Bài thơ Hoàng Hạc Lâu qua 5 Thư pháp

 

 

Phạm Vũ Thịnh

 

 

HoangHacLau_ThaoThu_KhacDa02.jpg

 

HHL 01 : Hoàng Hạc Lâu - Khải thư

 

Facebooker Nguyễn Hữu Nghĩa nguyên là chủ báo kiêm chủ bút tờ Làng Văn, tạp chí văn học đă lưu hành rộng răi một thời. Anh là nhà báo và là nhà văn, nhà thơ Cung Vũ, nhà tiểu luận Bếp Mập, nhà biên khảo Bút Ch́, ca nhạc sĩ tự biên tự diễn,... và mới đây đă cho đăng thủ bút thư họa của anh viết bài thơ chữ Hán "Hoàng Hạc Lâu" của Thôi Hiệu. Anh bảo là viết vào "hồi nhỏ", mà nét chữ đă sắc sảo, cứng cỏi, rất đẹp.

Nhân đọc stt của anh, tôi mới t́m ṭi bài thơ Hoàng Hạc Lâu qua các bản thư pháp khác nhau theo 5 lối viết Khải, Hành, Lệ, Triện, Thảo. 

Hoàng Hạc Lâu hay Lầu Hạc Vàng là một kiến trúc cổ nổi tiếng từ xưa, ngày nay là một địa điểm văn hóa, lịch sử thu hút khách du lịch khắp nơi, phần lớn cũng nhờ bài thơ của Thôi Hiệu.

Hoàng Hạc Lâu được xây trên một vùng đá sỏi ở núi Xà Sơn, thành phố Vũ Hán, phía tây nam huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc vào khoảng năm 223. Có truyền thuyết là Phí Văn Vĩ thành tiên cưỡi hạc vàng ngao du, đă dừng lại trên Xà Sơn ngắm cảnh, một bên là Trường Giang (sông Dương Tử) và bên kia là Ngũ Hồ. Sau này, từ nơi ấy người ta xây lên một ngọn tháp, đặt tên là Hoàng Hạc Lâu, trở thành nơi gặp gỡ của các thi văn nhân, tao nhân mặc khách mang bầu rượu túi thơ đến thưởng ngoạn phong cảnh hữu t́nh vừa ăn cỗ uống rượu, làm thơ.

Cho đến nay, Hoàng Hạc Lâu đă bị hủy hoại 12 lần v́ chiến loạn, dần được tu bổ từ 3 tầng lên 5 tầng. 

Thôi Hiệu (崔顥, 704 - 754), sống vào đời Đường (618 - 907), triều vua Đường Huyền Tông tức Minh Hoàng Lư Long Cơ. Ông là người Biện Châu (nay thuộc Khai Phong tỉnh Hà Nam), đỗ Tiến Sĩ năm 723, nổi tiếng thơ hay. Ngày nay thơ của ông chỉ c̣n lại 42 bài, trong đó, "Hoàng Hạc Lâu" được xem là một bài thơ hay bậc nhất đời Đường. 

 

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
 


         Dịch nghĩa:

Người xưa đă cưỡi hạc vàng đi mất rồi
Đất này c̣n trơ trọi lầu Hoàng Hạc trống không thôi.
Hạc vàng một đi không trở lại, 
Chỉ c̣n mây trắng lờ lửng ngàn đời. 
Cùng ḍng sông êm trôi soi h́nh rạng rỡ hàng cây dọc băi Hán Dương, 
Và cỏ thơm um tùm xanh ngắt cồn đất Anh Vũ giữa sông.
Chiều tàn, không thấy đâu cổng làng quê hương.
Khói sóng trên sông khơi động sầu thương trong ḷng.
 

 

Bản thư pháp Khải thư dưới đây đăng trên trang mạng cidianwang - Từ điển vơng tập. Bản chữ Khải có vẻ đẹp đoan trang, mực thước trong khuôn khổ, "ngang ngay sổ thẳng", cân xứng, trong sáng, rơ ràng, đến gần như là chữ in trên sách giáo khoa, nhưng vẫn không thiếu những nét hoa mỹ có cá tính của người viết bậc thầy.

HoangHacLau_KhaiThu00.jpg

 

Nh́n kỹ th́ thấy ba cặp chữ Hán "hoàng hạc" trong ba câu thơ đầu được viết hoàn toàn y hệt nhau, và các chữ lặp lại "du du" trong câu thứ 4, "lịch lịch" trong câu 5, và "thê thê" trong câu 6 cũng hoàn toàn y hệt nhau, không có một nét bút nào khác biệt tí chút nào cả; chữ viết tay mà trông cứ như là chữ in bằng máy! 

HHL 02 : Hoàng Hạc Lâu - Hành thư 

Bài Đường thi của Thôi Hiệu được truyền tụng hàng ngàn năm ấy đă khiến Thi tiên Lư Bạch (701 - 762, lớn hơn Thôi Hiệu 3 tuổi) khi đến viếng lầu Hoàng Hạc phải cảm thán: 

 

 

"Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
           Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu"

Có cảnh đẹp tuyệt trước mắt mà không nói lên ǵ được
          bởi Thôi Hiệu đă đề bài thơ ấy ngay phía trên đầu rồi.
 

 

Dù vậy, đă có không ít kẻ hậu sinh bạo gan hơn Thi tiên, đă làm thơ theo nhiều thi luật khác nhau, ca tụng vẻ đẹp hay hoài niệm về thời vàng son của lầu Hoàng Hạc.

Và cũng đă có không ít thi nhân nghệ sĩ Việt Nam qua nhiều thế hệ c̣n để lại nhiều bài thơ, nhiều bản dịch tiếng Việt xuất sắc c̣n được yêu thích ngày nay. Trong số đó, đặc biệt có hai bản dịch sau đây.  

Bản dịch của Tản Đà (1889 - 1939):

Tản Đà được xem là Nhà Thơ có biệt tài dịch thơ Đường sang thơ lục bát Việt Ngữ hay nhất. 
 

 

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngh́n năm mây trắng bây giờ c̣n bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Băi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai 

 

có lẽ là bản dịch lục bát đầu tiên, trở thành chuẩn mực khó có ai vượt qua hay lánh né chữ nghĩa được, làm khổ tất cả những nhà thơ chuyên hay không chuyên về sau này dám tính chuyện chuyển ngữ tám câu 7 chữ theo Đường luật, thành 8 câu lục bát, 6 rồi 8 chữ, chẳng đối chẳng cân ǵ cả.  

Bản dịch của Vũ Hoàng Chương (1916 - 1976):

Ông là một Giáo sư Văn chương, Triết Học và là một Nhà Thơ nổi tiếng bậc nhất trước 1975. 

 

 

Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương c̣n nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

 

bản dịch vẫn giữ khuôn khổ Đường luật, nhưng chủ ư hoạt dụng gần như hoàn toàn tiếng Việt thuần túy, thật b́nh dị nhưng không nôm na mà lại đầy thi vị, lời thơ trôi chảy êm đềm như chẳng hề có luật lệ ǵ g̣ ép cả, cứ như là nhà thơ họ Vũ đang thủ thỉ tâm sự nỗi niềm hoài hương với từng người đọc.

Khiến nhớ Hàn Mạc Tử cũng đă thủ thỉ những câu thơ Đường luật có t́nh tự Việt Nam như vậy, khiến người đọc quên bẳng đi là đang đọc thơ luật đời Đường:

 
     "Nằm ráng cũng không thành mộng được,
      Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi."  

Bản thư pháp Hành thư dưới đây là thủ bút của thư pháp gia Wu Hao (Ngô Hạo, sinh 1967). Bản chữ Hành này bay bướm, phóng túng hơn, trông có vẻ hoa mỹ hơn so với các bản chữ Khải.

 

HoangHacLau_HanhThu00.jpg

HHL 03 : Hoàng Hạc Lâu - Thảo thư 

Ḷng hoài cổ và t́nh hoài hương đầy thi vị của bài thơ Hoàng Hạc Lâu đă tạo được cộng cảm cộng hưởng trong ḷng bao nhiêu là thế hệ người đọc thuộc văn hóa Đông Á kể cả Việt Nam, đặc biệt là người gốc Việt ở hải ngoại ngày nay, những lữ khách xa quê hương (suốt quăng đời c̣n lại) hẳn là dễ cảm thông và yêu mến bài thơ bất hủ này, nhất là hai câu cuối:

 

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu."

"Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!"

"Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai" 

 


Khiến liên tưởng đến bài thơ Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan:

 

 

Thăng Long thành hoài cổ

Tạo hoá gây chi cuộc hư trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước c̣n cau mặt với tang thương.
Ngh́n năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

 

Thăng Long đă là kinh thành từ đời Lư, Trần măi đến đời nhà Lê, đến thời Minh Mệnh nhà Nguyễn dời đô vào đất Thừa Thiên th́ đổi ra là tỉnh Hà Nội. Đi qua vùng cố đô nay chỉ c̣n nền cũ tiêu điều, Bà Huyện Thanh Quan, thuộc giai cấp sĩ phu Bắc Hà, đă không khỏi bâng khuâng trước sự di đô đổi triều, đau ḷng trước cảnh tang thương. 

Tương tự "Hoàng Hạc Lâu", bài thơ hoài cổ của Bà Huyện cũng nói đến "ngàn năm" "thấm thoát mấy tinh sương", cũng có "nền cũ lâu đài" và "bóng tịch dương", cũng "hồn thu thảo" và "nước c̣n cau mặt", cũng "cảnh đấy người đây" mà "luống đoạn trường". Mà so với bài thơ Hoàng Hạc Lâu th́ t́nh cảm c̣n sâu đậm, áo năo hơn nữa, bởi di tích Thành Thăng Long chỉ c̣n lại "nền cũ" trong "bóng tịch dương" chứ không c̣n được như "lầu Hoàng Hạc" tuy có tiều tụy nhưng vẫn c̣n chỗ "phía trên" cho Thôi Hiệu đề thơ; rồi chỉ có "hồn thu thảo" trên "lối xưa xe ngựa" chứ chẳng có cỏ thơm "phương thảo" xanh biếc um tùm như trên cồn đất Anh Vũ. Trên nền cũ của thành Thăng Long nay chỉ c̣n "hồn thu thảo" của cỏ mùa thu héo úa vàng vọt, không khác ǵ thứ cỏ "dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh" nơi mộ Đạm Tiên  trong Truyện Kiều,... Toàn cảnh "tang thương" đến khiến Bà Huyện thương cảm "đoạn trường" đau đến đứt ruột chứ không chỉ "sầu" muộn nỗi nhớ quê hương như Thôi Hiệu mà thôi. 

Đặc biệt mỗi câu trong bài thơ của Bà Huyện đều có hai từ Hán Việt ở cuối câu, tạo nên vẻ đẹp cổ kính của một kỷ vật c̣n sót lại từ thời xưa huy hoàng; những "hư trường, tinh sương, thu thảo, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường" chẳng thể nào có thể thay thế được bằng từ thuần Nôm để diễn tả được cho người đọc ḷng hoài niệm khắc khoải, tương tự câu thơ của vua Tự Đức khóc ái phi Thị Bằng:

"Đập cổ kính ra t́m lấy bóng,
         Xếp tàn y lại để dành hơi." 

Vua Tự Đức đă có thể dùng toàn từ Nôm (thuần Việt) mà viết, chẳng hạn:

"Đập gương xưa ra t́m lấy bóng,
          Xếp áo cũ lại để dành hơi."
 

Thế nhưng ông đă chọn những từ Hán Việt "cổ kính" và "tàn y". Bởi "cổ kính" (gương cổ) c̣n hàm ư vật liệu, cấu tạo, h́nh dạng có tính cách "cổ điển", do đó hiếm và quư, chứ không chỉ "xưa" mà thôi. "Cổ kính" của vua mới thật đúng là có tính cách "cổ-kính" (một tính từ - adjective)!
 

Và "tàn y" không chỉ là "áo cũ" mà thôi, bởi c̣n hàm ư áo quần được yêu chuộng nên được mặc hoài cho đến lúc tàn tạ, có thể rách nát nữa, nhưng vẫn c̣n giữ đầy hơi hướm của người mặc. Xứng đáng cho vua xếp lại để "dành hơi". Và cũng có thể là "nội y" như trong câu thơ của Nguyễn Hồi Thủ, hoài niệm:

"Áo lót ḿnh em mỏng vẫn đem phơi." 

Bản thư pháp Thảo thư dưới đây là thủ bút của thư pháp gia Trần Trung Vũ. Viết tháu đến mức này th́ có lẽ khó c̣n mức nào phóng túng hơn hay khoáng đạt hơn nữa. Nh́n một hồi thấy hoa cả mắt v́ vẻ đẹp náo động của một thứ trật tự vô-quy-tắc, như băi cỏ thơm xanh ŕ um tùm trên cồn đất Anh Vũ giữa sông Dương Tử nh́n từ lầu Hoàng Hạc. Trông cứ như là toa thuốc của các ông thầy thuốc Bắc, để trị bệnh buồn nhớ quê hương.

HoangHacLau_ThaoThu00.jpg

HHL 04 : Hoàng Hạc Lâu - Lệ thư 

Nhà thơ Tản Đà có bài thơ "Tống biệt", in trong tập "C̣n chơi" năm 1921 và in lại trong tập "Thiên Thai" năm 1922, tương truyền là được gợi hứng từ truyện "Lưu Thần, Nguyễn Triệu du Thiên Thai" trong Sưu thần kư của Can Bảo, hay trong U minh lục của Lưu Nghĩa Khánh: hai chàng trai vào núi hái thuốc rồi lạc bước đến tiên cảnh, kết duyên cùng hai tiên nữ. Sau nửa năm sống hạnh phúc ở cơi tiên nhưng không nguôi nỗi nhớ quê hương, nên mặc dù các tiên nữ cố giữ lại, v́ một khi đă rời khỏi Thiên Thai là không thể quay lại được nữa, Lưu, Nguyễn vẫn nhất quyết về thăm nhà. Về đến nơi mới biết ḿnh đă xa gia đ́nh đến bảy đời rồi, mọi cảnh vật đều trở nên xa lạ quá đỗi. Thất vọng, hai người quay trở lại Thiên Thai, nhưng rồi không thể nào t́m lại được lối vào tiên cảnh nữa.

 

Tống biệt

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi!

   Nửa năm tiên cảnh,
   Một bước trần ai,

Ước cũ duyên thừa có thế thôi.

   Đá ṃn, rêu nhạt,
   Nước chảy, huê trôi,

Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách măi.

   Cửa động,
   Đầu non,
   Đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi...

 

Vào khoảng 1919, chính phủ thuộc địa ra lệnh băi bỏ các kỳ thi dùng chữ Hán ở cả Trung-kỳ nữa; thế là cả ba kỳ Bắc, Trung, Nam cùng chính thức chuyển sang dùng chữ Quốc ngữ (La tinh hóa) từ đó. Vậy mà chỉ cần đến đầu thập niên 1920 đă có nhà thơ Tản Đà xuất bản bài thơ "Tống Biệt" ấy với những câu thơ có vẻ không bó buộc niêm luật ǵ, tự do phơi phới không kém ǵ thơ Tây phương. Mặc dù vẫn c̣n ưa chuộng lối thơ biền ngẫu:
  

"Nửa năm tiên cảnh,
    
      Một bước trần ai,
   ...
  
       Đá ṃn, rêu nhạt,
   
       Nước chảy, huê trôi,"

Và cũng có thể v́ c̣n chịu ảnh hưởng của những từ-khúc tiếng Hán nữa, nên bài thơ này đă không được xem là "Thơ Mới", thể loại được cho là khởi đầu từ bài thơ "T́nh Già" của Phan Khôi năm 1932, sau "Tống Biệt" của Tản Đà đến hơn 10 năm.

Bài thơ "T́nh Già" của Phan Khôi đă đăng trên tờ Phụ nữ Tân văn số 122 ra ngày 10-3-1932, trong đó có bài viết "Một lối thơ mới tŕnh chánh giữa làng thơ", được xem là bài thơ khởi xướng, đánh dấu sự ra đời của phong trào "Thơ Mới", có đoạn “đem thật có trong tâm khảm ḿnh tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc niêm luật ǵ hết” và tạm gọi là "Thơ Mới". 

Bài thơ "Tống Biệt" của Tản Đà cũng có h́nh ảnh chim hạc:


         "Cái hạc bay lên vút tận trời
          Trời đất từ đây xa cách măi."

tương tự "Hoàng Hạc Lâu": "hoàng hạc nhất khứ bất phục phản"

Hạc vàng một đi không trở lại.

Như Kinh Kha sang Tần "tráng sĩ nhất khứ hề bất phục phản."

Như chính Tản Đà đă viết trong "Thề Non Nước":

"Non kia những ngóng cùng trông,
 
          Suối tuôn ḍng lệ chờ mong tháng ngày"
           mà
           "Nước đi, đi măi không về…"  

Bản thư pháp Lệ thư dưới đây là thủ bút của thư pháp gia Yên Triệu Như Hải. Ba cặp chữ Hán "hoàng hạc" trong ba câu thơ đầu được viết ba dạng hoa mỹ khác nhau.

 

HoangHacLau_LeThu02.jpg

 

HHL 05 : Hoàng Hạc Lâu - Triện thư

 

Tương truyền rằng Thi tiên Lư Bạch đă cảm thán:

"Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
           Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu"

Có cảnh đẹp tuyệt trước mắt mà không nói lên ǵ được
          bởi Thôi Hiệu đă đề bài thơ ấy ngay phía trên đầu rồi.
 

Thật ra th́ trước đó, Lư Bạch đă làm xong một bài thơ nhan đề là "Anh Vũ Châu" về cồn đất giữa sông có h́nh dạng như chiếc mỏ chim két (anh vũ) nh́n từ lầu Hoàng Hạc. Nhưng Lư không hài ḷng, cho là không bằng được bài thơ của Thôi Hiệu, nên cảm thán… thành một bài thơ tứ tuyệt: 

一拳擊碎黃鶴樓,

兩腳踢翻鸚鵡洲。

眼前有景道不得,

崔顥題詩上頭。 

"Nhất quyền kích toái Hoàng Hạc lâu
           Lưỡng cước thích phiên Anh Vũ châu
          Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
          Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu" 

Tạm dịch:

Một đấm vỡ tan Hoàng Hạc Lâu,
         Hai đá lật nhào Anh Vũ Châu,
        Cảnh đẹp trước mắt lời đâm nghẹn,
        Thôi Hiệu đề thơ phía đỉnh đầu.
 

Vơ lực của nhà thơ đáng sợ thật. Mà đă xong đâu, về đến nhà, Lư Bạch c̣n làm thêm bài thơ "Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài - Leo lên Đài Phượng Hoàng ở Kim Lăng" mới cảm thấy hài ḷng, cho là hay không kém ǵ bài thơ của Thôi Hiệu. Mà Phượng hoàng nghe c̣n ngon hơn Hoàng hạc, Phụng Hoàng Đài đâu kém ǵ Hoàng Hạc Lâu!  

Và Lư Bạch c̣n có hai bài thơ nổi tiếng khác nhắc đến lầu Hoàng Hạc, là bài "Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng - Từ lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng", và bài "Hoàng Hạc Lâu văn địch - Nghe thổi sáo ở lầu Hoàng Hạc". 

Dưới đây là bản thư pháp Triện thư duy nhất của bài thơ "Hoàng Hạc Lâu" tôi đă t́m ra được trên mạng. Quư bằng hữu có bản Triện thư nào khác, xin vui ḷng cho biết. Đa tạ.

 

HoangHacLau_TrienThu01.jpg

 

*

Năm lối thư pháp "mỗi lối một vẻ mười phân vẹn mười".

 

Phạm Vũ Thịnh
Sydney, 12/01/2025

 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

Cảm tưởng, ư kiến xin gởi về  t4phamvu@hotmail.com