|
|

Năm Thư-thể cho
Thư-pháp chữ Hán

Phạm Vũ
Thịnh
Theo chỗ tôi
t́m hiểu th́ Chữ Hán trải qua hàng ngàn năm hệ thống hóa, tiêu
chuẩn hóa và đơn giản hóa, đến nay vẫn c̣n lưu hành năm lối chữ
viết (gọi là "書
thư")
căn bản trong thư pháp chữ Hán, là Triện, Lệ, Thảo, Hành, Khải.
Xin ghi ra đôi điều sơ lược về lịch sử các lối viết chữ Hán ấy:
Bắt đầu từ
Giáp cốt văn tự
甲骨文字
là tên gọi loại chữ
viết cổ nhất được khai quật từ di tích của triều đại nhà Thương,
khoảng từ năm 1600 TCN (trước Công nguyên) đến năm 1046 TCN, gồm
những kư tự ghi chép về bói toán cổ đại, được ghi trên mai rùa
hoặc xương động
vật (như xương bả vai của loài ḅ,...) là dạng chữ Hán lâu đời
nhất có thể xác nhận được hiện nay. Mặc dù Giáp cốt văn có dạng
chữ tượng h́nh, nhưng cũng đă phát triển đến mức trừu tượng khá
cao. V́ là dạng chữ Hán cổ nhất có thể xác nhận, nên được sử dụng
làm cơ sở để giải thích về h́nh dạng các loại kư tự phát hiện thêm
sau đó.
Xuất hiện
sau Giáp cốt văn là loại Kim thuộc văn
金文
gồm
các kư tự được đúc hoặc khắc trên bề mặt đồ đồng cuối đời nhà
Thương và trong đời nhà Chu, từ 1046 TCN đến 256 TCN.
Có nguồn gốc từ Kim thuộc văn
là Triện-thư-thể, dạng kư tự c̣n được gọi là Cổ-Triện, tức lối
viết chữ Triện cổ, chung cho chữ Hán, chữ Mông Cổ và chữ Măn Châu,
vào cuối đời nhà Chu, sau đó phát triển trong thời Chiến Quốc, thế
kỷ thứ 5 TCN - 221 TCN, dần dần được hệ thống hóa và tiêu chuẩn
hóa thành lối chữ viết chính thức gọi là chữ Triện (seal script,
ngày nay dùng trong ấn triện, con dấu.)
Thời kỳ sơ khởi từ 475 TCN,
h́nh dạng các chữ Cổ-Triện không thống nhất, cùng một chữ mà mỗi
nước có cách đọc khác nhau, hay cùng một nghĩa mà mỗi nước có cách
viết chữ khác biệt. Sau khi thống nhất cả sáu nước, Tần Thủy Hoàng
sai thừa tướng Lư Tư (284-208 TCN) thực hiện chính sách thống nhất
văn tự, băi bỏ tất cả các dạng chữ không đồng nhất với nước Tần,
đồng thời đơn giản hóa thành lối chữ gọi là Tiểu-Triện. Chính sách
thống nhất văn tự này ban đầu chỉ phục vụ mục đích chính trị của
Tần Thủy Hoàng, nhưng kết quả đă là bước đầu tiên tiêu chuẩn hóa,
giản lược hóa và chính thống hóa chữ Hán, sau này đă đưa đến một
quốc gia lớn mạnh thống nhất được nhiều dân tộc vốn có ngôn ngữ
hay phương âm khác biệt, căn bản là nhờ vào một hệ thống văn tự
chung.
Vào đầu thời Tây Hán, 206 TCN
đến năm thứ 8 sau Công nguyên, đă có sự chuyển đổi đơn giản hóa
từ lối viết chữ Triện sang lối viết chữ Lệ (clerical script, Lệ có
nghĩa là quy tắc) dùng cho văn thư chính thức.
Rồi từ lối chữ Lệ, nỗ lực đơn
giản hóa thêm đă giúp nảy sinh ra lối viết chữ Hành (running
script, Hành có nghĩa là bước vội).
Và cũng từ trong thời đại ấy,
dạng chữ Lệ lại được đơn giản hóa cực kỳ để tạo ra lối viết chữ
Thảo-Lệ, thích hợp cho lối viết tắt viết nhanh (người Việt gọi là
viết tháu.)
Đến
thời Đông Hán, 25 – 220, lối chữ Thảo-Lệ đă phát triển hơn nữa,
trở thành lối viết tốc kư tiêu chuẩn hóa ngày nay gọi là Thảo thư
(cursive script, lối chữ Thảo).
Cũng trong thời đại ấy, lối
viết chữ Lệ phát triển mạnh mẽ thêm lên khi Nho giáo được chính
thức hóa là quốc giáo dưới chính quyền ổn định, việc sử dụng Lệ
thư để ghi khắc bán-vĩnh-viễn trên đá trở nên phổ biến.
Từ thời Nam Bắc Triều 420 -
589 cho đến cuối đời Đường năm 907, lối chữ Khải đơn giản hóa và
tiêu chuẩn hóa thêm từ lối chữ Lệ đă trở thành lối viết chữ Hán
tiêu chuẩn chính thức (regular script, Khải nghĩa là mở ra, hay
bắt đầu.)
H́nh dưới đây cho thấy ví dụ
chữ Đức, từ trái sang, hàng trên viết theo Kim văn, Tiểu Triện, Lệ
thư, và hàng dưới viết theo Khải thư, Hành thư, Thảo thư.
Ngày nay, có thể hiểu tóm gọn như
sau:
Lối chữ
Triện (篆書
Triện
thư, seal script) cổ nhất và nhiều kiểu mẫu h́nh dạng nhất, được
dùng nhiều trong thư họa và con dấu (ấn triện.)
Lối chữ Lệ (隷書
Lệ
thư, clerical script) đơn giản hóa từ chữ Triện, vốn đă được dùng
để viết sổ sách tư liệu trong triều đ́nh thời xưa.
Lối chữ Thảo
(草書
Thảo
thư, cursive script) là lối viết nhanh viết tắt lối chữ Lệ đơn
giản hóa cực kỳ, được giới trí thức ưa chuộng để ghi nhanh trong
bản thảo, bản nháp, các bản văn không chính thức.
Lối chữ Hành
(行書
Hành
thư, running script) đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa từ lối chữ Lệ.
Lối chữ Khải
(楷書
Khải
thư, regular script) là lối chữ mẫu mực hóa thêm nữa từ lối chữ
Hành, viết từng nét tách bạch không dính vào nhau, trong khung
vuông đúng nghĩa "chân phương", được dùng cho văn kiện văn bản
chính thức.
*
Hán tự căn bản là loại chữ
tượng h́nh, mỗi chữ phát sinh từ một h́nh tượng cụ thể, hoặc từ
một khái niệm hay liên tưởng khơi gợi được h́nh ảnh như trong một
khung tranh. Do đó, thêm với chức năng cố hữu của văn tự là truyền
đạt và ghi giữ lũy tích thành văn minh, Hán tự đặc biệt c̣n có vẻ
đẹp của tranh ảnh, khiến cho thay v́ chỉ cần một lối chữ viết (chữ
Khải chẳng hạn), ngày nay và cả sau này nữa, năm lối chữ viết nói
trên đều c̣n song song tồn tại và phát triển, cả trong lĩnh vực
nghệ thuật như thư họa, thư pháp, lẫn lĩnh vực thực dụng, thương
mại như ấn triện được dùng thay chữ kư, sưu tập và buôn bán thư
pháp, tranh ảnh thư họa.
Và cả năm lối chữ viết ấy đều
có giá trị mỹ thuật riêng, "mỗi lối một vẻ mười phân vẹn mười".
Phạm Vũ
Thịnh
Sydney,
11/01/2025
®
"Khi phát hành lại thông tin
từ trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"
Cảm tưởng, ư kiến xin gởi về
t4phamvu@hotmail.com
|
|