Kỳ Na giáo là lối đọc thành tiếng theo phiên âm Hán
Việt danh xưng của đạo Giaina. Trong một số sách tiếng
Việt đang lưu hành, thường để nguyên tên đạo Giaina
hoặc đạo Jaina. Tiếng Anh là Jainism; tiếng Pháp là
Jainisme hay Djainisme. Trong Kinh Trung Bộ của Phật
giáo, Kỳ Na giáo được gọi Nagantha: là Ly hệ phái.
[1]
1. Bối cảnh
Kỳ Na giáo là một triết học và là một tôn giáo, lấy
nguyên tắc bất tổn sinh (ahimsa) làm tâm điểm tuyệt
đối trên cả hai phương diện lư thuyết và thực hành.
Có từ trước thời Veda
Giống các triết thuyết Đông phương khác, đối với Kỳ Na
giáo, suy tưởng không nhằm mục đích bất vụ lợi mà là
để phát triển các phương thế giúp cho con người khắc
phục khổ năo vốn cố hữu trong cuộc nhân sinh thông
thường. Kỳ Na giáo t́m cách thành tựu công cuộc cứu độ
ấy bằng việc chinh phục các giới hạn trần tục, và Jina
— từ ngữ xuất phát của Kỳ Na giáo — có nghĩa là ‘người
chinh phục’, hiểu theo khía cạnh tâm linh là ‘người
chiến thắng’, thế nên Kỳ Na giáo c̣n được hiểu là ‘tôn
giáo của những người chiến thắng’.
Từ cuối thế kỷ thứ sáu trước CN, người Kỳ Na giáo
tuyên bố rằng truyền thống của họ đă có một lịch sử
rất lâu đời, kéo dài liên tục qua 24 thế hệ tổ sư. Chư
vị ấy được gọi là các
tirthankara, những
người lội qua chỗ cạn, hay hiểu theo nghĩa bóng là
người mở đường. Sở dĩ có danh xưng ấy v́ họ đă giúp
cho các đệ tử, những người đi theo họ, băng ngang sông
suối thế gian để đạt toàn tri (giác ngộ) — tới bờ bến
an toàn và cứu rỗi.
Trong số những vị mở đường ấy có Rsabha, Agitanàtha và
Aritanemi; cả ba đều ở thời cổ đại và được đề cập tới
trong kinh Yagur-Veda (Vệ đà - Tế tự minh luận) của Ấn
giáo. Vị tổ thứ 24, Mahavira, là một nhân vật lịch sử,
sống cùng thời đại với Đức Phật vào cuối thế kỷ 6 tới
đầu thế kỷ 5 trước CN.
Vị tổ thứ 23
Trong ‘Nghi Quỹ Kinh’ c̣n gọi là ‘Kiếp Ba Kinh’ của Kỳ
Na giáo, có ghi chép về vị tổ sư thứ 23, sống vào
khoảng thế kỷ 9 trước CN, trước Mahavira khoảng 250
năm. Danh xưng của ông là Parsva và cũng quả thật là
một nhân vật lịch sử.
Thân phụ của Parsva là quốc vương xứ Benares. Thuở trẻ,
Parsva từng là dũng sĩ, tham gia nhiều chiến trận. Sau
ba chục năm sống tại gia, ông trở thành tu sĩ khổ hạnh
lang thang suốt bảy chục năm. Ông hệ thống hoá lư
thuyết trước đó của Kỳ Na giáo và đề ra bốn điều cấm.
Đó là không sát sinh; không lừa đảo; không trộm cướp;
và không có của riêng. Vị tổ đời thứ 23 này dùng màu
xanh lam làm sắc hiệu, với biểu tượng là bảy con rắn
quấn quanh đầu và ông ngồi trên ḿnh rắn.
Sách thánh của Kỳ Na giáo mô tả Parsva là ‘Vị Đệ nhất’,
‘Đấng Giác ngộ’, ‘Đấng Toàn tri’, đồng thời quả quyết
rằng trong các cuộc hành cước của ông từ Bihar tới Tay
Bengal, có rất đông đảo tín đồ đi theo. Đặc biệt, nơi
Parsva nhập Niết Bàn và tịch tại núi Sammeta, trở
thành thánh địa hành hương của giáo chúng xưa nay.
Bạn đọc có thể t́m hiểu thêm về vị tổ sư này trong
The Oxford Dictionary of World Religions (Từ điển
các tôn giáo thế giới của Đại học Oxford), bản năm
1997, đề mục Parsva.
2. Đại Anh hùng Mahavira
Là một tu sĩ khổ hạnh khỏa thân, Vardhamana Mahavira,
vị tổ sư Kỳ Na giáo thứ 24, sống và giảng dạy tại một
khu vực của Ấn, ngày nay là Bihar và Uttar Pradesh.
Ông chào đời có lẽ trước Đức Phật khoảng vài chục năm.
Các tín đồ Kỳ Na giáo đưa ra thời điểm của Mahavira là
từ năn 599 tới 527 trước CN, dù thực tế, có thể ông
sống trong khoảng thời gian sau đó, từ năm 540 tới năm
468 trước CN; so với thời điểm của Đức Phật là khoảng
năm 566 tới 486 trước CN.
Xét theo khía cạnh triết học, lư thuyết của Kỳ Na giáo
bao gồm ít nhất bốn lănh vực căn bản: vũ trụ luận, tri
thức luận, luận lư học và đạo đức học. Tuy các lời
giảng của Mahavira được chính ông và các tín đồ quả
quyết có giá trị vĩnh cửu, ta cũng nên đặt chúng vào
bối cảnh đương thời vốn đối nghịch với chúng để có thể
đánh giá chúng một cách xứng đáng.
Bốn cơ sở của Ấn giáo
Như đă tŕnh bày ở chương 1, dù Ấn giáo chính thống có
những giá trị vĩ đại, tự thân nó vẫn đặt trên hai cơ
sở:
- Thẩm quyền của các kinh Veda (sách thánh);
- Giá trị của các lễ tế được cử hành đúng nghi
thức và do bởi đẳng cấp tư tế Bà la môn.
Đức tin của Ấn giáo chính thống cũng đặt trên hai
cơ sở:
- Thực tại hằng cửu của Thượng đế (Brahman), có
thể hiểu khái quát như là Đại ngă, trong các dạng
thức muôn h́nh muôn vẻ của thực tại tối hậu ấy;
- Linh hồn của con người (Atman), có thể hiểu khái
quát là Tiểu ngă, cái tối hậu sẽ ḥa nhập vào Đại
ngă.
Lokoyata và các Shramana
Tuy nhiên, trong thế kỷ thứ 6 trước CN, xuất hiện một
số lượng đáng kể các lối tiếp cận có tính triết học và
tôn giáo, thách đố niềm tin vào bốn cơ sở vừa kể của
Ấn giáo, cách riêng tại miền bắc nước Ấn. Thí dụ triết
học Lokoyata, c̣n được gọi theo danh xưng của triết
gia chủ xướng có tên truyền thuyết là Carvaka. Triết
thuyết này cho rằng toàn bộ tri thức đặt cơ sở tối hậu
trên các giác quan, do đó, chỉ những ǵ con người có
thể tri giác theo cách ấy mới được xem là thật.
V́ thế, Carvaka quả quyết rằng không thể nào có linh
hồn và cũng chẳng có cái ǵ c̣n sống sau khi ta chết.
Từ lập trường ấy, truyền thống Lokoyata rút ra kết
luận thuận lư rằng cuộc theo đuổi duy nhất có giá trị
là mưu t́m hạnh phúc trần thế ngay trong cuộc đời này,
và như thế, Carvaka đưa ra một lập trường mang tính
chủ nghĩa khoái lạc đơn thuần và chủ nghĩa duy vật phi
luân lư.
Thế nhưng có một số người khác lại đi tới một cực đoan
hoàn toàn trái ngược với Lokoyata. Vẫn nhấn mạnh bản
tính hằng cửu của linh hồn, nhưng họ thách đố thẩm
quyền của các lễ tế Bà la môn, và họ dấn ḿnh vào lối
tu tập khổ hạnh như một phương thế nhằm sở đắc giải
thoát (moksa). Họ được gọi là Shramana: các đạo sư
lang thang và những tu sĩ khổ hạnh tự do. Hoàn toàn
không thuộc một triết hệ Ấn giáo chính thống nào, họ
sống lưu động rày đây mai đó, thu thập tín đồ từ Ấn
giáo cải đạo hoặc của các môn phái phi chính thống
khác và họ hoạt động bên ngoài kiểu thức chính thống
của các nghi lễ Ấn giáo cùng hệ thống đẳng cấp của xă
hội Ấn. Vào thế kỷ thứ 6, từ bên trong các nhóm
Shramana ấy phát sinh hai triết thuyết và trở thành
hai tôn giáo: Kỳ Na giáo và Phật giáo.
Thân thế của Đại Anh hùng
Người tập đại thành cho Kỳ Na giáo là Vardhamana, vị
tổ sư thứ 24 mà trong kinh Phật bằng chữ Hán gọi là
Nataputta, người đứng đầu ‘Nigantha’: Ly hệ phái,
nghĩa là phái chủ trương tu tập cách ly mọi quan hệ.
Xuất thân từ một ḍng họ nổi tiếng, thuộc đẳng cấp
chiến sĩ, ở vùng hạ lưu sông Hằng, ông lập gia đ́nh và
có một con gái. Tới năm 30 tuổi, Vardhamana rời gia
đ́nh, từ bỏ vợ con, dấn thân vào cuộc sống khổ hạnh và
khỏa thân. Con đường tầm đạo của ông kéo dài 12 năm
trời mới thành đạo. Trong thời gian ấy, có thời ông
hiệp đoàn với Gosaka, người về sau sáng lập Ajivikas,
một hệ phái Ấn giáo phi chính thống khác.
Tới năm 42 tuổi, Vardhamana, thành tựu toàn tri —
thuật ngữ Kỳ Na giáo dùng để gọi sự thức ngộ, giác ngộ,
v́ thế được gọi là một Jina: người chinh phục. Các tín
đồ của tôn giáo này được gọi là Jaina — thường viết
tắt là Jain — nghĩa là những kẻ đi theo người chinh
phục. Danh hiệu Mahavira có nghĩa là Đại Anh hùng, một
biệt danh dùng để tôn vinh cá biệt vị tổ sư này.
Kết thúc 30 năm rao giảng, xây dựng và phát triển Kỳ
Na giáo, Mahavira từ trần sau một cuộc tuyệt thực cho
tới chết tại Para, nơi gần Patna ngày nay. Và nơi ấy
từ đó trở thành linh địa hành hương của mọi tín đồ Kỳ
Na giáo.
Cho tới thời điểm nhập diệt, Đức Mahavira có rất đông
đảo đệ tử gồm hai dạng: thứ nhất nam nữ tu sĩ (nữ đông
hơn nam); và thứ hai các tín đồ tại gia (cư sĩ), luôn
luôn giúp đỡ mọi mặt, đặc biệt về vật chất, cho giới
tu sĩ. Trong Trung Bộ kinh, phẩm 56 Upaly Sutra có kể
lại cuộc tranh luận giữa Đức Phật và Nigantha
Dighatapassi (Trường Khổ Hạnh Giả), một cao đồ của
Mahavira, và sau đó, việc Đức Phật thu thập Gia chủ
Upaly, một cao đồ cư sĩ của Mahavira, người được gọi
là Nigantha Nataputta. Kinh c̣n ghi lại cuộc tường
thuật của hai cao đồ ấy cho Mahavira. (Xem bản dịch
của Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ, 56, Kinh Ưu-Ba-Ly).
Lời giảng của Đức Mahavira
Gặp trường hợp có những hệ phái khác nhau của một tôn
giáo, các học giả khó có thể thẩm định trong những lời
tuyên bố không hoàn toàn giống nhau và đang ganh đua
nhau ấy cái nào là tiếng nói xác thực của người sáng
lập. Nhưng đối với Kỳ Na giáo không có vấn đề đó, v́
cả hai hệ phái chính — Svetambara và Digambara — chỉ
bất đồng về vài điểm thực hành, đặc biệt ở chỗ tu sĩ
nên khỏa thân hay mặc quần áo, chứ không có những
thông giải triết học khác nhau về đạo giáo của ḿnh.
Do đó, chúng ta có thể khá tự tin khi cho rằng các
khái niệm hiện lưu hành trong Kỳ Na giáo thật sự phản
ánh trung thực lời giảng dạy nguyên thủy của Mahavira
25 thế kỷ trước.
Ba điểm căn bản trong các lời giảng của Đức Đại Anh
hùng là:
- Bác bỏ các nghi lễ Bà la môn như là phương thế
để thành tựu giải thoát, ông tái thông giải khái
niệm về nghiệp báo mà truyền thống Ấn giáo chính
thống ưu tiên áp dụng nó như là hậu quả tuôn trào từ
việc cử hành chính xác các nghi lễ;
- Phủ định sự hiện hữu của cảnh giới thiêng liêng
vĩnh cửu, ông tin rằng linh hồn của con người bị mắc
kẹt trong thế giới vật chất, cần được giải thoát
nhằm thành tựu sự toàn măn;
- Biến giới luật bất tổn sinh (ahimsa) thành tâm
điểm tuyệt đối của triết học và đạo đức học thực
hành của ḿnh.
Tuy thế, những lời giảng của vị tổ sư ấy không được
ghi thành văn cho tới thế kỷ thứ hai sau CN. Măi tới
thế kỷ thứ 5, cũng vẫn chưa có bản san định tổng thể
các sách thánh chính của Kỳ Na giáo. Để am hiểu triết
học của ḿnh, mọi hệ phái Kỳ Na giáo đều chấp nhận
thẩm quyền và đặt cơ sở xiển dương trên cuốn kinh
Tattvartha Sutra (Kinh về những phạm trù nhận
thức) do tu sĩ triết gia Umasvarti ghi lại vào khoảng
đầu thế kỷ thứ hai sau CN. Bạn đọc có thể t́m thấy một
bản Việt ngữ gần như toàn bộ cuốn kinh ấy trong cuốn
Kinh văn, các trường phái triết học Ấn Độ, do
Doăn Chính chủ biên, (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2002, tt. 272-287), dịch từ bản tiếng Anh của J.L.
Jaini, Sacred Books of the Jaina (Arrah,
India: The Central Jaina Publishing House, 1920).
3. Các khái niệm căn bản
Nathmal Tatia trong lời giới thiệu bản dịch của ḿnh
cuốn Tattvartha Sutra đă đưa ra một tóm lược
cô đọng và tuyệt vời về triết học của Kỳ Na giáo như
sau:
“Các chủ đề trung tâm của Tattvartha Sutra là
bất bạo động, phi tuyệt đối chủ nghĩa và bất sở hữu.
Bất bạo động củng cố quyền tự quản sự sống của mọi hữu
thể. Phi tuyệt đối chủ nghĩa củng cố quyền tư tưởng
của mọi cá nhân. Bất sở hữu củng cố sự phụ thuộc lẫn
nhau của toàn bộ cuộc hiện sinh. Nếu bạn cảm thấy rằng
mỗi linh hồn là một tự quản, bạn sẽ không bao giờ giẫm
đạp quyền sống của nó. Nếu bạn cảm thấy mỗi người là
một con người biết suy nghĩ, bạn không bao giờ giẫm
đạp tư tưởng của nó. Nếu bạn cảm thấy ḿnh chẳng sở
hữu vật nào cả và cũng chẳng sở hữu người nào cả, lúc
ấy bạn không bao giờ giẫm đạp hành tinh này”.
Tattvartha Sutra, trang. xvii
Cũng giống các triết thuyết Đông phương khác, cứu cánh
của Kỳ Na giáo không phải là suy tưởng mà là giải
thoát, cái vốn được người Kỳ Na giáo xem là mục đích
của đời người. Do đó, nó phối hợp sự phân tích kinh
nghiệm trong tương ứng với những huấn thị mang tính
đạo đức học.
Có lẽ chúng ta cần hiểu rơ giá trị ba đặc điểm căn bản
của triết học Kỳ Na giáo trước khi có thể đi lần tới
việc xem xét ư tưởng về bản ngă và đạo đức học của nó.
Đó là:
- Phi tuyệt đối chủ nghĩa về mặt triết học;
- Thuyết nguyên tử và thuyết vạn vật hữu hồn
(animism), vốn h́nh thành căn bản vũ trụ luận Kỳ Na
giáo;
- Sự thông giải mang tính vô thần chủ nghĩa quá
tŕnh vũ trụ.
Phi tuyệt đối và luận lư học
Tận căn bản các lời giảng của ḿnh, Kỳ Na giáo hàm
chứa một sự thách thức triệt để. Đối với chân lư tuyệt
đối, Kỳ Na giáo không đưa ra lời quả quyết nào, nhưng
nó làm nổi bật sự việc rằng mọi chân lư đều tùy thuộc
vào viễn cảnh hoặc qui luật phối cảnh, nghĩa là tuỳ
thuộc điểm nh́n, cách nh́n và kỳ vọng của chúng ta vào
triển vọng của chúng.
Căn bản luận lư học của người Kỳ Na giáo đạt trên Hoặc
nhiên luận (Syatvada), c̣n gọi là Phi quyết đoán luận.
Cũng có người gọi là Thất chi luận pháp v́ nó đặt trên
bảy h́nh thức ‘có thể’ khi phán đoán một sự vật, tùy
vào viễn cảnh của người phát biểu. Tương truyền phương
pháp luận này xuất hiện từ rất sớm, sau khi Mahavira
qua đời 150 năm, do đệ tử của ông là Badaropa đề xuất.
Về sau nó được hoàn thiện và phát triển thêm. Đó là:
- Phán đoán khẳng định. Thí dụ có thể vải là màu
trắng — chỉ ở dưới t́nh huống xác định;
- Phán đoán phủ định. Có thể vải không phải là màu
trắng;
- Phán đoán khẳng định kết hợp với phán đoán phủ
định. Có thể vải là màu trắng lại không phải là màu
trắng;
- Không thể nói ra được — không thể diễn tả được.
Có thể vải là màu ǵ không thể nói được;
- Kết hợp giữa phán đoán 1 và phán đoán 4 ở trên.
Có thể vải là màu trắng, lại không thể nói được;
- Kết hợp giữa phán đoán 2 và phán đoán 4. Có thể
vải không phải là màu trắng, lại không thể nói được;
- Kết hợp giữa phán đoán 3 và phán đoán 4. Có thể
vải là màu trắng, lại không phải là màu trắng, cũng
không thể nói được.
Có thể khái quát hóa bảy h́nh thức phán đoán trên
thành:
- Có;
- Không;
- Vừa có vừa không;
- Không thể nói (không có không không)
- Có, không thể nói;
- Không, không thể nói;
- Vừa có, vừa không, không thể nói.
Thí dụ về bản ngă và linh hồn
Về bản ngă, Kỳ Na giáo lập luận tóm tắt rằng:
- Bản ngă có thể thường tại;
- Bản ngă có thể không thường tại;
- Bản ngă, nh́n từ những viễn cảnh khác nhau, có
thể vừa thường tại vừa không thường tại;
- Vấn đề ấy có thể không nói được.
Nhưng cũng có thể kết hợp cả bốn khả năng ấy. Thí
dụ, linh hồn có thể thường tại, nhưng vấn đề ấy cũng
có thể không nói được — do bởi nó có thể là như thế
nhưng chúng ta không thể biết rằng nó là như thế.
Trong trường hợp ấy ta có thể kết hợp bảy h́nh thức
phán đoán đă kể ở đoạn trên.
Thí dụ về chân lư và tri thức:
Cũng thế, chúng ta có thể biết các sự vật theo cách
vừa trực tiếp vừa gián tiếp, nhưng trong các giới hạn
áp đặt của thế giới vô thường, không cái ǵ có thể
biết rơ hoàn toàn hoặc chắc chắn tuyệt đối. C̣n nữa,
người Kỳ Na giáo lập luận rằng chân lư hoặc sự lệch
lạc của tri thức không được quyết định bởi khả năng
nắm bắt sự việc của con người mà là bởi các giá trị
tinh thần và đạo đức đang h́nh thành quan điểm cá biệt
của mỗi người.
Giả dụ nh́n một cái cây trước mặt, tôi có khả năng
phát biểu:
- Có thể có bóng mát hữu ích hoặc là làm nơi ngồi
nghỉ chân;
- Có thể được việc lắm nếu tôi leo lên cây ấy;
- Có thể cây đó cho tôi loại gỗ hữu dụng;
- Có thể nó là cây đa;
- Có thể nó lớn thấy rơ, kể từ khi tôi thấy nó lần
trước;
- Có thể ḿnh phải đốn cây ấy.
Trong các cách nh́n có tính viễn cảnh đó, cái nào
cũng có giá trị, hoặc liên quan tới quá khứ, hiện tại
hay tương lai, hoặc chỉ nh́n vào tự thân cái cây (và
chúng bị phạm trù hóa theo chủng loại), hoặc chỉ nh́n
một cách giản dị về mặt hàng thương mại, giải trí hay
tiện ích. Mỗi cái có một thành tố của chân lư nhưng bị
giới hạn bởi cái nh́n về triển vọng cá biệt của nó.
Chấp nhận sự khác biệt
V́ tri thức tuyệt đối — cho dẫu chúng ta có sở hữu
được nó đi nữa — không thể nào truyền đạt một cách
chính xác trong các khái niệm giới hạn của nó, nên
toàn bộ triết học chỉ có tính tương đối. Do đó, toàn
bộ việc giảng dạy chỉ là tạm bợ và các dị biệt được
giả định là kết quả của các dị biệt trong cách nh́n bị
chi phối bởi qui luật phối cảnh.
Thực tế ấy không ngăn Kỳ Na giáo đưa ra các lời phát
biểu có tính xác định; đúng hơn, mỗi lời phát biểu đều
có kèm theo một sự dè dặt nhất định trong từng phần
lời giảng của nó. V́ dè dặt trong việc thừa nhận quan
điểm mà xuất từ đó đưa ra lập trường của ḿnh nên Kỳ
Na giáo luôn luôn chấp nhận rằng người khác có thể
nh́n cùng một sự vật ấy theo cách khác.
Trong kho tàng cổ tích của Ấn Độ, có một chuyện nổi
tiếng, gốc tích từ Kỳ Na giáo. Đó là chuyện năm người
mù sờ voi và sau đó, cố gắng tả lại con voi đúng theo
cách họ cảm thấy. Tùy vào bộ phận của voi mà ḿnh sờ
vào: chân, đuôi, tai, thân ḿnh hay ngà voi, mỗi người
đem ra một h́nh ảnh so sánh khác nhau. Người bảo voi
như cột đền, người bảo voi như chiếc quạt lớn, người
bảo voi như chiếc chổi chà, v.v… Các mô tả ấy đều có
giá trị nhưng không mô tả nào có khả năng xác định
được toàn bộ con voi.
Thuyết nguyên tử và thuyết vạn vật hữu hồn
Trong lời giảng của Kỳ Na giáo truyền thống, nguyên tử
là yếu tố nhỏ bé nhất của vật chất. Có bốn loại nguyên
tử: khí, lửa, nước và đất. Các nguyên tử ấy hiệp nhau
h́nh thành các hợp chất (skandhas), cùng h́nh thành
các đối vật trong thế giới được chúng ta trải nghiệm.
Nhưng có những yếu tố phi vật chất khác cũng h́nh
thành thành phần của thế giới: niềm hân hoan, nỗi hối
tiếc và bản thân sự sống. Cái thứ ba này mang dạng
thức linh hồn, hoặc jiva, là quan trọng nhất trong
triết học Kỳ Na giáo.
Đức Mahavira dạy rằng mọi sự đều có linh hồn bên trong
nó. Không chỉ con người, loài vật và cỏ cây, mà ngay
cả đá, đất và gió; không chỉ các thực thể thường trực
mà ngay cả các biến cố xảy ra trong thoáng chốc, hết
thảy mọi sự mọi vật ấy đều có linh hồn, được sinh ra
bên trong mỗi cái, và chừng nào sự vật ấy c̣n hiện
hành th́ linh hồn ấy vẫn c̣n sống. Do đó, triết học Kỳ
Na giáo thừa nhận có một quá tŕnh tương tác liên tục
giữa thực tại tinh thần và vật chất. Bất cứ khả năng
nào mà một linh hồn có, thí dụ cảm giác về sự vật, nó
có v́ thế giới của vật chất, do bởi các giác quan đều
thuộc về thể xác vật chất. Mặt khác, các cơ quan cảm
giác ấy không là ǵ cả nếu chúng không cung cấp thông
tin cho một linh hồn đang sống động. Dù linh hồn và
vật chất có thật và riêng biệt không kém ǵ nhau, cả
hai không thể tách biệt trong liên quan tới sự sống
thông thường.
Nhưng có thể nói bên dưới thuyết nguyên tử này có một
cấp bậc thực tại khác. Người Kỳ Na giáo cho rằng có
những bản thể vĩnh cửu, mỗi bản thể có những phẩm tính
cố định. Phẩm tính cao nhất của các bản thể này là
linh hồn (jiva). Tự thân linh hồn là hoàn hảo và vĩnh
hằng, nhưng v́ chịu ảnh hưởng của thế giới hiện tượng,
linh hồn có thể gánh vác thể xác và được tái sinh thêm
nhiều lần trong thế giới này dưới dạng thức các hữu
thể trên trời hoặc con người trần thế hoặc các sinh
vật khác, kể cả những h́nh thức đơn giản nhất.
Như thế, ta có một vũ trụ trong đó mọi sự đều là hợp
chất, được tạo thành bởi các yếu tố vật lư và phi vật
lư. Thế giới hiện tượng này, dù được cấu trúc bởi các
yếu tố không gian, thời gian chuyển dịch hay an nghỉ
cùng vật chất thẩm thấu đều khắp bởi tinh thần và dù
lúc này bị liên kết với các thể xác hợp chất và các
biến cố, vẫn là một thế giới hằng cửu.
So với triết Tây
Trong triết học Tây phương, thuyết nguyên tử là một bộ
phận của tư tưởng Hi Lạp thời tiền Socrates. Ta thử
nh́n lại quan điểm đặc thù của Heraclitus, vị triết
gia nổi tiếng với câu nói rằng bạn không thể bước hai
lần xuống cùng một ḍng sông ấy.
Xét về mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần, thuyết
nhị nguyên của Kỳ Na giáo không thật sự giống với
thuyết nhị nguyên của Descartes. Triết gia Pháp ấy lập
thành sự phân biệt triệt để giữa cái tôi (bản ngă) tư
duy và thể xác được dàn trải về mặt vật chất; c̣n
trong tư tưởng Kỳ Na giáo, linh hồn thật sự là một bản
thể, thành phần của mọi sự vật hợp chất.
Truyền thống tư tưởng Tây phương gần gũi nhất mà ta có
thể thăm ḍ để so với Kỳ Na giáo, là Ngộ giáo
(Gnoticism). Người Ngộ giáo duy tŕ quan điểm cho rằng
linh hồn bất tử, bị mắc kẹt bên trong thể xác vật
chất; và mục đích của họ — không khác với mục đích của
người Kỳ Na giáo — là giải thoát khỏi những giới hạn
vật chất và thành tựu sự thức ngộ bản tính hằng cửu
của ta.
Thuyết vô thần và vũ trụ luôn luôn biến đổi
Kỳ Na giáo mang tính vô thần chủ nghĩa. Hoàn toàn khác
với Ấn giáo, Kỳ Na giáo không có những cái tuyệt đối,
không có sự hiệp nhất sau cùng của Tiểu ngă Atman vào
Đại ngă Brahman hằng cửu. Thay vào đó, Kỳ Na giáo cho
rằng giải thoát sau cùng là sự thừa nhận rằng tinh
thần của ta quả thật là một thực tại tối hậu — thời
điểm xảy ra sự thừa nhận này được gọi là trạng thái
kavala.
Thế giới không có khởi đầu nhưng được xem là đang
chuyển động qua các thời kỳ tiến hóa và thoái hóa. Thế
giới ấy không đ̣i phải có sự giải thích ngoại tại, và
quá tŕnh biến đổi ấy xảy ra do bởi thao tác của định
luật nghiệp báo (karma) và do bởi mọi sự, một cách cố
hữu, đều không bền vững và bị hỗn hợp. Chính nghiệp
báo lèo lái vũ trụ, chứ chẳng phải một thần linh nào
cả.
Ngang đây, ta có thể đưa vào một nhận xét có tính
quyết định. Bất cứ hệ thống triết học nào cho rằng thế
giới này không có một bắt đầu và một kết thúc đều có
khuynh hướng vô thần chủ nghĩa. V́ bất cứ niềm tin nào
vào Thượng đế đều đ̣i hỏi thế giới phải t́m thấy ở nơi
ngài một lư do, sự phù trợ hoặc một nguồn gốc của sự
sống và của cuộc đời. Nếu con người không có nhu cầu
ấy, Thượng đế trở thành thừa thăi.
Bảo lưu mâu thuẫn
Có vẻ Kỳ Na giáo cùng bảo lưu hai quan điểm mâu thuẫn
nhau về sự vật. Một đằng nó cho rằng chúng thường tại,
đằng khác nó lại cho rằng chúng ở trong trạng thái
thay đổi triền miên và liên tục.
Kỳ Na giáo làm điều ấy bằng cách nói rằng có cái ǵ đó
‘thật’ tiếp tục tồn tại dù nó đi qua một số lượng vô
tận các ‘dạng thức’. Ở bất cứ thời điểm nào dạng thức
ấy cũng đang biến đổi và như thế, dường như nó đi vào
cuộc sinh tồn rồi nó lại đi ra khỏi cuộc sinh tồn. Nói
cách khác, nó vẫn c̣n là ‘thật’ — và do đó, nó tiếp
tục hiện hữu — qua suốt quá tŕnh tái sinh nhiều lần
ấy.
Đây cũng là một thí dụ khác về việc Kỳ Na giáo thừa
nhận chân lư tùy thuộc vào viễn cảnh ta nh́n sự vật.
Các sự vật vừa có vừa không có sự hiện hữu thường tại,
nó hoàn toàn tùy thuộc vào cách bạn nh́n chúng.
So với Phật giáo
Thật thú vị khi so sánh quan điểm này của Kỳ Na giáo
với của Phật giáo.
Phật giáo cho rằng mọi sự đều là đối tượng của biến
đổi và do đó, không có linh hồn thường tại, mà chỉ là
một chuỗi các đặc điểm đang biến đổi, đang làm thành
cái bị gọi là bản ngă.
Kỳ Na giáo cũng triệt để như thế trong liên quan tới
việc phân tích quá tŕnh biến đổi, nhưng rồi họ có thể
nói rằng, nh́n từ một viễn cảnh khác, có ‘bản ngă’ bền
vững, tiếp tục tồn tại bất chấp mọi biến đổi.
4. Bản ngă
Như đă tŕnh bày ở trên, giống với các hệ thống triết
học và tôn giáo khác của Ấn Độ, Kỳ Na giáo không đặt
ưu tiên cho nỗ lực suy tưởng để am hiểu thế giới. Nó
dành chỗ trang trọng đó cho những phương thế phát
triển tâm linh nhằm thành tựu giải thoát. Mục đích của
Kỳ Na giáo là giúp con người thoát khỏi những giới hạn
của thế giới vật chất ở đó linh hồn của con người,
theo quan điểm của Kỳ Na giáo, đang bị mắc kẹt. Do đó,
những ǵ Kỳ Na giáo nói về bản ngă đều mang tầm quan
trọng chủ chốt, v́ chính dưới ánh sáng của ư tưởng Kỳ
Na giáo về bản ngă và thân phận của bản ngă mà mọi vấn
đề khác được thông giải.
Tuy thế, điều cần ghi nhận thêm lần nữa là những ǵ
được tŕnh bày ở phần vừa rồi về thế giới quan phi
tuyệt đối không đơn giản chỉ là cách nh́n vạn vật,
chúng c̣n có ư nghĩa rằng linh hồn con người vừa có
vừa không có sự hiện hữu thường tại, tùy vào điểm nh́n
và cách thức bạn xem xét nó.
Linh hồn và thể xác vật chất
Cá nhân nào cũng gồm có linh hồn được sinh ra trong
h́nh dạng thể xác vật chất. Và công cuộc cúu rỗi cốt ở
hành động giải thoát linh hồn khỏi những kềm tỏa vật
chất của nó. Con người cần phải kiểm soát thể xác để
linh hồn tinh tiến. Lối tiếp cận này giống với lối của
triết hệ Samkhya (số luận hay liệt kê) trong Ấn giáo
chính thống.
Chúng ta sống trong một thế giới, như chúng ta trải
nghiệm, là luôn luôn biến đổi. Con đường mỗi người đi
qua cơi vô thường samsara ấy đă được quyết định. Và ta
chỉ có thể với tới giải thoát sau một thời gian dài
dằng dặc, trong đó linh hồn chuyển dịch hết vào lại
ra, qua một số lượng rất lớn các kiếp sống khác nhau.
Người Kỳ Na giáo cảm thấy không cần thiết phải chứng
minh sự hiện hữu của linh hồn v́ họ tin rằng qua mọi
hành động nhận thức, ta nhận ra được linh hồn. Như
thế, suy nghĩ, cảm xúc và mọi nhận biết của hữu thể
đang sống đều là những ǵ có liên quan tới linh hồn.
Khái niệm hóa quan điểm của Kỳ Na giáo về linh hồn là
một việc làm không dễ dàng chút nào. Một đằng linh hồn
có mặt trong mọi sự mọi vật, đằng khác, linh hồn ấy ở
trong cảm giác, trong vật chất. Nó hầu như là một bản
thể vật chất đang hoạt động, có sẵn ở khắp nơi và có
khả năng đem một thể xác thích đáng vào cuộc sống. Tuy
thế, rơ ràng có sự khác biệt giữa linh hồn cá nhân và
‘vật linh’ — vật chất có tính linh hồn — mà nó được
làm thành h́nh dạng. Do đó, có vô lượng đơn vị có tính
linh hồn trong một linh hồn, giống như thể có vô lượng
đơn vị không gian trong không gian.
Kinh Tattvartha Sutra, chương 5: 8-9 có ghi:
“Có hằng hà sa số những pradesa [những đơn vị không
được chiếm bởi một nguyên tử vật chất] của dharma
[pháp: nguyên lư vận động], adharma [vô pháp: nguyên
lư đứng yên], và mỗi một linh hồn. Số lượng của các
pradesa trong dharma, adharma, linh hồn và lokakasa,
tức là vũ trụ [nghĩa là tất cả trừ khoảng chân không]
là giống nhau, nói cách khác, tổng cộng của nó là hằng
hà sa số.
Những điểm của khoảng không là vô tận.”
(Trích Kinh văn của các trường phái triết học Ấn
Độ, Phần II - Trường phái Jaina, Doăn Chính dịch,
t, 278 — ngoại trừ phần chú trong các [ ]).
Chúng ta cũng có thể tŕnh bày các ư tưởng trên theo
cách khác. Giống như các nguyên tử vật chất kết tụ
nhau để h́nh thành các đối tượng vật lư, linh hồn cũng
thế. Nó bao gồm vô lượng đơn vị có tính linh hồn hiệp
cùng nhau để làm thành bản ngă của một cá nhân.
Hành động và các hệ quả
Kỳ Na giáo duy tŕ theo nghĩa đen, một cách triệt để,
ư tưởng tổng quát của Ấn giáo về quan điểm nghiệp báo.
Trong ṿng đầu thai và tái đầu thai vào thế giới vô
thường, thân phận của ta trong kiếp sống này tùy thuộc
vào nghiệp của ta trong các tiền kiếp.
Khác với Phật giáo vốn xem nghiệp phát sinh từ các
hành động tự ư tự nguyện, nghĩa là các hành động (ư,
khẩu hoặc thân) có ư nghĩa về phương diện đạo đức của
ta, Kỳ Na giáo nh́n nghiệp theo ư nghĩa lớn rộng hơn,
xem nó thuộc về tất cả những ǵ đang điều kiện hóa con
người. Bạn vẫn bị nghiệp tác động dù khi thể hiện hành
động ấy bạn không thể nào tự ḿnh chọn lựa có ư thức.
Cách độc nhất để bạn thoát ra khỏi ṿng tái sinh là
thành tựu trạng thái hoàn hảo về an tĩnh và tri thức
(kavala). Và điều ấy đ̣i hỏi con người bạn phải càng
ngày càng tinh tiến, bỏ qua một bên hết thảy các ham
muốn mọi sự mọi vật đang hạn chế bạn và đang làm cho
bạn bị mắc kẹt trong cơi trần gian. Làm được điều ấy
tức là bạn nhập vào trạng thái lư tưởng, ở đó bạn
chẳng c̣n mảy may ham muốn nào. C̣n nữa, người Kỳ Na
giáo tin rằng linh hồn phải toàn tri, nghĩa là nó cần
biết hết mọi điều nó có khả năng biết. Nhưng trong thế
giới này, linh hồn đánh mất sự toàn tri ấy và do bởi
nghiệp báo nên nó bị giới hạn, không thể nào biết hết
những điều nó có thể biết.
Tính máy móc của nghiệp báo
Như thế, điều Kỳ Na giáo làm là sử dụng chủ nghĩa máy
móc về nghiệp báo — vốn được triển khai trong Ấn giáo
— và biến chủ nghĩa ấy thành một kết luận thuận lư của
ḿnh. Nếu nghiệp báo mang tính máy móc chủ nghĩa đối
với việc cải thiện bản ngă trong một thế giới đang
biến đổi, th́ đó là một thực tế, chẳng cần tới bất cứ
cái ǵ ở bên ngoài thế giới này.
Bất cứ sự can thiệp nào xuất phát từ một cảnh giới
khác, dù đến từ một hay nhiều thần linh, cũng chỉ làm
cho vấn đề ấy ra hoang mang. V́ một sự can thiệp ngoại
tại như thế mang hàm ư quả quyết rằng sẽ gạt sang một
bên nghiệp báo của bạn để cải thiện điều kiện tâm linh
của bạn. Nếu nghiệp báo là sự kiện tâm linh mang tính
trung tâm của kiếp sống, thế th́ thao tác của nó không
thể là đối tượng của bất cứ sự can thiệp thiêng liêng
nào.
Giải thoát (moksa)
Tuy Kỳ Na giáo dạy rằng linh hồn (jiva) của bạn là bất
tử và có khả năng toàn tri, nhưng trong thế giới này,
linh hồn ấy dường như không được như thế v́ nó bị giới
hạn bởi h́nh dạng vật chất, nghĩa là thân xác, và
nghiệp báo của nó. Dĩ nhiên trong khi chuyển dịch qua
nhiều kiếp sống, công việc của linh hồn là hướng tới
sự thành tựu trạng thái thanh khiết tuyệt đối và tri
thức tuyệt đối, hai đặc điểm của bản tính chân chính
của linh hồn.
Giải thoát xảy tới khi bản ngă được thoát ra khỏi các
tác động của những hành động trong quá khứ, gồm các
tiền kiếp. Do đó, ta phải vượt lên trên toàn bộ hành
động. Hành động thiện mà thôi th́ không đủ v́ chúng
chỉ tạo phúc lợi cho linh hồn khi đang ở cơi vô thường
này chứ chúng không cho phép linh hồn vượt lên trên
thế giới đang biến đổi ấy.
Mục đích của người Kỳ Na giáo là trở thành một siddha
— người hoàn hảo. Siddha là người đạt tới sự tuyệt đối
về tri thức, nhăn quan, quyền năng và hạnh phúc. Trong
trạng thái hoàn hảo ấy, ta nhận ra rằng bản ngă
(atman) là thực tại tối hậu. Tới thời điểm này, linh
hồn tách biệt với thể xác. Kinh Tattvartha Sutra,
chương 10: 4-5 có viết:
“Khi linh hồn được giải thoát, ở đó chỉ c̣n lại niềm
tin chân chính hoàn hảo, tri thức chân chính hoàn hảo,
đức hạnh chân chính hoàn hảo và trạng thái mọi sự hoàn
hảo một cách toàn bộ.
Khi hết thảy các nghiệp báo ràng buộc đều bị loại bỏ,
linh hồn vút bay lên tới bến bờ không gian vũ trụ.”
Nhị nguyên tính
Cuối cùng, một điểm không thể không nhận thấy là rơ
ràng Kỳ Na giáo có tính nhị nguyên chủ nghĩa tận nền
tảng. Mặc dù trong diễn tiến b́nh thường của các biến
cố, linh hồn không thể không tương tác với vật chất,
nhưng thời điểm giải thoát cũng chính là lúc vật chất
bị bỏ lại đằng sau.