẻ Craigie Evans. Tôi đứng sững hồi
lâu, không tin vào mắt ḿnh. Tôi nh́n trừng trừng vào cặp ấy một
hồi lâu thật là lâu. Khi tôi cuối cùng hiểu ra cái ǵ tôi đang
nh́n thấy đấy, tôi cảm thấy lẫn lộn kinh khủng t́nh cảm ghen tỵ
lẫn tội lỗi lẫn ngạc nhiên đến nỗi không biết phải làm ǵ với
cái mái nhà. Cuối cùng Phonsey Joy lấy cái mái nhà từ trên tay
tôi mà lắp trở lại vào chỗ cũ, như đậy lại một cái nắp ḥm.
Đến lúc ấy th́ nhiều người khác cũng đă thấy những ǵ tôi
thấy, và dư luận nhanh chóng lan ra. Thế rồi tất cả chúng tôi
đứng lại thành nhóm và nh́n mô-h́nh khu phố với một t́nh cảm chỉ
có thể là sự sợ hăi. Nếu ông Gleason biết chuyện bà Cavanagh với
cậu Craigie Evans trong khi chẳng ai khác biết cả, th́ không
hiểu ông ấy c̣n biết thêm những chuyện ǵ khác nữa không? Những
người chưa nhận ra ḿnh ở đâu trong mô-h́nh ấy bắt đầu lộ vẻ ưu
tư và lưỡng lự không biết có nên tiếp tục t́m chính ḿnh trong
ấy hay không. Chúng tôi im lặng nh́n đăm đăm các mái nhà, cảm
thấy tội lỗi và mất tin tưởng.
Rồi tất cả chúng tôi đi xuống đồi, âm thầm như rời một đám
tang, chỉ nghe tiếng sỏi lạo xạo dưới gót chân, và các bà th́
lúng túng v́ những đôi giày cao gót.
Ngày hôm sau, một cuộc họp khẩn cấp đặc biệt của Hội đồng khu
phố thông qua một chỉ thị đ̣i bà Gleason phải phá hủy mô-h́nh
khu phố với lư do vi phạm các điều luật xây cất.
Nhưng không may là chỉ thị nầy chưa kịp thi hành th́ báo chí
trên tỉnh đă hay biết. Ngay ngày hôm ấy, chính phủ đă can thiệp
vào. Toàn bộ mô-h́nh nhà cửa và người phải được bảo tồn. Bộ
trưởng Bộ Du lịch đến trong một chiếc xe hơi đen lớn và đọc diễn
văn trước chúng tôi trong sân đá bóng. Chúng tôi ngồi trên những
ghế bậc thang trên cao, ăn những lát khoai tây chiên trong khi
ông ấy đứng tựa lưng vào hàng rào, nói chuyện. Chúng tôi nghe
không rơ lắm, nhưng nghe thế cũng đủ rồi. Ông ta gọi mô-h́nh ấy
là một công tŕnh nghệ thuật. Chúng tôi nh́n trừng trừng vào ông
ta với vẻ khó chịu. Ông ta nói mô-h́nh ấy sẽ là một cảnh quan du
lịch vô giá. Du khách từ khắp các nơi sẽ đổ về đây để xem
mô-h́nh. Chúng tôi sẽ nổi tiếng. Doanh nghiệp sẽ phát triễn tột
bực. Sẽ có thêm nhiều công ăn việc làm cho những người hướng dẫn
du lịch, thông ngôn, tiếp khách, taxi, người bán nước ngọt, kem
lạnh,…
Ông ta bảo người Mỹ sẽ đến. Họ sẽ viếng thăm làng chúng tôi
bằng xe buưt, xe nhà, tàu điện. Họ sẽ chụp h́nh. Họ sẽ mang đến
những ví tiền đầy ắp giấy bạc. Mà là giấy bạc Mỹ nữa chứ.
Chúng tôi nh́n ông Bộ trưởng với vẻ đầy nghi ngờ, không hiểu
ông ấy có biết ǵ về chuyện bà Cavanagh. Ông ta chắc là có để ư
đến lối nh́n ấy, nên nói rằng một vài thứ có vẻ gây dư luận xáo
trộn, th́ đă được lấy đi rồi. Chúng tôi nhích người trên ghế
ngồi, như khi xem phim đến đoạn gay cấn tột đỉnh. Rồi chúng tôi
thư giăn lại và lắng nghe xem ông Bộ trưởng nói ǵ. Và tất cả
bắt đầu mơ lại những giấc mơ Hoa Kỳ.
Chúng tôi mơ những chiếc xe hơi to lớn, chạy êm xuôi len lỏi
qua các đường phố sáng trưng ánh đèn; chúng tôi vào những hộp
đêm sang trọng, nhảy nhót cho đến sáng; chúng tôi làm t́nh với
đàn bà đẹp như Kim Novak và đàn ông đẹp như Rock Hudson; chúng
tôi uống những cốc rượu-pha thời thượng; chúng tôi nh́n lơ đăng
những tủ lạnh đầy ắp thực phẩm; chúng tôi dọn lên những bữa ăn
đêm thịnh soạn, vừa ăn vừa xem TV, những giàn TV to tướng chiếu
phim Mỹ không tốn tiền, măi măi …
Ông Bộ trưởng, như nhân vật nào đấy trong những giấc mơ Hoa
Kỳ của chúng tôi, bước vào chiếc xe đen to lớn, từ từ rời khỏi
sân đá bóng khiêm nhượng của chúng tôi. Rồi đến lượt các nhà báo
tràn ngập sân với máy h́nh và sổ sách của họ. Họ chụp h́nh chúng
tôi, chụp h́nh mô-h́nh trên đồi Bald Hill. Ngày hôm sau, h́nh
chúng tôi tràn ngập trên tất cả các tờ nhật báo. Họ đăng h́nh
của các h́nh người trong mô-h́nh đối chiếu bên cạnh các người
thật. Cả tên tuổi, nghề nghiệp, việc làm của chúng tôi cũng được
đăng lên rơ ràng trên ấy. Họ phỏng vấn cả bà Gleason nhưng bà
chẳng nói ǵ đáng kể, chỉ bảo rằng mô-h́nh ấy là thú vui của
chồng bà lúc c̣n sống.
Chúng tôi tất cả đều cảm thấy khoan khoái. Thật thích thú khi
h́nh ḿnh được đăng lên báo. Một lần nữa, chúng tôi thay đổi ư
kiến về ông Gleason. Hội đồng khu phố lại triệu tập một phiên
họp đặc biệt quyết định đặt tên cho con đường đất dốc lên đồi
Bald Hill là "Đường Gleason". Rồi tất cả chúng tôi về nhà đợi
những người Mỹ đến, như Ông Bộ trưởng đă hứa hẹn.
Vâng, họ đến thật. Để tôi nói cho rơ câu chuyện xẩy ra như
thế nào.
Người Mỹ đến mỗi ngày bằng xe buưt và xe nhà, đôi khi có
những người trẻ đến bằng tàu điện. Nay lại có thêm một đường bay
nhỏ gần nghĩa địa Parwan, và họ cũng đến đấy trên những chiếc
phi cơ loại nhỏ. Phonsey Joy đưa họ đến nghĩa địa để họ xem mộ
ông Gleason, xong leo lên đồi Bald Hill, rồi xuống phố. Hắn làm
ăn rất khá, đấy là điều tốt. Phonsey Joy trở thành một thân hào
nhân sĩ và có chân trong Hội đồng khu phố.
Trên Bald Hill có thêm nửa tá kính viễn vọng để cho người Mỹ
ḍm xuống khu phố mà vững tâm rằng ở đấy rơ ràng là giống với
mô-h́nh trên đồi Bald Hill. Herb Gravney bán kem lạnh. nước ngọt
và phim ảnh cho họ. Anh ta cũng là một người làm ăn khá. Anh ta
mua trọn mô-h́nh từ bà Gleason rồi bán vé vào cửa 5 Mỹ kim. Rồi
Herb cũng được vào Hội đồng khu phố. Anh ta làm ra tiền rất
nhiều, nhất là từ việc bán phim cho du khách để họ chụp h́nh
những nhà cửa và người trong mô-h́nh rồi cầm bản đồ đặc biệt
xuống phố t́m nhà cửa và người thật cho giống với mô-h́nh để
chụp h́nh mà so sánh.
Nhưng thật t́nh th́ phần lớn chúng tôi đều đă chán chuyện nầy
quá rồi. Du khách cứ t́m đến Bố tôi, yêu cầu ông ngồi nh́n chăm
chú vào bộ biến tốc trong chiếc xe đạp của Dyer. Tôi thấy ông
băng qua đường với vẻ trầm tư, đầu cúi xuống. Ông không c̣n chào
hỏi người Mỹ nữa. Ông không c̣n hỏi họ về TV màu, hay thành phố
Washington DC . Ông quỳ gối trên lối đi, trước chiếc xe đạp của
Dyer. Họ đứng quanh ông. Thường thường, họ nhớ lộn h́nh người
trong mô-h́nh rồi bắt Bố tôi phải đứng ngồi theo ư họ. Lúc đầu
ông c̣n tranh căi với họ, riết rồi đành thôi, cứ làm theo ư họ
muốn. Họ đẩy ông phía nầy phía kia và băn khoăn sao nét mặt của
ông chẳng c̣n giống ǵ với mô h́nh nữa.
Rồi tôi biết là họ sẽ t́m đến tôi, bởi tôi là người kế tiếp
trên tấm bản đồ đặc biệt ấy. Tôi đặc biệt v́ những lư do ǵ đấy
không rơ. Đă 4 năm nay, du khách đến t́m tôi và cây xăng của
tôi. Tôi chẳng mong đợi ǵ họ v́ tôi biết ngay trước khi họ đến
rằng họ sẽ thất vọng.
- "Nhưng đây đâu phải là cậu ấy?"
- "Đúng là cậu ấy đấy mà". Phonsey Joy nói, bắt tôi đưa cho
họ xem chứng chỉ của tôi. Họ khám xét chứng chỉ với vẻ nghi ngờ,
mân mê tờ giấy ấy như có thể là giấy giả mạo. "Không phải".
Người Mỹ thật là tự tín.
- "Không phải". Họ lắc đầu. "Không phải là cậu bé ấy. Cậu ấy
phải trẻ hơn kia".
- "Th́ cậu ấy đă lớn lên rồi. Cậu ấy lúc trước th́ trẻ thế
đấy chứ".
Phonsey Joy có vẻ lo lắng khi giải thích cho họ hiểu. Anh ta
có đủ lư do để phải lo lắng.
Những người Mỹ ấy nh́n sát vào mặt tôi. - "Cậu nầy khác thật
mà".
Nhưng cuối cùng, họ cũng lấy máy ảnh ra. Tôi đứng chán nản,
gượng làm ra vẻ vui thích như ngày trước. Ông Gleason đă nh́n
thấy tôi trong vẻ vui thích thế đấy nhưng tôi chẳng c̣n nhớ là
như thế nào nữa. Lúc ấy tôi đă nh́n Brian Sparrow. Nhưng Brian
giờ đây cũng đă mỏi mệt rồi. Hắn thấy khó mà diễn lại những động
tác hề diễu ngày trước, và người Mỹ thấy mấy động tác của hắn
chẳng có ǵ vui. Họ thích mô h́nh kia hơn. Tôi buồn rầu nh́n bạn
ḿnh, tiếc cho hắn phải diễn tṛ trước một đám khán giả thiếu
cảm t́nh như thế.
Người Mỹ trả 1 Mỹ kim để chụp h́nh chúng tôi. Đă trả tiền rồi
nên họ lo bị lường gạt. Họ không ngừng băn khoăn v́ thất vọng,
c̣n tôi th́ không ngừng băn khoăn v́ ư thức phạm tội, rằng tôi
làm họ thất vọng v́ đă lớn lên và buồn thêm.
PETER CAREY
Phạm Vũ Thịnh chuyển ngữ
Sydney 03-2004
Bài đă đăng trên Hợp Lưu - số 79
........
Mời đọc thêm :
*
"Nói chuyện với kỳ lân" của Peter Carey
*
Peter Carey - Tiểu thuyết gia hiện đại Úc
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của dịch giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"
Cảm tưởng, ư kiến xin gởi về pvthinh@erct.com
or exryu_cuoituan@yahoo.com
|