|
Bàn về Quan
hệ nhân quả (phần 1/2)
Nguyễn Ước
I. Luật nhân quả -
II. Tầm quan trọng của luật nhân quả -
III. Các thái độ trước đây trong lịch sử-
IV. Các thông giải thời hiện đại -
V. Tóm lược
I. Nguyên lư nhân quả
Mọi sự có thứ lớp
Nếu mượn h́nh ảnh của
kịch trường để diễn tả, chúng ta sẽ thấy thế giới giống một sân khấu
trên đó không diễn viên nào có thể bước ra sàn diễn nếu không nhận
được dấu báo hiệu cho riêng ḿnh. Không một cái ǵ có thể h́nh thành
hoặc ra đời do bởi ư thức thất thường hoặc đột ngột của tự thân nó.
Khi ánh chớp lóe lên, sấm
nổ rền, gió thổi rạt rào và nước lũ hay triều cường dâng cao, chúng
ta biết chắc chắn chúng là kết quả của những điều kiện vật lư khác.
Những cái được cuộc đời hiến dâng như hạnh phúc, khốn khổ, đau đớn,
bệnh tật, nghèo cực, v.v. đều có nguyên nhân của nó. Mọi sự hiện
hành đều được sản sinh từ những sự khác đang hiện hữu.
Đều phải có nguyên
nhân
Không cái ǵ có thể thành
hiện thực cho đến khi các điều kiện của nó được thể hiện thỏa đáng
và khiến cho nó xuất hiện. Như trong một cuộc tŕnh diễn có tŕnh tự
tốt đẹp trên sân khấu, vị đạo diễn thiên tài của mọi lớp lang ấy
chính là quan hệ nhân quả (causality), h́nh thành nguyên lư quan hệ
nhân quả (the principle of causality), hay luật nhân quả (law of
causality).
Mỗi biến cố phải có
nguyên nhân. Đó là qui luật nền tảng, cho thấy ư nghĩa của trật tự
trong thiên nhiên; và dường như nó ít ra cũng có ư nghĩa với cuộc
đời của nhiều người.
II. Tầm quan trọng của
nguyên lư nhân quả
1. Công dụng
Từ quả t́m nhân
Luật nhân quả đôi khi
được dùng như một nguyên lư nhằm giải thích theo ư nghĩa rằng nếu có
thể thấy cái tạo ra cái ǵ đó, chúng ta có thể chứng minh tại sao và
bằng cách nào xảy ra cái đó.
Trong tiểu thuyết trinh
thám b́nh dân, khi t́m thấy một tử thi nhét trong tủ áo, hai tay bị
trói quặt ra sau lưng, viên thám tử bắt đầu một chuỗi điều tra. Y
tiến hành nhiều cuộc thăm ḍ, có khi đúng đường có khi sai hướng.
Nhưng cuối cùng y vẫn t́m ra thủ phạm, phá được vụ án bí ẩn đó.
Không ai có thể hiểu tại
sao công nhân trong các đồn điền cao su Nam bộ thời Pháp thuộc bị
mắc bệnh vàng da và sốt rét cấp tính khiến nhiều người phải bỏ mạng
giữa chốn rừng xanh đất đỏ, cho tới khi chuyên viên y tế cho thấy
vai tṛ của muỗi sốt rét trong việc truyền bệnh từ những suối nước
đầy lá mục và rác bẩn. Ảo thuật gia và nhà văn Mỹ gốc Hungary *Harry
Houdini (1874-1926), theo lời người ta kể lại, có thể giải thích
hiện tượng những buổi gọi hồn của con đồng khi ông dùng các phương
tiện tự nhiên diễn lại đúng y như các hiện tượng đó.
Gia tăng tầm kiểm soát
Nguyên lư nhân quả quan
trọng v́ càng hiểu rơ nguyên nhân, con người càng mở rộng tầm kiểm
soát các điều kiện tự nhiên. Không biến cố nào có thể xảy ra nếu
trước đó không xảy ra nguyên nhân của nó. Khi hiểu nguyên nhân, con
người có thể ngăn chận biến cố bằng cách loại trừ các điều kiện phát
sinh nó. Hoặc con người có thể tạo biến cố bằng cách cung cấp những
điều kiện thích hợp.
Ngay trong buổi b́nh minh
của thời hiện đại, hai triết gia Anh Francis Bacon và Thomas Hobbes
đă nhận ra tầm quan trọng của vấn đề ấy. Cả hai nhấn mạnh nhu cầu
khiến khoa học phải tập trung vào việc khám phá cách phát sinh biến
cố hoặc cung cấp nguyên nhân của chúng, nhằm cải thiện số phận con
người. Cả hai vạch rơ rằng không phải lúc nào cũng thấy rơ nguyên
nhân v́ thế có thể cần phải nghiên cứu một cách chuyên môn và tường
tận.
Kể từ thời của hai triết
gia ấy, các nhà luận lư học cùng các nhà khoa học nỗ lực phát triển
các phương pháp chính xác để khám phá cho ra nguyên nhân.
Và để thẩm tra triết
học
Đă được chứng minh là rất
thành công trong việc cắt nghĩa cùng thông giải các ứng dụng khoa
học, nguyên lư quan hệ nhân quả cũng hữu ích cho công tác thẩm tra
triết học. Các nhà thần học dùng luận cứ rút từ quan hệ nhân quả ra
để kiến lập sự hiện hữu của Thượng đế, v́ có vẻ vũ trụ – giống như
mọi thứ bên trong nó – đều phải tùy thuộc vào cái ǵ đó khác với
chính nó để hiện hữu.
Có những triết gia tiếp
thu các nguyên lư tổng quát của chủ nghĩa duy nghiệm do Locke,
Berkeley và Hume tŕnh bày nhưng bất đắc dĩ phải chấp nhận cái kết
luận cho rằng thế giới chỉ hiện hữu trong ư tưởng của chúng ta, họ
cố t́m lối thoát ra khỏi thuyết duy ngă (solipsism) bằng cách lập
luận rằng hết thảy các ư tưởng của chúng ta phải có nguyên nhân ở
bên ngoài chúng ta, v́ thuyết duy ngă cho rằng con người chỉ có thể
hiểu biết bản thân thôi.
Ứng dụng vào nhiều
lănh vực
Có những nhà khoa học
muốn chứng minh các tiên đoán của ḿnh về cái sẽ xảy ra trong tương
lai; họ đặt căn bản đức tin của ḿnh lên tính đồng nhất và đơn điệu
của thiên nhiên mà theo ư nghĩa độc nhất, là một phương cách rất
ngăn nắp, tề chỉnh, đưa tới sự có mặt một cách phổ quát của quan hệ
nhân quả.
Có những tác viên xă hội
hy vọng giải quyết các vấn đề, thí dụ thiếu niên phạm pháp, bằng
cách cải tạo môi trường xă hội; họ phải dựa vào quan hệ nhân quả để
biện minh cho quan điểm đấu tranh của ḿnh rằng các điều kiện nhất
định sẽ sản sinh các kết quả nhất định.
Sự ứng dụng nguyên lư
quan hệ nhân quả c̣n đi quá bên kia những minh họa vừa kể. Rất có
thể nó c̣n được những người sống trong mọi cảnh ngộ của cuộc đời với
đủ loại quan tâm cùng sở thích khác nhau xem như một trong những
điều khoản nền tảng nhất của đức tin. Ở đây, tôi chỉ có ư nhấn mạnh
rằng nó được xem như một điều khoản của đức tin như một sự giả định.
Những kẻ tùy thuộc một
cách rơ rệt vào nó thường cho rằng họ biết họ có ư nói ǵ khi dùng
cụm từ "quan hệ nhân quả" và họ cũng chẳng chút nào ngờ vực thực tại
của nó. Tuy thế, nếu có thể chứng minh rằng ư nghĩa của nhân quả như
đă được chấp nhận một cách tổng quát, là vô căn cứ, th́ kết quả của
sự chứng minh đó hẳn đánh đổ một số khái niệm về vũ trụ.
2. Nhân quả là tương
quan
Chưa đánh giá đúng mức
Khởi sự suy ngẫm về
nguyên lư quan hệ nhân quả, ấn tượng đầu tiên của chúng ta là kinh
ngạc về việc người đời dường như không đánh giá đúng mức tầm quan
trọng của lời họ nói khi họ khẳng định rằng "Mỗi kết quả phải có một
nguyên nhân".
Đối với một số triết gia,
đó không phải là lời phát biểu mang tính sự kiện mà chỉ là một cách
đầu hàng các yêu cầu của ngôn ngữ. Nó có vẻ như một lối nói có này
có nọ cho phải phép. Nghĩa là không thể nào nói tới nguyên nhân mà
không nhắc tới kết quả, giống như khi ta đề cập tới "nóng" mà không
ngụ ư tới "lạnh", hoặc "dài" mà không ngụ ư tới "ngắn". Cũng thế, từ
ngữ "nguyên nhân" ngụ ư tới "kết quả", và trong chính nó chẳng chứng
minh ǵ cả ngoài tương quan tất yếu giữa hai từ ngữ đó.
Phải là tương quan
giữa các biến cố
Nếu nguyên lư ấy biểu
hiện cho cái ǵ đó có thật, nó phải được giảm thiểu thành những lời
phát biểu không phải về tương quan giữa các từ ngữ mà là giữa các
biến cố: lời phát biểu rằng biến cố B không thể nào xảy ra mà không
có biến cố A đi liền trước nó và sản sinh ra nó. Thế nhưng, trong
thực tế, có lẽ không dễ dàng thiết lập được tương quan ấy.
Khi gợi ư rằng biến cố A
đi liền trước biến cố B và làm phát sinh biến cố B, dường như ta có
ngụ ư rằng cả hai biến cố đó khác nhau. Nếu quả thật chúng khác nhau
th́ câu nói biến cố này gây ra biến cố kia quả thật khó hiểu. Làm
thế nào một biến cố tự nhiên lại sản sinh ra cái hoàn toàn khác với
nó? Từ đâu xuất hiện biến cố mới? Nếu kết quả hoàn toàn khác với
nguyên nhân, th́ có một lỗ trống giữa chúng cần được lấp đầy, và
quan hệ nhân quả dường như không đủ để lấp đầy lỗ trống ấy.
Nếu nguyên nhân và kết
quả không khác nhau th́ dường như chúng phải giống nhau. Nếu chúng
giống nhau th́ quả thật khó hiểu v́ làm thế nào cái mới có khả năng
xảy ra giống với cái cũ đă xảy ra.
Ở đây, hầu như chúng ta
đối mặt một nan đề. Nếu giả định rằng B khác với A th́ thấy không
thể nào chứng minh chúng có tương quan. Nếu giả định rằng B hoàn
toàn giống A th́ thấy không thể nào chứng minh vạn vật đều biến đổi.
Dường như không có lối thoát nào cho câu hỏi không có cách trả lời
ấy.
Lập trường của Long
Thọ
Cách đây gần hai ngàn năm,
tại Ấn Độ, đại luận sư Long Thọ, khoảng thế kỷ 2-3 sau C.N., người
hệ thống hóa triết học Phật giáo, đặt nền móng cho Trung quán tông
của Đại thừa, mà những phát biểu của ông về Không tính của vạn sự
vạn vật đă đưa tới những áp dụng vào vấn đề quan hệ nhân quả như sau:
1. Nguyên nhân và kết quả
không thể giống nhau (v́ ngược lại, sẽ không xảy tới cái ǵ mới mẻ);
2. Nguyên nhân và kết quả
không thể không nối kết với nhau (v́ ngược lại, cái này không thể
gây nên cái kia – kinh nghiệm cho chúng ta thấy thực tế chúng nối
kết v́ nói cho cùng, thế giới có thể được dự đoán phần nào);
3. Kết quả không thể là
thành phần của nguyên nhân (v́ ngược lại, sẽ không thể nào gây nên
cái ǵ đó mới mẻ);
4. Do đó, theo tư duy qui
ước, để cho cái ǵ đó được tạo nên, phải có sự liên tục nhưng đồng
thời cũng phải có cái ǵ đó mới mẻ;
5. V́ thế, lối lập luận
có tính qui ước ấy bị sụp đổ, nó không có khả năng giải thích quá
tŕnh biến đổi.
(Xem Đại cương triết
học Đông phương, cùng một soạn giả)
3. Nan giải khi định
nghĩa
Sai lầm tự căn bản
Nếu chúng ta hiểu lời
phát biểu rằng mỗi biến cố phải có một biến cố khác đứng trước có ư
nghĩa một chuỗi mang tính nguyên nhân được tạo thành bởi các biến cố
đơn thuần riêng rẽ, lúc đó, nói theo tinh thần Long Thọ, chúng ta
mắc phải sai lầm. V́ khi chịu khó suy ngẫm đôi chút về vấn đề đó,
chúng ta sẽ thấy nó quả thật không đúng như thế.
Khi chúng ta chọn một cái
nào đó như nguyên nhân của một biến cố, dường như cái đó chỉ phản
ánh sự hiểu biết hoặc mối quan tâm của chúng ta mà thôi. Hầu hết
người ta cho là thích đáng khi nói: "Cục đá đó làm vỡ cửa kính", có
nghĩa cục đá đó được xem là nguyên nhân duy nhất gây ra biến cố đó.
Đối với nhà vật lư học và nhà hóa học, lời giải thích ấy không thích
đáng v́ tự thân cục đá không thể nào làm vỡ cửa kính.
Thêm nữa, có khả năng
người chủ của ngôi nhà có cửa kính bị vỡ ấy qui trách cho kẻ bị ông
thấy đang ném cục đá. Nhà tâm lư học có thể truy tầm nguyên nhân của
biến cố ấy trong sự xáo trộn tâm lư của người chủ nhà khi bị ngân
hàng đ̣i tịch biên nhà v́ không trả nổi tiền nợ mua nhà nên ông ta
tức tối tự ném vỡ cửa kính nhà ḿnh.
Qui cho nguyên nhân
đơn lẻ
Hết thảy các thành tố này
nọ đều liên quan tới toàn bộ hoàn cảnh, và không có toàn bộ hoàn
cảnh th́ bất cứ lời giải thích nào cũng không thỏa đáng. Khi chúng
ta nói tới nguyên nhân, chúng ta quả thật có ư đề cập tới một thành
tố trong số các điều kiện; đối với chúng ta, thành tố ấy có vẻ thích
đáng chỉ v́ mối quan tâm của chúng ta, hay nói một cách nôm na là
dường như nó đúng với ư của chúng ta. Nếu quả đúng như thế, khi nói
tới một nguyên nhân đơn lẻ tạo thành một biến cố tức là ta đă giảm
thiểu.
Sách lịch sử sơ cấp
thường can tội giảm thiểu như thế khi đưa ra nguyên nhân của một
biến cố lịch sử. Không ǵ có thể phi lư hơn khi cho rằng Hoa Kỳ tham
gia Thế chiến Hai chỉ v́ Trân Châu Cảng bị ném bom.
Cũng một biến cố lịch sử,
người ta có những lời giải thích khác nhau do các sử gia ở nhiều
quốc gia khác nhau, và hầu như chúng đều liên quan tới loại giản
lược ấy. Sử gia và triết gia người Mỹ *Will Durant (1885-1981) nói
rằng ông có thể cắt nghĩa động lực biến đổi của lịch sử loài người
không phải do bởi đấu tranh giai cấp mà chỉ v́ xung khắc tôn giáo,
hoặc v́ đam mê t́nh ái, hoặc v́ tham vọng quyền lực của các bậc vua
chúa, v.v. tùy vào sở thích hoặc quan tâm của ông.
Rơ ràng ta cần phải ngừng
lại tại một chỗ nào đó việc qui kết nguyên nhân cho một hoạt động mà
bỏ sót các điều kiện có thể tác động lên tri thức của chúng ta, nhất
là đối với các hiện tượng như động thái của con người mà rơ ràng
chúng ta phải dồn hết mọi nỗ lực để t́m hiểu chúng.
Qui cho nguyên nhân
sức mạnh
Niềm tin hoàn toàn vào
quan hệ nhân quả, dù qui cho một hay nhiều điều kiện, chỉ là ư tưởng
cho rằng trong nguyên nhân hàm chứa một sức mạnh phát sinh nào đó. "Không
có lửa làm sao có khói". Từ ngữ "nguyên nhân" tập kết nghĩa rộng vừa
nói ấy vào trong nó có lẽ v́ nó tương hợp với ư chí hành động của
bản thân chúng ta. Khi tôi đẩy một chướng ngại vật ra khỏi lối đi
của ḿnh, hoặc ngay cả khi tôi nhấc cánh tay của ḿnh lên, hậu quả
ấy có quan hệ với hành động tạo tác của ư chí của tôi.
Đối với các triết gia suy
tưởng về khoa học (philosophers of science), khái niệm đó gây khó
khăn cho họ hơn bất cứ triết gia nào khác v́ một đằng nó dường như
có một ư nghĩa nào đó, một đằng hầu như không thể nào khám phá ra ư
nghĩa ấy là ǵ. Không có chứng cớ khoa học cho thấy có sức mạnh nào
như thế, cũng không có ư nghĩa hợp qui cách (legitimate) nào của từ
ngữ "nguyên nhân" hiểu theo nghĩa rộng ấy.
Nạn nhân của nguyên
nhân
Chừng nào c̣n viện dẫn từ
ngữ "nguyên nhân" để giải thích quan hệ nhân quả, dường như chừng đó
chúng ta vẫn là nạn nhân lẩn quẩn của một quá tŕnh vớ vẩn, ở đó
chúng ta sử dụng một từ ngữ mà ḿnh vừa không hiểu rơ vừa xem nó như
một giải pháp thích đáng cho vấn đề.
Tuy thế, nếu từ ngữ "nguyên
nhân" không cần thiết th́ có vẻ như thể chẳng có cái ǵ có thể được
gọi một cách thích đáng là quan hệ nhân quả, và chúng ta chấm dứt
trong ngơ cụt. Nếu có một lối ra khỏi t́nh thế tới lui đều khó này
(dilemma), chúng ta phải t́m cho ra, bằng việc xem xét một số giải
đáp từng được đưa ra cho vấn đề quan hệ nhân quả.
III. Các thái độ trước
đây trong lịch sử
1. Hai loại giải thích
Mê tín và khoa học
Không chắc người nguyên
thủy có khả năng phân tích một khái niệm trừu tượng như quan hệ nhân
quả không, nhưng có bằng chứng rằng họ chấp nhận nó như một thực tế.
Ở những chỗ thiếu tri thức khoa học, con người có khuynh hướng bù
đắp vào bằng những giải thích mê tín.
Hễ nơi nào thái độ khoa
học thắng thế, những giải thích mê tín bị hất cẳng bởi những giải
thích tự nhiên. Người ta giả định rằng các biến cố tự nhiên đều có
nguyên nhân tự nhiên; nếu khám phá ra nguyên nhân ta có thể kiểm
soát biến cố ấy.
Người mê tín qui bệnh tật
cho bùa ngăi độc dữ hoặc hành động của đấng "Hoàng thiên nổi cơn
thịnh nộ". Các nhà khoa học t́m kiếm nguyên nhân của bệnh tật trong
các sự việc như điều kiện vệ sinh, chứ không phải sự ghét bỏ mang
tính thiêng liêng hay huyền bí, v́ nếu t́nh trạng thiếu vệ sinh hiện
hành có liên quan tới bệnh tật th́ có thể cải thiện t́nh trạng đó.
Trong h́nh thức y dược hiện đại, kết quả của lối tiếp cận mới này là
bằng chứng thực tiễn và tốt đẹp cho tính chính xác của nó.
2. Aristotle và bốn
nguyên nhân
Aristotle là một trong
các nhà tư tưởng đầu tiên đưa ư tưởng quan hệ nhân quả làm đối tượng
cho một cuộc phân tích khắc nghiệt, và chúng ta sẽ hiểu rơ hơn những
triển khai về sau của nó nếu chúng ta xem xét kỹ lư thuyết của vị
triết gia Hi Lạp cổ đại ấy.
Bốn nguyên nhân
Nếu xem xét bất cứ đối
tượng sống động hay bất động nào, chúng ta sẽ thấy cái nào cũng có
một "lịch sử". Mọi cái chúng ta đang quen thuộc đều đến từ cái nào
khác, và nếu không có cái nào khác ấy, chúng không thể thành hiện
thực. Điều đó có nghĩa rằng có một nguyên nhân chất liệu (material
cause) cho mọi cái, hiểu theo ư nghĩa của học thuyết Aristotle th́
cái này nào đó là tiềm năng (potential) của cái khác nào đó. Để xây
cất một ngôi nhà, chúng ta phải có đá hoặc gỗ, v.v. Những cái đó
không thật sự là ngôi nhà mà chỉ là cái tiềm năng, và do đó, biểu
hiện cho nguyên nhân chất liệu.
Gạch đá hoặc gỗ tự chúng
không có khả năng h́nh thành ngôi nhà. Để làm chuyện đó, chúng ta
cần thợ mộc hay thợ nề hay thợ đẻo đá. Chính qua nỗ lực của những
người thợ đó, nguyên nhân chất liệu có thể khoác một h́nh thức nhất
định. Thế th́ những người ấy là nguyên nhân tác động
(efficient cause), hay nguyên nhân hiệu ứng, cái sản sinh kết quả
trong trường hợp ngôi nhà.
Chúng ta thử hạn chế minh
họa ấy vào người thợ nề. Y không lượm gạch lên, ném chúng vào nhau
một cách ngẫu nhiên với hy vọng đạt kết quả tốt nhất. Không. Trong
khi xây dựng, y luôn luôn có một kế hoạch hoặc một bản thiết kế
hướng dẫn. Bản thiết kế ấy biểu hiệu h́nh thức sẽ được thực hiện, và
đó là nguyên lư tổ chức. Trong học thuyết Aristotle, nó là dạng thức
(form) biến tiềm năng thành hiện thực, biến một vật thành đúng loại
của chính nó. Đó là nguyên nhân dạng thức (formal cause).
Chúng ta không tập trung
vật liệu và thuê thợ nề để xây dựng một loại ngôi nhà nào đó nằm
ngoài chủ định của ḿnh. Có thể chúng ta muốn làm một ngôi nhà cho
ḿnh ở, hoặc đầu tư để cho thuê, hoặc chỉ làm nhà để xe hoặc nhà kho.
Rơ ràng rằng mục đích đóng vai tṛ lớn lao trong việc quyết định sẽ
dùng loại vật liệu nào, bỏ ra bao nhiêu tiền và thuê loại thợ nào.
Không có việc nào được
thực hiện mà không có mucï đích. Từ ngữ "mục đích" (goal), cũng
thường được gọi theo cách khác, bao quát hơn, là "cứu cánh"
(purpose) có nguồn gốc từ chữ Hi Lạp telos, nghĩa đen là cái
đích tối hậu hoặc cái được nhắm tới. Trong tiếng Việt, mục là mắt,
đích là cái nhắm tới; mục đích là cái được con mắt nhắm tới. Cả hai
ư nghĩa ấy đều hàm ư cái được nhắm tới ấy vượt quá, hay ở quá bên
kia vật chất. Chừng nào chúng ta c̣n nhấn mạnh tới các nguyên nhân
có tính mục đích, chừng đó chúng ta c̣n phát biểu mang tính *cứu
cánh luận (teleology). Trong mẫu thức (pattern) phân tích quan hệ
nhân quả theo Aristotle, cái này được gọi là nguyên nhân tối
hậu (final cause), hay như về sau thường gọi là nguyên nhân
cứu cánh, cho rơ nghĩa hơn.
Nguyên nhân cứu cánh
quan trọng nhất
Thế th́ theo Aristotle,
có bốn nguyên nhân liên quan tới việc giải thích sự phát triển của
bất cứ vật nào: chất liệu, tác động, dạng thức và cứu cánh. Bốn
nguyên nhân ấy đều liên quan tới sự thảo luận của Aristotle về vật
chất (matter) và dạng thức (form). Nguyên nhân chất liệu như có tính
tiềm năng cũng vẫn chỉ là vật chất trong khi ba nguyên nhân kia là
sự triển khai ư nghĩa của dạng thức (formal) hoặc thực tế
(actuality).
Đối với Aristotle, trong
ba nguyên nhân đó, nguyên nhân cứu cánh (tối hậu) quan trọng nhất.
Ông cho rằng mục đích – hoặc cứu cánh – của phát triển là lư do thật
sự của một vật.
Cụm từ "nguyên nhân cúu
cánh" gợi cho thấy hiện tại được quyết định bởi tương lai, theo ư
nghĩa rằng chính cái đang là của vật-sắp-trở-thành quyết định giai
đoạn phát triển của nó trong hiện tại. Chúng ta có thể hiểu sai ư
nghĩa của thuật ngữ ấy, làm phát sinh những khó khăn không cần thiết
nếu chúng ta giả dụ rằng tương lai phi hiện hữu là nguyên nhân của
hiện tại đang hiện hữu.
Ư nghĩa nằm trong dạng
thức
Nguyên nhân cứu cánh phải
có ư nghĩa khác hơn ư nghĩa đơn thuần về thời gian. Ư nghĩa ấy được
t́m thấy trong bản tính tổng quát của dạng thức của vật nếu nó được
xem xét theo khía cạnh phi thời gian.
Cây bắp đă ở sẵn trong
hạt bắp, v́ cái mà hạt bắp sắp trở thành quyết định cả chất dinh
dưỡng sẽ thẩm thấu lẫn định hướng phát triển. Hạt bắp không thể nào
là cây thuốc lá hoặc cây kê hoặc bất cứ loại cây nào khác, ngoại trừ
cây bắp. Suốt quá tŕnh phát triển, ở bất cứ giai đoạn nào, dạng
thức hiện thời điều hướng sự phát triển, và định hướng ấy bị quyết
định bởi cứu cánh sẽ được thể hiện.
Aristotle và Kitô giáo
Từ khái niệm về nguyên
nhân cứu cánh trong quá tŕnh phát triển của một vật, người ta dễ
dàng chuyển sang ứng dụng tổng quát nguyên tắc ấy và toàn thể thiên
nhiên. Chúng ta có thể giả định rằng nếu có nguyên nhân cứu cánh (hoặc
tối hậu) của từng biến cố đơn lẻ th́ phải có cứu cánh cho toàn bộ
thiên nhiên.
Aristotle gợi ư rằng
nguyên nhân cứu cánh của toàn thể vạn vật là Thượng đế, dù khái niệm
của ông về Thượng đế ít có điểm chung với khái niệm của Kitô giáo.
Tuy nhiên, sự thể hiện của thiên nhiên như được quyết định bởi một
hấp lực toàn hảo hiện hữu bên ngoài nó. Khái niệm của Aristotle được
thông diễn thành các thuật ngữ Kitô giáo, và giờ đây, ư tưởng về
nguyên nhân cứu cánh được nối kết với kế hoạch của Thiên Chúa dành
cho thế gian.
Những kẻ theo Aristotle
biến nguyên nhân cứu cánh thành nguyên nhân quan trọng nhất, và ngày
nay nó vẫn c̣n được chấp nhận là thành phần của truyền thống Kitô
giáo, vốn đă và đang bị nhào nặn bởi các phạm trù Aristotle. Chúng
ta sẽ khảo sát khái niệm ấy đầy đủ hơn một chút ở chương sau, để
đánh giá tầm quan trọng về lâu về dài của nó.
Ứng dụng vào khoa học
Xét theo các cứu cánh của
chúng ta, sự ứng dụng quan trọng nhất của học thuyết Aristotle là
trong lănh vực khoa học. Khi đươc nối kết – và phải nối kết như thế
– với học thuyết các yếu tính (theory of essences), nó đă giới hạn
khoa học do sự nhấn mạnh của nó vào mục đích của khoa học như một sự
giải thích động thái.
Quả thật, chừng nào c̣n
quan tâm tới Aristotle, chúng ta không có lư do ǵ để lơ là nguyên
nhân tác động, thế nhưng có một điều chúng ta cũng phải nói tới:
chính v́ ḷng ưu ái của vị triết gia ấy dành cho nguyên nhân cứu
cánh nên nguyên nhân tác động bị mờ mịt. Và đó là lư do khiến
Francis Bacon khẳng định rằng thuyết nguyên nhân cứu cánh (tối hậu
hay mục đích) đă làm hư hoại khoa học.
3. Chống nguyên nhân
cứu cánh
Đề cao nguyên nhân tác
dộng
Trên một qui mô lớn, cuộc
cách mạng khoa học trong hai thế kỷ 16 và 17 là cuộc cách mạnh chống
lại khái niệm nguyên nhân tối hậu và tái khẳng định tầm quan trọng
của nguyên nhân tác động (hiệu ứng). Trong số các lănh tụ của cuộc
cách mạng đó có Galileo, Bacon, Hobbes và Descartes. Galileo nhấn
mạnh và thực hiện cuộc trở về với quan sát và thí nghiệm như hai
phương cách khám phá các vật xảy ra như thế nào thay v́ lư
luận về chúng để khám phá chúng xảy ra v́ lư do nào.
Những kẻ theo Aristotle
lấy làm thỏa măn mối quan tâm khoa học của ḿnh khi họ có thể chỉ
cho ta thấy rằng viên đá rơi xuống đất là v́ nó đang t́m kiếm vị trí
tự nhiên của nó là mặt đất, và trạng thái tự nhiên của nó là an nghỉ,
cũng như ngọn lửa hướng lên trời v́ trạng thái tự nhiên của nó là
bốc cháy. Về phần Galileo, ông quan tâm hơn tới sự quan sát cái thật
sự xảy ra và mô tả việc đang xảy ra trong liên quan tới không gian
và thời gian.
Khoa học chỉ cần một
nguyên nhân
Nếu nguyên nhân cứu cánh
là tối thượng th́ lúc đó quan hệ nhân quả có tính tác động
(efficient causality) không quan trọng, người theo Aristotle đă phán
quyết như thế. Khoa học hiện đại bắt đầu khi vai tṛ của hai nguyên
nhân ấy bị đảo ngược và quan hệ nhân quả có tính tối hậu ngày càng
bị gạt bỏ.
Thành quả nhanh chóng của
khoa học dường như chứng minh cho thái độ ấy, và chẳng bao lâu, trở
thành thời thượng việc cười vào mũi những người vẫn c̣n cảm thấy
phải cần tới nguyên nhân tối hậu để có một thông giải đầy đủ. Khoa
học bằng ḷng với chỉ một nguyên nhân thôi trong khi đó Aristotle
quả quyết có tới bốn nguyên nhân.
Chỉ c̣n nguyên nhân
tác động
Có lẽ tư tưởng tinh tiến
một cách tự nhiên nhờ việc quay 180 độ từ cực đoan này sang cực đoan
khác và thao tác trên nội hàm của mỗi lập trường trước khi kết tập
thành một thỏa hiệp trong đó bảo tồn cái tốt đẹp nhất của mỗi quan
điểm và loại bỏ những cái vô lư quá đáng trong cả hai.
Dù đúng hay không đúng,
thực tế chúng ta càng ngày càng quen thuộc với ư tưởng quan hệ nhân
quả có tính tác động như một quan hệ nhân quả duy nhất, tới độ rất
khó khăn khi cần phải thuyết phục người khác rằng trong ư tưởng
nguyên nhân cứu cánh cũng có điều ǵ đó có giá trị.
Sự chọn lựa và chấp nhận
của khoa học về quan hệ nhân quả như tương quan tự nhiên của các
biến cố ở đó cái này nhất thiết đi trước và sản sinh cái kia có vẻ
như được chứng minh nhờ nó thao tác hữu hiệu. Cuộc t́m kiếm các
nguyên nhân đă cung cấp cho con người sự kiểm soát mà nó cần tới.
Ở nơi sự mê tín và bùa
ngải thần chú thất bại trong việc kiểm soát bệnh đậu mùa, bệnh sốt
rét và bệnh tiêu chảy cấp (dịch tả), cuộc t́m kiếm của khoa học nhằm
sở hữu tri thức về các lư do thiên nhiên của bệnh tật đă mang các
tai họa ấy của loài người vào trong tầm kiểm soát.
Chiến thắng dồn dập
Hết thắng lợi này tới
thắng lợi khác, các thắng lợi gịn giă hàng hàng lớp lớp ấy lập nên
giá trị của phương pháp đó, tới độ vào cuối thế kỷ 19, nhà vạn vật
học (naturalist) người Đức *Ernst Haeckel (1834-1919) đă có thể khoe
khoang rằng trong một trăm năm ấy, con người tăng tiến tri thức hơn
tất cả các thiên niên kỷ trước đó trong cuộc tồn sinh của loài người.
Khi những kẻ ủng hộ khoa
học tiền-Newton (pre-Newtonian science) tấn công phương pháp của các
nhà khoa học hiện đại và thúc giục hăy trở về các phương pháp cũ như
một phương cách tiếp cận chân lư hữu hiệu hơn, họ đă la ó quá đáng
như gă lái buôn hết vốn đang khuyến cáo các nhà triệu phú cách thức
kiếm tiền.
Sự thách đố này hoặc nọ
các giả định căn bản của khoa học hiện đại chỉ có thể thành công nếu
nó chứng minh được rằng thành quả của khoa học hiện đại không thật
sự tùy thuộc vào một quan điểm nhất định về quan hệ nhân quả hoặc
rằng khái niệm về quan hệ nhân quả mà khoa học chọn lựa và chấp nhận
hoàn toàn không đúng như cái mà nó đang nghĩ.
Tư duy lối hàm số
Có nhiều nhà khoa học đă
và đang suy ngẫm sự giả định về quan hệ nhân quả. Họ sẵn sàng tránh
những hàm ư siêu h́nh học (metaphysical implications) bằng việc chỉ
đơn thuần xem xét nó như một hàm số của hai biến số. Bằng thái độ đó,
họ có ư nói rằng bất cứ thay đổi nào trong biến số này đều đi kèm
theo sự thay đổi tương ứng trong biến số kia.
Do đó, qui luật khoa học
chỉ dấu cho ta biết rằng có tương quan hiệu ứng giữa hai biến cố
hoặc các cấp bậc biến cố khiến cho sự sửa đổi của cái này đi kèm
theo sự sửa đổi tương ứng trong cái kia. Trong lời phát biểu này,
khoa học cho thấy nó không cần phải gắn bó vào bất cứ thông giải nào
về nguyên lư quan hệ nhân quả. Nó đơn thuần chỉ dấu cho thấy rằng
chính sự khám phá tương quan giữa hai biến cố hoặc hai cấp bậc biến
cố làm vững mạnh thêm thái độ đó.
Nếu giả định rằng tương
quan ấy diễn ra liên tục th́ sự giả định như một tiên đoán ấy có khả
năng đúng. Trước khi khoa học có thể đạt tới sự phát biểu có hệ
thống ấy, đă có những cuộc khảo sát nhằm t́m kiếm ư nghĩa của quan
hệ nhân quả, v́ chắc chắn rằng các nhà khoa học trước thời đó đă xem
quan hệ nhân quả như một loại sức mạnh giữa một nguyên nhân và một
kết quả khiến người ta có thể nói rằng kết quả được sản sinh bởi
nguyên nhân.
4. Hume và quan hệ
nhân quả
Nguồn kinh nghiệm của
ư tưởng
Lối tiếp cận ấy khởi đầu
với David Hume. Các triết gia trước ông xem là hiển nhiên việc họ
hiểu cái ǵ được ngụ ư trong cụm từ quan hệ nhận quả và việc khoa
học chấp nhận nó đă được chứng minh xong xuôi. Hume vạch ra rằng các
phương pháp khoa học và những lời xác nhận của nó về tri thức đều
trực tiếp mâu thuẫn nhau và rằng phải buông bỏ một trong hai cái đó.
Theo chân Bacon, những kẻ
thuộc trường phái Newton khước từ việc đơn thuần đề ra lư thuyết về
các vấn đề bản tính của thiên nhiên và nhấn mạnh sự hoàn toàn viện
dẫn kinh nghiệm. "Hypothesis non fingo: Tôi không tạo dựng ra
giả thuyết", đó là khẩu hiệu của nhà khoa học vĩ đại Newton. Như một
kẻ phục vụ và kẻ thông giải thiên nhiên, con người hướng tới thiên
nhiên để t́m lời giải đáp cho các câu hỏi của ḿnh và chỉ chấp nhận
những ǵ mà kinh nghiệm có thể cho là có giá trị.
Locke thấy rằng sự viện
dẫn kinh nghiệm này có nghĩa duyệt xét ư nghĩa của tri thức và đặt
giới hạn cho những ǵ con người có thể biết một cách chắc chắn. Toàn
bộ tri thức bắt đầu với các ư tưởng được tiếp nhận thông qua giác
quan từ các đối tượng ngoại tại, và không ư tưởng có giá trị nào có
thể ở trong tâm trí nếu trước hết nó không ở trong giác quan.
Locke thấy cái được hàm
chứa trong phương pháp khoa học mới, nhưng ông không tiến hành cuộc
phân tích của ḿnh đủ độ xa của nó v́ đôi khi trong các tiền đề của
chính ḿnh, ông chấp nhận các ư tưởng không thể có giá trị. Chúng ta
đă thấy điều đó với ư tưởng bản thể vật chất; và nó cũng đúng y như
thế với ư tưởng quan hệ nhân quả. Locke quả thật đạt tới khái niệm
quan hệ nhân quả do suy ra từ các ư tưởng nhất định chứ không như
một ư tưởng được sở đắc trực tiếp qua giác quan.
Hume chấp nhận các nguyên
tắc duy nghiệm tổng quát (the general empirical principles) của
Locke nhưng ông nhấn mạnh tính chất nhất quán trọn vẹn trong khi ông
để cho các nguyên lư mang ḿnh đi tới đâu th́ tới. Do đó, ông đưa ra
lời tuyên bố làm nền tảng rằng không thể chấp nhận một ư tưởng có
giá trị nếu nó không thể cho thấy có nguồn gốc trong kinh nghiệm
giác quan. Lời ấy dẫn tới sự khảo sát ư tưởng quan hệ nhân quả.
Phân tích của Hume
Khi phân tích đầy đủ
những ǵ được xem xét một cách tổng quát là có liên hệ tới quan hệ
nhân quả, theo Hume, ta sẽ nhận thấy có bốn thành tố:
1. Nguyên nhân và kết quả
phải gần kề nhau; không thể nào có một hành động có
tính nguyên nhân ở cách một quăng. Quả thật sự tiếp giáp này có thể
trực tiếp hoặc gián tiếp. Nó trực tiếp khi cục đá chạm vào cửa kính
vào lúc kính vỡ; nó gián tiếp khi b́nh xăng ô-tô nổ khiến các bánh
xe văng ra ngoài. Cũng có thể thấy rằng sự tiếp xúc gián tiếp thật
sự là một chuỗi các nguyên nhân, ở đó mỗi nguyên nhân và mỗi hậu quả
tiếp xúc trực tiếp với nhau;
2. Nguyên nhân luôn luôn
đi liền trước kết quả. Không cần phải nhận thức được sự tiếp
xúc của cả hai, nhưng rơ ràng phải có sự nối tiếp. Khi chúng ta suy
nghĩ dưới dạng khái niệm thô sơ hơn về quan hệ nhân quả, thí dụ viên
đạn giết chết một người, th́ rơ ràng viên đạn ấy phải trúng ngực
trước khi người ấy chết. H́nh ảnh minh họa ấy cho thấy rơ rệt
rằng sự nối tiếp hàm ư trong chính từ ngữ của nó có nguyên nhân được
xác định đi liền trước kết quả.
3. Phải có sự truyền
lực từ nguyên nhân sang kết quả. Ư tưởng này nối kết với khái
niệm về quan hệ nhân quả như một hành động sản sinh cái ǵ đó v́ ư
tưởng về sản sinh không thể không liên quan tới một sức mạnh nào đó.
Khi trái bi-da lăn tới, chạm vào một trái bi-da khác đang đứng yên,
trái thứ hai phải chuyển động theo cách gợi cho thấy có sự truyền
lực từ cái này sang cái kia.
4. Nhất thiết kết liên
nhau giữa nguyên nhân và kết quả. Điều này được hàm ư trong ngôn
ngữ b́nh thường của chúng ta khi nói rằng có kết quả th́ phải có
nguyên nhân. Dường như mối kết liên này được chứng minh bằng thực
tiễn khoa học vốn lấy sự nhất thiết đó làm căn bản dự báo của nó.
Khi tôi nói rằng các ư tưởng trong tâm trí của tôi chỉ tới sự hiện
hữu của các đối tượng ngoại tại, tôi thật ra có ư nói rằng ư tưởng
ấy như một kết quả phải có một nguyên nhân và rằng nguyên
nhân ấy là cái ǵ đó khác với ư tưởng ấy.
Tóm lại ta thấy ư tưởng
quan hệ nhân quả được Hume chiết ra thành các ư tưởng có tính thành
tố: – (1) gần kề nhau; – (2) nối tiếp nhau; – (3) truyền lực cho
nhau; – và (4) nhất thiết kết liên nhau.
Lấy kinh nghiệm làm cơ
sở
Nếu một ư tưởng phức tạp
có giá trị th́ các ư tưởng hiệp thành nó đều có giá trị một cách
riêng rẽ. Chúng ta đă thấy rằng không ư tưởng riêng biệt nào được
chấp nhận là có giá trị nếu nó không đặt cơ sở trên kinh nghiệm; nó
phải cho thấy cái ấn-tượng-giác-quan (sense-impression) gây nên ư
tưởng đó.
Trên cơ sở ấy, có thể lập
thành các ư tưởng (1) gần kề nhau và (2) nối tiếp nhau v́ chúng ta
có thể quan sát nguyên nhân và hậu quả trong sự tiếp xúc cụ thể của
chúng, thí dụ trường hợp cục đá với cửa kính, viên đạn với lồng ngực,
và có thể thấy chúng nối tiếp nhau trong sự chuyển động của hai trái
bi-da. Bằng một cuộc kiểm tra thực nghiệm, cảù hai thành tố (1) và
(2) trong t́nh huống quan hệ nhân quả ấy đều có giá trị và có thể
được chấp nhận là chính xác.
Cuộc kiểm tra thực nghiệm
ấy sẽ không hữu hiệu đối với hai thành tố c̣n lại, đó là (3) truyền
lực cho nhau và (4) nhất thiết kết liên nhau. Chưa ai có khả năng
thấy sự truyền lực từ nguyên nhân sang kết quả, cũng như chưa ai
thấy chúng nhất thiết kết liên nhau.
Chúng ta có thể bác bỏ ư
tưởng truyền lực v́ nó chỉ có tính suy ra, dựa trên các hoạt động
của con người khi chúng ta, bằng hành động của ư chí, dường như đă
sản sinh các hành động như thế, thí dụ nhấc cánh tay của ḿnh lên
hoặc dời vật chướng ngại ra khỏi lối ḿnh đi.
Hume phản bác rằng hoạt
động ấy cũng là hoạt động, và nó cho thấy nó không thể là cái đúng
với vẻ ngoài của nó; nhưng tạm thời lúc này, khía cạnh đó của vấn đề
nằm ngoài tâm điểm của cái đang được chúng ta quan tâm.
Hume lập luận rằng phân
tích ư tưởng về thành tố (4) nhất thiết kết liên nhau cho thấy nó
quả thật không thể nào liên quan tới quan hệ nhân quả v́ cách riêng,
ư tưởng quan hệ nhân quả chỉ đ̣i hỏi hai thành tố (1) gần kề nhau và
(2) nối tiếp nhau. Khi chúng ta nh́n hai biến cố xảy ra nối tiếp
nhau mộc cách có qui củ và tiếp xúc nhau, chúng ta có cái được gọi
là sự liên tục mang tính quan hệ nhân quả. Khi chúng ta có nhiều dịp
trải nghiệm như thế mà không có ngoại lệ nào, lúc ấy, tiếp theo sự
xuất hiện của nguyên nhân, chúng ta trông đợi kết quả.
Chỉ do tâm trí thấy
trước
Và đó chỉ là phóng chiếu
vào tương lai sự kết liên đă được chúng ta trải nghiệm trong quá khứ.
Chừng nào các biến cố c̣n liên quan tới trải nghiệm th́ chừng đó
chúng không nhất thiết kết liên nhau. Theo Hume, ư tưởng "nhất thiết
kết liên nhau" chỉ phát sinh từ hoạt động của tâm trí vốn biết trước
sự kết liên do bởi các kinh nghiệm của nó trong quá khứ. Do đó, ư
tưởng về thành tố (4) không phát sinh từ sự kết liên thật sự nào
giữa các đối tượng mà từ hoạt động của một tâm trí biết trước sự
liên tục, và sự biết ấy gợi cho thấy sẽ xảy ra theo như thông lệ.
Ư tưởng "nhất thiết kết
liên nhau" là một ư tưởng có giá trị v́ nó bắt nguồn từ ấn tượng
(impression), nghĩa là sự thấy trước của tâm trí, nhưng nó không
dính líu tới tương quan nào giữa các đối tượng. Nó là mối quan hệ
giữa việc nh́n thấy biến cố này và việc thấy trước một biến cố nhất
định khác. Chừng nào c̣n dính líu tới kinh nghiệm th́ chừng đó c̣n
dính líu tới khoa học, thế nên ư tưởng quan hệ nhân quả chỉ liên
quan tới thành tố (1) "gần kề nhau" và thành tố (2) "nối tiếp nhau"
của nguyên nhân và kết quảû; và như thế, Hume kết luận rằng không "nhất
thiết kết liên nhau".
Xem tiếp phần 2/2
|