|
|
KINH NGHIỆM
TOÀN TRỊ TẠI TRUNG QUỐC
Lời mở đầu cho
loạt bài tuyển dịch “Kinh nghiệm toàn trị tại Trung Quốc”
Bước sang năm 2006, trên hầu hết các tạp chí có liên quan tới
thời cuộc, chủ đề Trung Quốc là một trọng tâm trong những bài tổng
kết sinh hoạt chính trị và kinh tế thế giới năm qua. Sự nổi bật của
Trung Quốc hiện nay đă gây kinh ngạc và làm rúng động toàn cầu, đồng
thời kích thích các học giả tiến hành những công tŕnh nghiên cứu
sâu rộng hơn. Điều hầu như rất nhiều người muốn t́m biết là trong
bối cảnh tăng trưởng kinh tế lạ thường và liên tục của Cộng ḥa Nhân
dân Trung Hoa cùng vẻ ổn định dưới chế độ toàn trị của Đảng Cộng sản
Trung Quốc, tiềm ẩn những vấn đề nan giải nào, và có gây nản ḷng
hoặc nuôi lớn những hy vọng nào.
Liệu những thay đổi sâu xa về chính trị và kinh tế, xă hội tại
Trung Quốc có thúc đẩy cuộc chuyển thể tiến tới dân chủ hóa? Đảng
Cộng sản Trung Quốc tuyên bố vẫn giữ địa vị người tiền phong của
giai cấp vô sản, trong khi liên kết với giới tinh hoa doanh nghiệp
và kỹ thuật và t́m sự tương hợp với phát triển kinh tế thị trường,
làm thế nào hóa giải các mâu thuẫn, phục hồi tính chính thống và ứng
phó với các phong trào quần chúng trong cuộc đối đầu giữa các giai
cấp, vốn không thể tránh khỏi và đúng theo kinh điển của Đảng?
Trong khi đó, thực tế, người dân Trung Quốc có thật sự được được
hưởng, trên một qui mô lớn, các thành quả của cuộc cải cách kinh tế?
Hiện nay, phải chăng cái nhà nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc và
người dân quả thật đang lâm vào t́nh trạng bế tắc tới độ có nguy cơ
làm sụp đổ mọi thành quả kinh tế đang có được, kéo theo sự suy sụp
của chế độ, hay đó chỉ là tuyên truyền của những kẻ chính thống
Lêninnít trong Đảng hay những kẻ có quan điểm chống cộng cổ điển
hoặc phân biệt chủng tộc, đố kỵ, nhiều ác cảm với một nước đang trỗi
lên và có khả năng trở thành siêu cường?
Bên cạnh đó, sách lược chính trị và kinh tế của Trung Quốc đối
với các nước trên thế giới như thế nào, và ngược lại, các siêu cường,
và đặc biệt là các nước đang phát triển phản ứng ra sao? Phải chăng,
với các nước thứ hai này, Trung Quốc là một bạn hàng cần kíp, một
kiểu mẫu chính trị ổn định hay một đối tác vừa được miễn cưỡng
ngưỡng mộ vừa phải cực kỳ cảnh giác? Liệu “quả bong bóng kinh tế”
của Trung Quốc có sắp nổ v́ các vấn đề chính trị nội bộ và tham vọng
bành trướng của Trung Quốc?
Qua kinh nghiệm Trung Quốc, có vấn nạn lớn và cấp bách nào đặt ra
cho Việt Nam, nơi cũng có một chế độ toàn trị mà có người xem chỉ là
sao chép vụng về các chính sách và tổ chức của Trung Quốc hơn một
thập niên trước? Có phải Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn tự xưng tiền
phong đấu tranh cho công bằng xă hội và tự hào xung kích bảo vệ độc
lập dân tộc cũng đang đánh mất chính nghĩa, do đó, góp phần chủ yếu
làm mất tính chính thống của chế độ đương nhiệm? Trong t́nh huống ấy,
liệu Việt Nam có triển vọng cũng sẽ tăng trưởng kinh tế, b́nh định
chính trị như Trung Quốc, hay trở thành vùng ngoại biên đáp ứng đủ
các yêu cầu đa dạng của Trung Quốc? Và có phải lịch sử tái diễn tấn
bi kịch tự trói tay ḿnh v́ tâm thức phiên thuộc từng ám ảnh vua Tự
Đức và hầu hết triều thần?
Như thế, từ sinh hoạt chính trị muôn h́nh muôn vẻ của Trung Quốc,
có thể rút tỉa những bài học nào cho các thành phần trong nhà nước
và Đảng Cộng sản Việt Nam c̣n ôm ấp ngọn lửa lư tưởng, cũng như cho
người dân trong nước và hải ngoại đang thao thức về các vấn đề độc
lập, tự do và phát triển đồng bộ của dân tộc Việt? Và đặc biệt,
những bài học nào cho giới ưu tú trong lănh vực văn hóa và xă hội,
gồm các học giả, các nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ và những người hoạt
động cho một xă hội dân sự đang chật vật h́nh thành...?
Để góp chút ánh sáng nhỏ nhoi và tạo thêm dịp suy nghĩ về các vấn
nạn trên, hầu tự mỗi người có thể rút ra câu trả lời cho riêng ḿnh,
xin mời người đọc đi vào sáu bài viết, được nh́n từ các góc độ khác
nhau và có tính hàn lâm, của sáu nhà nghiên cứu sinh hoạt chính trị
và xă hội Trung Quốc đương đại.
Năm bài đầu, trích từ Tạp chí Dân Chủ (Journal of Democracy), Tập
14, số 1, tháng Giêng năm 2003. Đây là một tạp chí của National
Endowment for Democracy, Baltimore, MD, và Johns Hopkins University
Press, Washington D.C., Hoa Kỳ. Từ khi ra mắt năm 1990 tới nay, Tạp
chí Dân Chủ trở thành diễn đàn cho những phân tích có tính nghiên
cứu và những quan điểm học thuật đối chọi nhau về dân chủ. Các bài
viết của nó thường được đăng lại trên các báo The New York Times và
The Wall Street Journal, được dịch ra nhiều ngôn ngữ và phổ biến
rộng răi trên nhiều tạp chí khắp thế giới.
Sở dĩ năm bài viết đầu về Trung Quốc của các tác giả Mỹ, Trung -
mà phần tiểu sử sơ lược có ở cuối mỗi bài - được tuyển chọn làm
thành đề tài “Kinh nghiệm toàn trị tại Trung Quốc”, v́ theo ư tôi,
đó là những bài viết chỉ hai tháng sau ngày Đại hội lần thứ 16 của
Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 11.2002, trong không khí sốt dẻo hậu
đại hội với sự kế thừa êm thắm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và một nghị
tŕnh cập nhật hóa của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sau năm bài ấy, mời người đọc sang bài thứ sáu, được viết đúng ba
năm sau, là bài tổng kết về kinh tế, chính trị và ngoại giao của
Trung Quốc đăng ở những trang đầu (10-11) của cuốn The World Almanac
2006 and Book of Facts, một loại niên giám được báo The New York
Times thẩm định là sách bán chạy số một, với 80 triệu ấn bản từ
trước tới nay. Bài viết này được tôi sử dụng, không khỏi có phần chủ
quan, như một tổng kết và đối chiếu với luận điểm của các tác giả
năm bài trước, đồng thời để lại những vấn đề tồn đọng.
Trước khi đi sâu vào từng bài, xin được giới thiệu nhan đề và tóm
lược chủ đề mỗi bài:
Những giới hạn co giăn của toàn trị (The
Limits of Authoritarian Resilience) của Bruce Gilley: chế độ
Trung Quốc chỉ định chế hóa nền toàn trị một cách cục bộ và tạm bợ;
các tiêu chuẩn có tính định chế hiện đang bị xói ṃn, và t́nh trạng
ấy có thể vẫn tiếp tục.
Đe dọa quyền tối thượng của Đảng (Threats
to Party Supremacy) của Bruce J. Dickson: sự thích nghi của
Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với giới tinh hoa mới của xă hội; nếu
có chút nào dẫn tới chuyển thể dân chủ th́ phí tổn được chi trả trên
tính liên tục của chế độ.
Những vấn đề yếu ớt của nhà nước (The
Problems of State Weakness) của Shaoguang Wang: nhà nước
Trung Quốc rất yếu ớt so với những ǵ mà hầu hết người dân nhận biết;
t́nh trạng ấy báo điềm gở cho các viễn ảnh dân chủ hóa xứ sở.
Sự bất b́nh đẳng mới (The New Inequality)
của An Chen: sinh hoạt chính trị giai cấp là một thực tại có tầm
quan trọng hơn bao giờ hết, nhưng tăng trưởng của tư bản chủ nghĩa
tại Trung Quốc có vẻ không có khả năng tạo ra những sức ép để có dân
chủ hóa.
Ổn định như núi lửa đang sôi (A Volcanic
Stability) của Qinglian He: vẻ xuất hiện bên ngoài của
nhà-nước-đảng cộng sản th́ đầy sức mạnh và tự tin, thật ra, đang che
đậy một t́nh trạng khủng hoảng sâu sắc.
Thức giấc cùng Trung Quốc (Waking to China)
của Ted C. Fishman: sự thức giấc của Trung Quốc làm thế giới run sợ;
thế giới cũng cần tỉnh giấc để nhận ra Trung Quốc với những sức mạnh
và bất định của nó; đồng thời mỗi nước phải có phương sách ứng phó
thích đáng.
Ghi chú thêm: Để có bản tiếng Anh, có thể tiếp cận:
http://muse.jhu.edu/journals/journal_of_democracy/toc/jod14.1.html
và
http://www.allbookstores.com/book/0886879655
Để có sách của sáu tác giả, có thể tiếp cận:
www.amazon.com/exec/obidos/subst/home/home.html/ hoặc các
địa chỉ bán sách khác trên mạng.

Bài 1 : Những giới hạn co giăn của toàn trị
Bruce Gilley - Nguyễn Ước dịch
Thành công mới đây của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc chuyển
giao quyền lănh đạo có thể được thông giải như một bằng chứng rằng
chế độ toàn trị của Trung Quốc là độc đáo về mặt lịch sử. Hơn một
thập niên sau ngày Liên bang Sô Viết và các trật tự cộng sản tại
Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng sản Trung Quốc không chỉ vẫn nắm quyền mà
c̣n làm lễ tấn phong cho một tập hợp những người kế thừa trẻ hơn,
được học hành tốt hơn và thậm chí tự tin hơn, làm đầu lĩnh của nó.
Và Đại hội thứ 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc hồi tháng Mười một
năm 2002 đánh dấu lần đầu tiên có sự chuyển giao êm thắm quyền lănh
đạo trong chế độ cộng sản mà không chút dính líu tới cái chết hoặc
sự thanh trừng vị thủ lănh sắp thôi việc.
Các nhà lư thuyết chính trị thường hiểu một cách truyền thống
rằng các chế độ toàn trị th́ yếu ớt, vô phương cứu chữa trong tận
cốt lơi của nó, v́ nó hoàn toàn thiếu sự kiểm tra về quyền lực như
một sự cai trị theo luật pháp, về sự phân chia quyền lực và về khả
năng tranh thủ quần chúng. Quan điểm cho rằng tính yếu ớt cố hữu của
các chế độ đó sẽ, một cách không thể tránh được, trở thành rơ rệt
hơn khi theo thời gian, sự cân bằng tương đối của các tài nguyên
được chuyển dịch từ nhà nước tới các lực lượng xă hội tự quản, thông
thường như là kết quả của nhiều h́nh thức phát triển một khi kinh tế
tăng trưởng và mở cửa ra quốc tế. Tại những cấp độ phát triển ấy,
nói chung người ta tin rằng các chế độ toàn trị
thấy ḿnh bị khổ sở v́ cái có thể gọi là “lô-gic của quyền lực
tập trung” - nghĩa là, cái khuynh hướng ủng hộ việc quyền lực nằm
trong tay vài cá nhân hoặc bè cánh có tính cá nhân chủ nghĩa, rồi bị
họ lợi dụng chí tử với những kết quả điển h́nh, trong đó gồm có sự
cai trị tồi, suy giảm tính chính thống, tham nhũng và các tiêu chuẩn
yếu kém về hạnh kiểm của giới tinh hoa cai trị (elites). [1]
Nhưng Trung Quốc - mà nhân dân của nó tiêu biểu cho khoảng một
nửa phần dân số thế giới hiện không được phép chọn các nhà lănh đạo
bằng các cuộc bầu cử dân chủ - cho tới nay đă và đang thách thức
kiểu mẫu truyền thống đó. Một số người thử giải thích sự kiện ấy
bằng việc Đảng Cộng sản Trung Quốc tái củng cố nền tảng ngôi nhà của
nó sau khi t́nh trạng tính chính thống của Đảng bị sa sút tột độ sau
vụ phản kháng Thiên An Môn năm 1989. Các nhà quan sát th́ căi lại
rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc có vẻ đang giải quyết hữu hiệu sự
thiếu hụt dân chủ bằng phương cách phi dân chủ, với việc đặt đúng
chỗ các cơ chế làm giảm thiểu, hoặc có khả năng trừ khử sự yếu ớt có
tính truyền thống của các chế độ toàn trị. Andrew Nathan tóm tắt
bằng chứng của các cơ chế đó trong một đề mục “sự định chế hóa chế
độ”.
Tôi cho rằng đặc điểm hóa như thế là sai, một vấn đề tôi sẽ tranh
luận sau đây, liên quan tới ba điểm đặc trưng của các chế độ toàn
trị khiến về mặt lịch sử, chúng ở trong số các chế độ khó định chế
hóa nhất:
1. quá tŕnh đề bạt giới tinh hoa;
2. sự bảo quản trách nhiệm về chức năng hoạt động của giới tinh
hoa;
3. sự tham sự của nhân dân.
So với t́nh trạng hỗn độn trong kỷ nguyên Mao Trạch Đông th́ chắc
chắn Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa hôm nay là một nhà nước tương đối
được định chế hóa. Nhưng xét theo quan hệ với các nhu cầu thật sự
của xă hội Trung Quốc đương đại, th́ Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa rơ
ràng là không đạt: bất cứ điểm đặc trưng đă định nào [trong ba điểm
nêu trên] của một hệ thống chính trị chỉ có thể cho là “đă được định
chế hóa” khi nó phù hợp với các lư tưởng có tính tiêu chuẩn của quốc
gia cũng như được thực hiện hữu hiệu. Theo những tiêu chuẩn ấy th́
bằng chứng về sự định chế hóa của Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa c̣n
yếu. Cũng không có vẻ rằng cuối cùng sự định chế hóa loại đó sẽ mạnh.
Quả thật, tính từ năm 1949 tới nay, có thể thấy rơ là tại Trung Quốc
có ba chu kỳ củng cố và suy sụp: trước là đạt tới những giới hạn của
sự định chế hóa chế độ, rồi tiếp liền đó, cái “lô-gic của quyền lực
tập trung” tái khẳng định nó. Điều tương tự như thế có thể tái diễn
vào một thời điểm thích hợp, và làm suy yếu sự định chế hóa h́nh
thức tại Đại hội thứ 16 vừa qua của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sự định chế hóa hiện nay
Samuel P. Huntington xác định đặc điểm của sự định chế hóa chính
trị như một quá tŕnh mà qua đó điểm đặc trưng đă định của một hệ
thống chính trị đạt đủ các nét “khả năng thích ứng, tính phức tạp,
tính tự quản, và tính nhất quán.” Nơi mà điểm đặc trưng có vấn đề
th́ có thể là một quá tŕnh, một định chế, hoặc một lề luật.
Huntington nói, khi sự định chế hóa được thành tựu từ trên xuống
dưới hệ thống chính trị, th́ nó tạo ra một chính quyền có “hiệu năng,
thẩm quyền, [và] chính thống.” [2]
Dù định nghĩa ấy đủ để giải thích tính chất hiệu năng và tính
chất thẩm quyền của chính quyền, gần như chắc chắn rằng Huntington
đă quan niệm sai về bản chất cá biệt của vấn đề tính chính thống
trong bối cảnh toàn trị. Ông không nắm bắt được rằng bất cứ điểm đặc
trưng đă định nào của một hệ thống chính trị có tính chính thống
cũng phải phù hợp với quan điểm có tính tiêu chuẩn và bao trùm của
nhà nước. (Cần phải nhấn mạnh rằng, trong một nhà nước đa nguyên,
điều kiện này được dễ dàng xem là tất nhiên). Nếu điểm đặc trưng đó
thiếu sự chứng minh rộng răi có tính tiêu chuẩn hóa, th́ lúc đó,
chính nó sẽ xói ṃn tính chính thống của nhà nước. Loại “nhất quán
có tính tiêu chuẩn hóa” này khác với loại nhất quán mà Huntington
đưa ra làm định đề vốn chỉ cốt ở sự am hiểu chức năng hoạt động giữa
những người bên trong nhà nước chứ không phải sự đồng thuận trên qui
mô lớn của xă hội bên ngoài.
Như thế, sự định chế hóa chính trị có cả thành tố nâng cao hiệu
năng lẫn thành tố nhất quán một cách tiêu chuẩn hóa, và phải đạt
được để cho điểm đặc trưng đă định ấy được định chế hóa. Như một thí
dụ phủ định, những cuộc hội họp của quần chúng liên quan tới sự
trông cậy thường xuyên của chế độ Trung Quốc đối với các chiến dịch
chống tội phạm “Đánh triệt để”, đă có hiệu quả đáng chú ư trong nhân
nhượng hơn là kết án, nhưng những vi phạm quá tŕnh thích đáng mà
các chiến dịch ấy can dự đă trái ngược hoàn toàn với lời cam kết của
chính quyền trong việc triển khai sự cai trị của luật pháp.
Bằng chứng tốt nhất về sự đề bạt giới tinh hoa có từ một cuốn
sách đáng chú ư, viết bằng tiếng Hoa, nhan đề là Đệ tứ đại (Disidai
- Thế hệ thứ tư) mà nó tuyên bố một cách đáng tín nhiệm là đă dựa
vào hồ sơ nội bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc chuyển giao
quyền lănh đạo năm 2002. [3] Thông tin chứa trong cuốn ấy bác bỏ cái
bề ngoài của quá tŕnh đề bạt có vẻ được định chuẩn hóa ấy. Nó tŕnh
bày rằng sự dễ dàng trong việc chuyển giao ấy liên quan tới di sản
mạnh mẽ của bậc đại trưởng thượng Đặng Tiểu B́nh hơn là tới sự định
chế hóa. Chính họ Đặng là kẻ, ngay từ năm 1992, đă chọn Hồ Cẩm Đào
làm người thừa kế được chỉ định, gỡ khỏi đấu trường chính trị vấn đề
duy nhất gây tranh căi liên quan tới việc thừa kế. Họ Đặng và Tống
B́nh, hai người đỡ đầu cho Hồ Cẩm Đào, c̣n mạnh khỏe đủ lâu để bảo
đảm cho họ Hồ được thừa kế. V́ thế, Đại hội thứ 16 có vẻ là một phó
sản ngẫu nhiên hơn là một kết quả có tính hệ thống.
Đi sâu vào chi tiết, Đệ tứ đại tŕnh bày rằng:
1. Năm 1997, như một chiến thuật nhằm loại trừ đối thủ cấp tiến
Kiều Thạch, Giang Trạch Dân đề nghị nguyên tắc không người nào từ 70
tuổi trở lên được chỉ định vào Bộ Chính trị. Họ Giang, lúc đó 71
tuổi, tự miễn cho ḿnh nguyên tắc đó, dù trong Đại hội thứ 15 năm
2002, ông cam kết tuân theo nó. Tuy thế, từ năm 2001 cho tới ngày
Đại hội, họ Giang cho phép một số lănh tụ quân sự, các nhà nghiên
cứu của đảng và các cận thần loan truyền ư tưởng rằng ông sẽ vi phạm
nguyên tắc đó thêm lần nữa để tiếp tục nắm quyền. Nỗ lực ấy thất bại,
tuy thế ông thành công trong việc thanh trừng Lư Thụy Thanh, một
người cấp tiến 68 tuổi, trên cơ sở cá biệt rằng họ Lư đă phục vụ quá
lâu trong Ban Thường vụ, từ năm 1989. Những thách thức đối với
nguyên tắc tồn tại bất thành văn và mơ hồ ấy, đă nêu lên những thắc
mắc được loan truyền rộng răi về tính lâu bền của nó.
2. Chỉ có ba lănh tụ thượng đỉnh - Giang Trạch Dân, Lư Bằng và
Chu Dung Cơ - khống chế cuộc tuyển chọn ban lănh đạo mới (với các
bậc lăo thành của Đảng đă nghỉ hưu là Bạc Nhất Ba và Tống B́nh đóng
vai tṛ ảnh hưởng ở hậu trường). Sự tập trung ảnh hưởng đó trái
ngược với nguyên tắc chính thức rằng những quyết định như thế phải
được lập bởi 21 ủy viên Bộ Chính trị, và như thế nó tiêu biểu cho sự
thất bại của Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa trong việc thực hiện một
loại “lănh đạo tập thể” để có thể làm giảm những nguy hiểm của sự
quyền lực bị tập trung hóa trong chế độ cộng sản.
3. Ḷng trung thành cá nhân quan trọng gấp bội công trạng cá nhân.
Bảy trong chín ủy viên mới của Ban Thường vụ Bộ Chính trị - Hồ Cẩm
Đào, Tăng Khánh Hồng, La Cán, Ngô Bang Quốc, Giă Thanh Lân, Hoàng
Cúc và Lư Trường Xuân - được chọn dựa vào ḷng trung thành có tính
bè cánh dù họ là quan chức có các khuyết điểm bị nhiều người biết.
[4] Chỉ có Ôn Gia Bảo và Ngô Quang Chính là được chọn chủ yếu nhờ
công trạng. Trong hệ thống chính trị đa nguyên, việc chỉ định quan
chức dựa vào ḷng trung thành cá nhân được chấp nhận một cách tiêu
chuẩn hóa và được thực hiện dễ dàng v́ chính các quan chức phụ trách
việc bổ nhiệm cũng sẽ được lựa chọn và bổ nhiệm bởi những kẻ do họ
chọn. Nhưng v́ tại Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc là kẻ nắm
quyền lực không ai tranh giành, nên nó miễn cưỡng tán thành cái lư
tưởng có tính tiêu chuẩn hóa là việc bổ nhiệm ở bất cứ cấp nào cũng
bị buộc phải dựa vào công trạng. Tuy thế, lư tưởng ấy không được
thực thi hữu hiệu, và những cuộc bổ nhiệm đành rằng là xấu th́ có
khả năng gây bất đồng chính kiến và phản kháng.
4. Các nguyên tắc đề bạt thông thường trong hàng phẩm trật của
Đảng Cộng sản Trung Quốc bị xem thường khi chúng gây bất tiện cho
hàng lănh đạo cao cấp của Đảng. Đó là trường hợp cả ba cán bộ lănh
đạo cao cấp thuộc “thế hệ thứ năm” trong việc đảm trách Ban Thường
vụ Bộ Chính trị năm 2012. Lư Khắc Thương đă được xác nhận là tổng bí
thư của Trung ương Đoàn liên hiệp Thanh niên Cộng sản năm 1993 dù
đại bại khi tranh cử chiếc ghế ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung
ương Đảng tại Đại hội thứ 14 năm 1992. Bạc Hi Lai được đem vào Đại
hội thứ 15 năm 1997 như một “đại biểu được mời đặc biệt” sau khi
thất bại trong cuộc bầu cử đại biểu đảng viên địa phương của ḿnh.
Và Tây Nhân B́nh được chỉ định vào Ban Chấp hành Trung ương tại Đại
hội thứ 15 sau khi không được bầu làm đại biểu tại Đại hội ấy.
Về vấn đề chuyên môn hóa chức năng hoạt động của giới tinh hoa,
Đệ tứ đại tŕnh bày cái nh́n thoáng qua và sơ khởi vào con số lớn
lao những cuộc đấu đá nhau mang tính thư lại và phủ trùm sinh hoạt
chính trị của giới lănh đạo tại Trung Quốc. Trong khi theo truyền
thống th́ các ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị được chỉ định vào
các chức vụ cá biệt (các vấn đề kinh tế, an ninh nội bộ, các sự vụ
quốc ngoại và vân vân), sự phân chia này vẫn là đối tượng kinh niên
của tránh né hoặc bất chấp - nghĩa là “tính chất tự quản” là yêu cầu
của sự định chế hóa chính trị theo định nghĩa của Huntington vẫn
tiếp tục bị thủ tiêu trong nhiều phạm vi quan trọng có tính chính
sách.
Thất bại của sự chuyên môn hóa giới tinh hoa được biểu thị trong
nhiều khu vực hoạt động:
* Các vấn đề kinh tế: Sự ủy quyền cho thủ tướng về các vấn đề
kinh tế có thể bị thu hồi trong những phạm vi các ủy viên Ban Thường
vụ Bộ Chính trị không tán thành. Thí dụ, năm 1999, Giang Trạch Dân
thật sự nắm chức vụ phụ trách các công ty quốc doanh, vốn là chức vụ
của Chu Dung Cơ, bằng việc triệu tập hội nghị các quan chức công ty
quốc doanh từ bốn miền chính của Trung Quốc.
* Nhân sự và tổ chức: Tầm quan trọng của chức vụ này đối với việc
xếp đặt bè cánh khiến nó trở thành nguyên nhân bất đồng thường xuyên.
Từ năm 1993 tới 1997, khuôn mặt khống chế vấn đề nhân sự và tổ chức
là Tăng Khánh Hồng, phụ tá của họ Giang, người lúc đó thậm chí không
là ủy viên Bộ Chính trị. Suốt thời kỳ ấy, Hồ Cẩm Đào, ủy viên Ban
Thường vụ Bộ Chính trị chính thức phụ trách vấn đề này, phải chấp
nhận bị giẫm chân, để duy tŕ tính cách thừa kế của ḿnh trong tương
lai.
* Chống tham nhũng: Việc xử lư các trường hợp tham nhũng ở cấp
cao trong Đảng vẫn là vấn đề thủ đoạn chính trị, một màn hỏa mù nhằm
che đậy các cuộc đấu đá bè cánh ở cấp thượng đỉnh - nghĩa là, ủy
viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị đảm trách các nỗ lực chống tham
nhũng chỉ đơn thuần là người quản lư các vụ việc được chọn bởi lư do
chính trị. Sự việc ấy đă trở thành một vấn đề mọi người dân đều biết,
v́ lư do ấy, thậm chí một sự khởi tố xác thực và minh bạch về tham
nhũng ở cấp cao là một bước lùi của Đảng nhưng đồng thời cũng có
nghĩa là một bước tiến cho tính chính thống của Đảng.
Điểm đặc trưng duy nhất ở bên dưới cấp tinh hoa, có tiềm năng
mạnh mẽ để làm giảm những tác động buồn thảm của t́nh trạng quyền
lực tập trung trong các chế độ toàn trị, là sự tham gia chính trị:
sự “thâm thủng dân chủ” có thể tối thiểu được bù đắp phần nào bằng
sự “thặng dư tham gia”. Để làm bằng chứng cho sự định chế hóa đang
gia tăng ở cấp dưới cấp tinh hoa, các nhà nghiên cứu kể tới các cuộc
bầu cử cấp xă, việc đệ đạt thỉnh nguyện của nhân dân, và vai tṛ của
các cơ quan lập pháp địa phương. Tuy trong các trường hợp đó, không
trường hợp nào đạt hai tiêu chuẩn của sự định chế hóa - hiệu năng và
nhất quán. Đơn cử vài thí dụ nổi tiếng:
5. Rơ ràng các cuộc bầu cử cấp xă đă chứng minh tính hiệu năng
trong sự cải thiện việc cai trị tại gần một triệu xă ở Trung Quốc và
thiết lập chính quyền nhà nước tại vùng nông thôn. Nhưng chúng thiếu
sự nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa: Bên trong nhà nước độc đảng, sự
đua tranh chính trị phải được giữ trong ṿng kiểm soát chặt chẽ.
Đồng thời, duy tŕ sự kiểm soát ấy đôi khi có ư nghĩa là Đảng phải
vi phạm những nguyên tắc đua tranh do chính Đảng đề ra - thí dụ,
bằng các việc như vi phạm chính sách do nó đề ra trong các cuộc bầu
cử cấp xă; vô hiệu hóa các kết quả bầu cử mà nó không thể chấp nhận;
hoặc lén lút cấy sự kiểm soát của nó ở những xă không chịu vào khuôn
phép. Việc đề ra các cuộc bầu cử ấy có thể là chiến thuật từ phía
một số quan chức chính phủ cấp trung ương muốn giấu diếm dân chủ ở
cửa sau, nhưng việc giấu diếm như thế chỉ có thể tiến hành ngang đây
thôi, trước khi nó bắt đầu vận dụng sức ép chính xác lên trên lư
tưởng cai trị có tính tiêu chuẩn hóa mà chỉ một ḿnh Đảng nắm quyền
lực chính trị.
6. Trong nỗ lực khẳng định vai tṛ “giám sát” công tác của chính
quyền, các cơ quan lập pháp cấp quốc gia lẫn cấp địa phương đều phải
chịu đựng cũng một loại không nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa ấy.
V́ Đảng và nhà nước Trung Quốc không chấp nhận ư tưởng ủy thác quyền
lực chính trị nên các cơ quan lập pháp bao giờ cũng yếu. Trong các
đan cử hiếm hoi ấy, nơi mà họ cố xoay xở để, thí dụ như, từ chối một
luật lệ, một sự bổ nhiệm người vào cơ quan hoặc một bản báo cáo của
chính quyền th́ gần như có t́nh trạng hoang mang buồn cười về việc
ḿnh phải làm ǵ đây. Không giống các cuộc bầu cử cấp xă, nơi ít ra
sự ủy thác quyền lực hành chánh cũng có hiệu năng, các hội đồng nhân
dân của Trung Quốc vẫn c̣n bị Đảng kiểm soát rất chặt chẽ tới độ
chúng hầu hết đều không hiệu năng.
7. Cũng có một hệ thống đệ đạt thỉnh nguyện của nhân dân mà người
ta có thể nói là đáp ứng yêu cầu của ư tưởng có tính tiêu chuẩn hóa
đều khắp: rằng nhân dân được phép đưa đề nghị để góp phần giúp Đảng
thực hiện công tác. Vào năm 2000, một Văn pḥng Quốc gia Nhận Thư
thỉnh nguyện và Tiếp dân (State Bureau of Letters and Visits) mới
được thành lập như một cơ quan cấp dưới bộ. Thế nhưng việc giải
quyết thư thỉnh nguyện của nhân dân vẫn rất thất thường, v́ quá
tŕnh cứu xét tối hậu không thật sự tùy thuộc sự xử lư thường xuyên
theo quyền hành đă được ủy thác, mà đúng hơn, theo sự chấp nhận có
tuyển chọn do Đảng giám sát.
Như thế, bằng chứng hiện nay về sự định chế hóa có vẻ bị giới hạn
một cách dứt khoát. Sự định chế hóa không chỉ bao gồm sự vắng mặt
của hỗn độn mà c̣n đưa tới sự có mặt tích cực của hiệu năng và nhất
quán có tính tiêu chuẩn hóa. Lúc đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển
dịch từ một trạng thái hỗn độn tới một trạng thái an b́nh đặc biệt;
nhưng chỉ tới đó thôi, không đi xa hơn. Kết quả là, các vấn đề gắn
bó một cách truyền thống với các chế độ phi dân chủ - sự phi chính
thống, cai trị kém cỏi, tham nhũng, sự bất ổn của giới tinh hoa -
vẫn c̣n nhiều vô số tại Trung Quốc. Chỉ riêng tham nhũng đă được ước
lượng tới con số tương đương từ 10% tới 20% tổng sản lượng quốc nội
(GDP). Sự bất ổn của giới tinh hoa biểu thị rơ rệt trong những cuộc
đấu đá bè cánh và ư thức hệ mà đă đặc điểm hóa những năm thời họ
Giang, bao gồm việc thanh trừng không dưới sáu ủy viên Bộ Chính trị.
Tất cả những cái ấy gợi cho thấy rằng các nỗ lực của Trung Quốc nhằm
định chế hóa nói chung là thất bại.
Sự định chế hóa trong tương lai
Có lẽ câu hỏi đúng ra nên là, cái ǵ tương lai sẽ mang tới. Liệu
các tiêu chuẩn được định chế hóa một cách quá yếu tại Trung Quốc có
sẽ trở thành mạnh hơn, hoặc suy sụp? Nghĩa là, liệu chúng ta có thể
hân hoan trông đợi giai đoạn “dân chủ hóa từng bước một” để khắc
phục sự vô hiệu năng và phi nhất quán của hệ thống hiện nay?
Mọi sự củng cố có tính dân chủ đều bắt đầu từ những thay đổi mà
theo định nghĩa th́ chúng chưa hằn sâu, có thể được đặc điểm hóa như
một thỏa ước tạm thời (modus vivendi) giữa những tay chơi thích đáng.
Chỉ với thời gian th́ những thay đổi ấy mới hằn sâu, mới được thấy
một cách tổng quát là đáng được thừa nhận v́ lợi ích của chính chúng,
và như thế, chúng trở thành những tiêu chuẩn. Nhưng luôn luôn có khả
năng ngược lại, cái mà tôi tin tưởng có khả năng hơn trong trường
hợp Trung Quốc: rằng những diễn tiến mới sẽ suy sụp như một kết quả
của “lô-gic của quyền lực tập trung.”
Thí dụ, về vấn đề đề bạt giới tinh hoa, thật dễ tưởng tượng là
chắc chắn rằng theo thời gian, nguyên tắc 70 tuổi sẽ được định chế
hóa hơn, tuy thế chỉ cần một hoặc hai người không đồng ư là làm hỏng
cuộc mặc cả, như từng thấy trong cuộc đấu đá về kế thừa tại Đại hội
Đảng thứ 16. Tại Đại hội Đảng thứ 17 năm 2007, La Cán, người theo
đường lối cứng rắn, sẽ trên 70 tuổi, trong khi một đối thủ của Hồ
Cẩm Đào là Tăng Khánh Hồng sẽ 68. Cả hai đại điện cho các bè cánh có
sức mạnh. Và khi quyền lực bị đe dọa một cách tối hậu th́ sự duy tŕ
các tiêu chuẩn bị bấp bênh - như các chế độ toàn trị trên khắp thế
giới đă biểu lộ nhiều lần. Càng khư khư ôm chặt quyền lực chừng nào
th́ những tiêu chuẩn càng có khuynh hướng bốc hơi chừng nấy.
Ngược lại, những đề bạt dựa trên công trạng chắc chắn sẽ góp phần
càng ngày càng đem thêm nhiều người có năng lực vào các cơ quan cao
hơn. Nhưng tại cấp địa phương, diễn tiến đề bạt thường trở thành đút
lót, trong khi ở cấp tinh hoa, diễn tiến ấy vẫn bị quyết định bởi
những thất thường của các bè cánh chính trị. Việc thay đổi các mẫu
thức ấy đ̣i hỏi một tuyến độ rộng răi để theo dơi và giám sát qua
truyền thông không bị kiểm duyệt, việc chống tham nhũng và việc ủy
thác quyền lực. Trong những cái đó, có vẻ Đảng Cộng sản Trung Quốc
không chọn cái nào. Việc thay đổi các mẫu thức rộng răi hơn của tham
nhũng cũng đ̣i hỏi những triển khai tương tự, và cũng không có khả
năng tương tự.
Tới với các cuộc bầu cử cấp xă, các lănh tụ Đảng sẽ có khuynh
hướng cảnh giác khi gặp bất cứ dấu hiệu nào của hiệu năng nơi các xă
trưởng được bầu lên. Sự xuất hiện của nhiều viên chức được bầu đó -
như một nhóm không có tính nhạy cảm đối với việc kết nạp hoặc việc
mưu toan lật đổ - th́ không thể tránh khỏi, sẽ nêu lên vấn nạn rằng
không biết Đảng có nên xét lại các tiêu chuẩn của nó để ủng hộ việc
chia sẻ quyền lực chính trị hay không - và đó chính là con đường mà
các chế độ toàn trị mạnh mẽ ở Đài Loan, Nam Hàn và Thái Lan đă đi.
Nhưng trong trường hợp một chế độ yếu ớt như chế độ của Đảng Cộng
sản Trung Quốc th́ sự “tự nguyện rút lui” đó không chắc có thật. [5]
Một diễn tiến có vẻ có thật
hơn là, Đảng tiếp tục vi phạm các cuộc bầu cử cấp xă khi các nhóm
chính trị mới mẻ ấy bắt đầu tranh đua với sự thành công ngày càng
nhiều hơn. Như Paul Brooker ghi nhận, các chế độ toàn trị đưa ra các
cuộc bầu cử địa phương chân chính “có thể tối hậu sẽ đối mặt với vấn
đề là phải t́m cho ra một phương cách phi dân chủ không quá lộ liễu
để làm cho khập khễnh cái đảng đang đấu tranh quá thành công với
đảng chính thức của ḿnh.” [6]
T́nh thế tiến thoái lưỡng nan ấy cũng giúp giải thích tại sao
Đảng Cộng sản Trung Quốc, bất chấp những lời hứa được lặp đi lặp lại
của nó, vẫn chưa tán trợ việc mở rộng bầu cử những người điều hành
trực tiếp ở cấp cao hơn cấp xă. Những thử nghiệm rải rác việc bầu cử
người cai trị cấp huyện đă bị cấp lănh đạo Đảng phê b́nh, mặc dù
chúng được dân chúng tại các địa điểm ấy chấp nhận và ưa thích, và
nói chung đáp ứng được cuộc khủng hoảng cai trị đang diễn ra trong
vấn đề cai trị ở cấp huyện.
Về phần các hội đồng nhân dân, chắc chắn chúng cải thiện việc cai
trị tại nhiều địa hạt. Nhưng thông thường chúng làm được như thế
bằng việc nắm lấy quyền lực, ngược với ư kiến của Đảng. Nơi nào
chúng cải thiện được tính chính thống của chế độ th́ chỉ bởi v́ các
thành viên của chúng được Đảng kết nạp đầy đủ. Chúng hoặc chỉ có thể
cải thiện sự cai trị, hoặc chỉ có thể cải thiện sự kiểm soát của chế
độ, không thể làm cả hai việc đó.
Trong mỗi trường hợp - các cuộc bầu cử cấp huyện hoặc các hội
đồng nhân dân - đang bị buộc phải chọn giữa hiệu năng và nhất quán.
Dường như lúc nào Đảng cũng chọn cái thứ hai.
Các chu kỳ và suy sụp
Nhiều người viết về các chu kỳ sinh hoạt chính trị tại Cộng ḥa
Nhân dân Trung Hoa từ năm 1949. Trong khi những ngẫu nhiên có tính
con người và tính lịch sử có khuynh hướng giải thích những thời điểm
rạch ṛi của các chu kỳ này, th́ động cơ nằm bên dưới dẫn tới sự suy
sụp sau mỗi sự củng cố, nói một cách chính xác, chính là cái “lô-gic
của quyền lực tập trung”: trong những thời kỳ khủng hoảng chính trị,
loạn chức năng, hoặc có vấn đề kế thừa th́ bất cứ quyền lực nào từng
được ủy thác một cách thận trọng để cải thiện việc cai trị và ổn
định giới tinh hoa chính trị đều bị thu hồi lẹ làng. Tính từ năm
1949, đại khái ta có thể thấy có bốn chu kỳ tách biệt:
1. Thời kỳ một (1940-61):
* Củng cố (1949-56): thiết lập nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa.
* Suy sụp (1956-61): từ Phong trào Vận động Chống hữu khuynh tới
nạn đói từ Đại nhảy vọt.
2. Thời kỳ 2 (1961-76):
* Củng cố (1961-66): phục hồi sau nạn đói.
* Suy sụp (1966-76): Cách mạng Văn hóa.
3. Thời kỳ 3: (1976-94):
* Củng cố (1976-86): tái củng cố, mở rộng các định chế của Đảng
và chính phủ, và luật pháp.
* Suy sụp (1986-94): Nổi lên phong trào sinh viên phản kháng,
phản ánh những nứt rạn trong giới tinh hoa về cải cách; các lănh tụ
lăo thành của Đảng tái áp đặt luật lệ.
4. Thời kỳ 4: (1994- ):
* Củng cố (1994- ): các lănh tụ lăo thành của Đảng từ trần; mở
rộng sự cai trị của luật pháp và chuyên môn hóa chính quyền; gia
nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Một phân tích thoáng qua các công tŕnh nghiên cứu trong ba chu
kỳ kể trên gợi cho thấy các nhà nghiên cứu sinh hoạt chính trị của
Trung Quốc đều rất có khuynh hướng thông giải rằng sự thay đổi ở
từng giai đoạn th́ mang tính tuyến tính. Thí dụ năm 1978 - ngay lúc
bắt đầu của cái mà tôi dùng thuật ngữ Củng cố Thời kỳ Ba” - có xuất
hiện một bài viết với nhan đề Hiện đại hóa và sinh hoạt chính trị kế
thừa tại Trung Quốc. Bài viết ấy gây nhiều tranh luận v́ đưa ra một
số cảnh báo về sự bất định trong tương lai, một sự bất định mà măi
tới ngày nay mới xảy tới, trong giai đoạn Đại hội thứ 16. [7] Ngược
lại, các công tŕnh nghiên cứu sau năm 1989 có khuynh hướng mạnh mẽ
nhấn mạnh sự tiếp tục suy sụp của chế độ.
Dơi theo những thăng trầm của từng giai đoạn cá biệt và so sánh
chúng với các giai đoạn trước đó, người ta có thể nói rất chắc chắn
về tiên đoán đó. Khi tin rằng các thời kỳ ấy không thể đảo ngược th́
chính niềm tin đó ẩn chứa sự nguy hiểm; lịch sử của Trung Quốc cách
riêng và lư thuyết về chế độ toàn trị nói chung gợi cho thấy rằng
chúng có khả năng đảo ngược. Indonesia của Suharto có thể là một
phản thí dụ tốt nhất - vào giữa thập niên 1990, chế độ đó bị tuột
hết quyền lực vào lúc nó có vẻ như đang có chiều hướng đi lên và
củng cố chính nó bằng những h́nh thức định chế hóa mới, và xem ra
“chắc chắn và hiệu năng rất cao.” [8]
Nếu chúng ta đă t́m kiếm kỹ lưỡng hơn các dấu hiệu củng cố sau
năm 1989 th́ chúng ta nên t́m kiếm kỹ lưỡng hơn các dấu hiệu suy sụp
ngày nay tại đỉnh điểm của những ǵ sẽ là Thời kỳ Suy sụp thứ Tư
trong biểu đồ trên. Nhiều dấu hiệu trong đó có thể bao gồm sự xuất
hiện của t́nh trạng nứt rạn ít nhiều và công khai trong các ủy viên
Ban Thường vụ Bộ Chính trị về các vấn đề chính sách trọng yếu, thí
dụ Đài Loan hoặc bầu cử cấp địa phương; sự công khai xuất hiện trở
lại của các lănh tụ đang nghỉ hưu như Giang Trạch Dân hoặc Lư Bằng;
hoặc Bộ Chính trị mất quyền hành trên lănh vực hoạt động như an ninh
nội bộ.
Vấn đề thời kỳ suy sụp mới có thể dẫn tới đâu th́ nằm ngoài phạm
vi ứng xử của trang giấy này. Nhưng một lời cảnh cáo coi như là kết
luận rằng: sự suy sụp mang tính định định chế hóa đó không báo điềm
sụp đổ của chế độ. Sức mạnh của bộ máy cưỡng bách của Trung Quốc -
sáu triệu viên chức công an và bộ đội - hiệp với t́nh trạng xă hội
dân sự yếu ớt đủ để đảm bảo rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không
bị rớt đài hoặc bị đẩy khỏi quyền lực. Tấn thảm kịch dưới h́nh thức
các cuộc thanh trừng chính trị và trấn áp xă hội là kết quả rất điển
h́nh cho các thời kỳ suy sụp tại Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa.
Đồng thời có một hệ quả mang tính lựa chọn mà có thể giúp Trung
Quốc thoát khỏi chu kỳ chính trị đó: sự đột phá có tính dân chủ. Sự
suy sụp định chế cung cấp cơ hội - thường th́ kèm theo nó là khủng
hoảng cai trị - cho giới tinh hoa có khuynh hướng cải cách thiết kế
sự gỡ rối cho chế độ bằng những hứa hẹn cởi mở chính trị vốn là bước
đầu tiên hướng tới dân chủ. Lúc ấy, mỉa mai thay, hy vọng dân chủ
nhất lại có thể nằm ngay trong chính những mâu thuẫn đang tạo ra quá
nhiều trục trặc cho sự định chế hóa hiện nay.
Bruce Gilley, tiến sĩ chính trị học tại Đại học Princeton
University, Hoa Kỳ. Ông từng làm Biên tập viên hợp tác của Far
Easter Economic Review (Tạp chí Kinh tế Viễn Đông). Ông tà tác giả
và đồng tác giả khoảng 10 cuốn sách về Trung Quốc. Trong đó có:
Tiger on the Brink: Jiang Zemin and China’s New Elite (Hổ bên mép
vực: Giang Trạch Dân và giới tinh hoa của Trung Quốc, 1998); và đồng
tác giả (với Adrew Nathan) cuốn China’s New Rulers: The Secret File
(Các nhà cai trị mới của Trung Quốc: Hồ sơ mật, 2002); cuốn mới nhất
là China’s Democratic Future: How It Will Happen and Where It Lead (Tương
lai dân chủ của Trung Quốc: Sẽ xảy ra như thế nào và dẫn tới đâu,
2004).
Bản tiếng Việt © 2006 talawas
____________________
[1]Lối nói “lô-gic của quyền lực tập trung” là dựa theo câu nói
của Robert Dahl về “lô-gic của sự b́nh đẳng” - nỗ lực hướng tới sự
tham gia rộng răi và quyền lực chính trị có tinh thần trách nhiệm mà
Dahl coi đó là kết quả cố định phát xuất từ việc bắt đầu đảm đương
sự b́nh đẳng chính trị giữa các thành viên của xă hội [đoàn, nhóm,
hiệp hội...]. Xem: Dahl, On Democracy (Bàn về dân chủ), New Haven:
Yale University Press, 1996, 10.
[2]Samuel P. Huntington, Political Order in Changing Societies (Trật
tự chính trị trong các xă hội đang thay đổi), New Haven: Yale
University Press, 1968, 12,2.
[3]Zong Hairen, Disidai (The Fourth Generation, Thế hệ thứ tư),
New York: Mirror Books, 2002. Nó là nền của cuốn sách viết bằng
tiếng Anh mà tôi là đồng tác giả với Andrew Nathan, China’s New
Rulers: The Secret Files (Những nhà cai trị mới của Trung Quốc: Hồ
sơ mật), New York: New York Review of Books, 2002. Chúng tôi tŕnh
bày tính xác thực của Disidai với đầy đủ chi tiết trong lời nói đầu
của cuốn sách.
[4]Các khuyết điểm ấy được thừa nhận rơ ràng trong các tài liệu
chính thức của đảng. Xem: Andrew Nathan và Bruce Gilley, China’s New
Rulers, phần nói về Hồ Cẩm Đào, tr. 68; về Ngô Bang Quốc, 102; về La
Cán, 110; và về Lư Trường Xuân, 114.
[5]Tôi đưa ra một phương thuốc kéo dài diễn tiến có khả năng đột
phá dân chủ trong China’s Democratic Future (Tương lai dân chủ của
Trung Quốc), sắp xuất bản.
[6]Paul Brooker, Non-Democratic Regimes: Theory, Government and
Politics (Các chế độ phi dân chủ: lư thuyết, chính quyền và chính
trị)
[7]Kenneth Lieberthal trong Journal of International Affairs 32
Fall 1978 (Tạp chí Các Sự vụ quốc tế số 32 Mùa thu 1978), 239- 54.
Bài báo ấy ghi nhận các “kết quả làm giật ḿnh” của sự củng cố thời
sau-Mao, do bởi “sự nhất trí... rất cao” của giới lănh đạo và nỗ lực
của nó để “làm cho đảng khôi phục quyền lực và năng lực trước đây.”
Tuy thế, nó cảnh cáo rằng “quá sớm để nói liệu tiến tŕnh đó có thể
đảo ngược hay không”.
[8]R. William Liddle. “Indonesia: Suharto’s Tightening Grip”
(Indonesia: Kềm kẹp đang siết của Suharto), Journal of Democracy 7
(October 1996), 70. Trích trong: Larry Diamond, Developing
Democracy: Towards Consolidation (Phát triển dân chủ: hướng tới sự
củng cố), Baltimore, John Hopkins University Press, 1999, 262.

Bài 2 : Đe dọa quyền tối thượng của Đảng
Bruce J. Dickson - Nguyễn Ước dịch
Với sự nổi bật của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong Đại hội Thứ 16
của Đảng này vào tháng Mười Một năm 2002 bằng một ban lănh đạo mới
và một chương tŕnh cập nhật hóa, hệ thống chính trị đang nắm quyền
kiểm soát đó có triển vọng chính trị nào?
Giải quyết nhẹ nhàng việc chuyển giao quyền lực như vừa qua chứng
tỏ một cấp độ ổn định có tính định chế chưa từng thấy bên trong giới
tinh hoa chính trị (elites) của Trung Quốc. Và tuy hiện nay Đảng
Cộng sản Trung Quốc có th́ giờ để nh́n sự tàn lụi dần cái sức mạnh
của hạ tầng cơ sở quần chúng, nạn nhân của nhiều trầm cảm phát sinh
từ sự hội nhập tăng theo mức lũy tiến của Đảng cùng với một xă hội
đang thay đổi lẹ làng. Trong khi đó, các chính sách “cải cách và mở
cửa” của Đảng Cộng sản Trung Quốc có những hệ quả ngoài dự tính, làm
yếu thêm viễn tượng về sự tiếp tục độc quyền chính trị của nó: v́
khu vực tư nhân đang bành trướng, Đảng không c̣n kiểm soát nơi chốn
nhân dân ở và làm việc; v́ sự lan rộng của việc tiếp cận internet,
vô tuyến truyền h́nh qua vệ tinh viễn thông và truyền thông tự chọn,
Đảng không c̣n kiểm soát loại thông tin nào người dân đang có hoặc
nó được phổ biến như thế nào; và v́ sự kết hợp những lợi tức sẵn có
để chi tiêu rộng răi hơn và sự giải phóng chính trị, Đảng không c̣n
kiểm soát những ǵ dân chúng làm trong lúc nhàn rỗi. Để giải quyết
những hệ quả đó, Đảng dùng một sách lược mới. Trong chừng mực thiết
yếu của sách lược đó, nó tái định hướng một cách có hiệu quả mối
quan hệ của Đảng với xă hội Trung Quốc, và tới một mức độ nào đó,
phát sinh câu hỏi được nhiều người chia sẻ về sự sinh tồn lâu dài
của một chế độ toàn trị đang giải phóng và hiện bị khống chế bởi một
đảng độc nhất: việc thích nghi với môi trường kinh tế và xă hội mới
sẽ làm mạnh hoặc quả thật làm yếu sự tiếp tục nắm quyền lực của Đảng?
Từ bên trong lẫn bên ngoài Trung Quốc, nhiều nhà quan sát kỳ vọng
rằng sự tiếp tục cải cách kinh tế và tư nhân hóa cùng hội nhập hệ
thống quốc tế sẽ dẫn tới những phát triển kinh tế và rồi lần lượt
đẩy mạnh những h́nh thức phát triển xă hội - đặc biệt sự ló dạng một
xă hội dân sự, và tối hậu, sự khởi đầu mạnh mẽ công cuộc dân chủ hóa.
Đây là một quan điểm hấp dẫn, đặt căn bản trên những cái nh́n thấu
suốt của lư thuyết về hiện đại hóa; chúng thường bị sỉ vả nhưng vẫn
được nhiều người ưa chuộng. Tuy thế, sự thật th́ phát triển xă hội
và kinh tế chưa là đáp ứng “tự nhiên” đưa dân chủ tới gần: trong khi
bị liên quan tới các cấp độ phát triển, dân chủ cũng là những diễn
tiến chính trị rất cá biệt,
được thúc đẩy một cách cá biệt bởi những người làm chính trị (cả
bên trong lẫn bên ngoài chế độ). Đảng Cộng sản Trung Quốc biết như
thế nên nó hành động để ngăn chặn những yêu cầu mang tính tổ chức
đang dậy lên từ bên ngoài Đảng nhằm mục đích thay đổi chính trị.
Chiến lược của Đảng Cộng sản Trung Quốc gồm hai mũi giáp công:
nung đúc những quan hệ nặng tính liên hiệp và đồng thời bổ dụng giới
tinh hoa kinh tế và kỹ thuật. [1] Vào đầu thập niên 1980, thấy sự
thành lập vô số các tổ chức kinh tế, xă hội và chuyên gia, các quan
chức của Đảng hoặc chính phủ bắt đầu khống chế các chức vụ chóp bu
của nhiều tổ chức đó, cho phép nhà nước bỏ rơi ngay tức khắc những
“khát vọng chuyên chế” của nó và duy tŕ sự kiểm soát có liều lượng
trên các nhóm có ảnh hưởng nhất trong xă hội. [2] V́ lư do ấy, rất
ít các tổ chức đó được hưởng ngay cả mấp mé cái cấp độ tự quản mà
các kiểu mẫu có tính tiêu chuẩn hóa của “xă hội dân sự” đ̣i hỏi. Có
điều không tổ chức nào t́m kiếm cấp độ tự quản ấy, v́ tại Trung Quốc,
tự quản th́ giống như bất lực. Thay vào đó, họ thích được nằm sâu
bên trong nhà nước, không khác ǵ ư thích của các tổ chức tương tự
tại hầu hết các nước Đông Á và các xứ đang phát triển. [3]
Trong khi đó, Đảng tuyển mộ loại chuyên gia kinh tế và kỹ thuật
cần thiết để đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa kinh tế. Ở đây, lư do
cơ bản tự nó có hai nếp gấp: thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn
được móc nối với những loại người nó cần để thúc đẩy tăng trưởng
liên tục mà vốn là nguồn gốc chủ yếu của lời tuyên xưng đương đại
của Đảng về sự cai trị có tính chính thống của nó. Thứ hai, Đảng
Cộng sản Trung Quốc muốn ngăn chặn những nỗ lực phát xuất từ các
nhóm tinh hoa mới này nhằm hoặc thành lập các nhóm của chính họ
trong vị trí đối lập với Đảng hoặc đứng chung hàng ngũ với những kẻ
đối lập với chế độ. Loại bổ dụng này không giống với lối xây dựng
Đảng từ trước tới nay của Đảng Cộng sản
Trung Quốc với đối tượng Đảng là người dân thường - chủ yếu là
người lao động và nhà nông - và tiến hành công tác đó bằng việc lập
các tiểu tổ tại chỗ họ sinh sống và làm việc. Nhưng hiện nay, Đảng
ngày càng đặc biệt ra sức nhấn mạnh tới những người có tài năng phát
triển kỹ thuật và doanh nghiệp: trong khi có khoảng 5% dân số tùy
thuộc vào Đảng th́ tỉ lệ đảng viên trong giới doanh gia tư nhân từ
13% năm 1993 lên tới khoảng 20% năm 2000. Ngược lại, các công nhân
kỹ nghệ và nông nghiệp hiện nay chiếm phần thiểu số trong tổng số
đảng viên, họ từ 63% năm 1994 xuống c̣n 45% năm 2002. Đảng cũng tạo
ưu tiên để thu hút các chuyên gia có học. Tỉ lệ đảng viên có tŕnh
độ giáo dục trung học hoặc cấp cao hơn từ 17.8% năm 1984 lên tới
52.5% năm 2002. Và trong Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Cộng sản
Trung Quốc, tỉ lệ các ủy viên có bằng đại học hoặc cao đẳng từ 55.5%
năm 1982 lên tới 98.6% năm 2002, c̣n tỉ lệ của những người có bối
cảnh kỹ thuật (nghĩa là khoa học, kỹ thuật hoặc quản trị) từ chỉ 2%
năm 1982 lên tới 57% năm 1997. Cả 9 ủy viên của Ban Thường vụ Bộ
Chính trị được tuyển chọn hồi tháng Mười Một năm 2002 đều là chuyên
gia khoa học kỹ thuật.
Hậu quả của những chuyển đổi này là Đảng Cộng sản Trung Quốc tái
định nghĩa mối quan hệ của nó với xă hội Trung Quốc - một sự tái
định nghĩa được diễn tả bằng khẩu hiệu “Tam đại biểu - Ba đại diện”:
Thay v́ mô tả ḿnh đơn giản là người tiên phong của giai cấp vô sản,
Đảng lúc này tuyên bố đại diện cho:
1. “các lực lượng sản xuất tiên tiến” của xă hội, nghĩa là đặc
biệt các giai cấp trung lưu thành thị càng ngày càng đông đảo, gồm
các nhà kinh doanh, các chuyên viên, các chuyên gia kỹ thuật cao;
2. sự cổ vũ “văn hóa tiên tiến”, như đối lập với những truyền
thống “phong kiến” hoặc chủ nghĩa duy vật chất hiện đại; và
3. các quyền lợi của đại đa số nhân dân Trung Quốc. Chính sự tái
định hướng này của Đảng,
hơn bất cứ những sắp xếp việc kế thừa được định chế hóa ở cấp
thượng đỉnh, tạo ra tiềm năng thật sự cho sự thay đổi chính trị.
Cấm hay không cấm
Cả hai sách lược ấy đều có nguy cơ: một đằng, các tổ chức mới có
thể tự triển khai bản sắc của chúng và từ khước quyền lănh đạo của
Đảng; đằng khác, các đảng viên mới ấy có thể đẩy Đảng tới hướng
tuyệt thông với các thành phần cơ bản và chính thống của nó. Và quả
thật, chính những quan tâm này làm dậy lên những cuộc tranh luận
hiềm khích bên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc suốt thập niên 1980,
đặc biệt về tư cách đảng viên của doanh gia. Vào tháng Tám năm 1989
- không lâu (cũng không phải ngẫu nhiên) sau khi chế độ buộc ḷng
phải đàn áp những cuộc biểu t́nh thân dân chủ của quần chúng trong
năm đó tại Bắc Kinh và hàng trăm thành phố khác ở Trung Quốc - các
lănh tụ chính thống của Đảng Cộng sản Trung Quốc cấm ngặt việc kết
nạp doanh gia. Lệnh này làm chậm lại sự sinh sôi nảy nở của thành
phần doanh gia trong Đảng nhưng c̣n lâu lắm mới chấm dứt được sự kết
nạp đó: các viên chức Đảng địa phương thường làm lơ lệnh cấm ấy,
trong khi các đảng viên hiện hành th́ xói ṃn nó bằng việc bản thân
họ càng ngày càng đi vào doanh nghiệp tư nhân.
Suốt thập niên 1990, tính chất thích đáng hay không của lệnh cấm
ấy được thảo luận kỹ lưỡng trên các tạp chí của Đảng Cộng sản Trung
Quốc. Người ủng hộ th́ ghi nhận sự mâu thuẫn giữa các biểu đồ nhân
số đang thay đổi của Đảng và truyền thống xă hội chủ nghĩa trong
việc ủng hộ các quyền lợi của người lao động, đặc biệt của tầng lớp
nông dân, chống lại những kẻ thuộc về tư bản tư nhân, đồng thời cảnh
cáo rằng số lượng ngày càng tăng các doanh gia ở trong Đảng đang xói
ṃn tính chặt chẽ của Đảng và thậm chí đang đe dọa sự sống c̣n của
Đảng. Người chống lại lệnh cấm th́ đưa lời tranh căi thực dụng hơn.
Họ tuyên bố, các doanh gia mới này sở dĩ thành công là do bởi các
chính sách của Đảng, và không nên trừng phạt họ v́ họ làm theo chính
sách của Đảng; thêm nữa, sự thành công của họ làm lợi cho Đảng và
cho đất nước bằng việc tạo ra công ăn việc làm mới và gia tăng sự
thịnh vượng chung, qua đó nâng cao tính chính thống của chế độ; và
cuối cùng, nếu các doanh gia tiếp tục bị cấm vào Đảng th́ lúc đó họ
có khả năng tổ chức chống lại Đảng, v́ các tài nguyên kinh tế ngày
càng tăng của họ sẽ chuyển đổi, một cách không tránh được, thành sức
mạnh hoặc ảnh hưởng chính trị.
Vào ngày 1 tháng Bảy năm 2001, kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng
Cộng sản Trung Quốc, Tổng bí thư Giang Trạch Dân chính thức thúc
giục hủy lệnh cấm đó - nhưng ông thất bại, kể cả việc giải quyết vấn
đề đó. Các sách báo xuất bản dùng đường lối Mác-xít chính thống để
phê b́nh kịch liệt và chỉ trích rằng lời phát biểu ấy của họ Giang
làm hại quyền lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc, rồi họ đi rất xa tới
độ cáo buộc ông vi phạm kỷ luật Đảng qua việc đề nghị một sáng kiến
gay cấn như thế mà không có sự xem xét cặn kẽ và thích đáng trong
nội bộ Đảng. Giang phản ứng bằng cách đóng cửa các tạp chí đó và như
thế, bịt miệng tiếng nói công khai của chủ nghĩa Mác chính thống của
Đảng. Trong kỳ họp quốc hội tháng Mười Một năm 2002, đề nghị kết nạp
doanh gia và lư thuyết của họ Giang về “tam đại biểu” được ghi bổ
sung vào bản Hiến pháp nhưng cuộc tranh luận ấy vẫn tiếp tục nơi hậu
trường. Kẻ chống lại sự bổ sung đó th́ tranh căi rằng chính sách
kinh tế mới của Trung Quốc làm chuyển thể xă hội Trung Quốc và có
nguy cơ tạo ra sức ép chính trị theo một cách thức và trên một qui
mô mà sẽ đưa sự cai trị của Đảng tới một chung cuộc. Người ủng hộ
th́ phản bác rằng việc đi theo định nghĩa mới về vai tṛ của Đảng và
việc mở hàng ngũ Đảng ra cho các quyền lợi kinh tế đa dạng của Trung
Quốc đương đại (mà trong quá khứ, nhiều đại diện của nó bị bức hại
như là các “kẻ thù của giai cấp”) sẽ giúp tăng cường chứ không làm
tiêu hao quyền cai trị của Đảng.
Cùng lúc đó, hiện ra rơ ràng trước mắt là các tổ chức quần chúng
của Đảng đang bị phân ră. Trong khi Đảng có mặt ở mọi chốn lao động
của nền kinh tế qui hoạch thuở trước, th́ nay rơ ràng là nó vắng mặt
tại những chốn lao động của khu vực tư nhân đang ngày càng tăng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc nay chỉ phát triển được cơ sở không tới 1%
trong hơn một triệu rưỡi các xí nghiệp tư nhân đang xuất hiện trên
toàn xứ sở và nó chỉ tuyển mộ được một ít đảng viên trong các lực
lượng lao động. Ở nông thôn, đất sống của 70% trong tổng số 1.3 tỉ
dân số Trung Quốc, vào giữa thập niên 1990, Đảng tuyên bố có một nửa
các tổ chức nông thôn của Đảng không hoạt động v́ hiếm có người chịu
gia nhập Đảng. Dù Đảng bỏ ra nhiều nỗ lực để tái tiếp tế sinh lực
cho các cơ sở của ḿnh ở nông thôn, những báo cáo về t́nh trạng èo
uột của chúng và mức gia nhập thấp vẫn tiếp tục được gởi lên trên và
chuyền quanh. Người ta ước lượng có khoảng 2,5 triệu đảng viên, hầu
hết là thanh niên, đang gia nhập “dân số nổi trôi” của đám dân thiên
di t́m việc làm tại các thành phố. Như thế, sự có mặt của Đảng tại
vùng nông thôn lại yếu ớt thêm. Đối với hệ thống Lênin-nít, thành tố
quyết định của nó là năng lực giám sát và phê chuẩn động thái kinh
tế và xă hội; hệ thống ấy có được ổn định hay không là tùy vào năng
lực thiết yếu đó. [4] Như Samuel P. Huntington ghi nhận, sức mạnh
của bất cứ chế độ toàn trị độc đảng nào cũng tùy thuộc, trên một qui
mô lớn, vào sức mạnh của đảng cai trị. Khi đảng suy yếu th́ chế độ
mất ổn định. [5]
Liên hiệp chủ nghĩa và bổ dụng, hai sách lược song sinh của Đảng
Cộng sản Trung Quốc có thể nói là tương tự với hai thành tố gom vào
và loại trừ của chủ nghĩa liên hiệp của nhà nước mà Alfred Stephan
nhận ra: Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn gom vào nó những người nào
thuộc giới tinh hoa về kinh tế và kỹ thuật mà không đe dọa nó bằng
một nghị tŕnh chính trị khác, đồng thời nó muốn loại trừ những
người nào có khả năng đe dọa nó; Đảng muốn gom vào nó các phần tử
nào, các mảng nào của xă hội dân sự đang xuất hiện mà kinh tế là
quyền lợi chủ yếu của chúng không thành vấn đề đối với nó; cùng lúc
đó, Đảng loại trừ và thỉnh thoảng đàn áp các phần tử thích tranh
luận chính trị và có nhiều khả năng tạo ra thách đố cho Đảng, thí dụ,
Đảng Dân chủ Trung Quốc hoặc Pháp Luân Công, một tập đoàn gần như có
tính cách tôn giáo và hấp dẫn quần chúng. Như Michael W. Foley và
Bob Edward ghi nhận, nếu một xă hội dân sự đầy khí lực là thiết yếu
cho các nền dân chủ ổn định th́ nó lại có khuynh hướng tạo thành
nguy cơ lớn lao cho các chế độ toàn trị. [6] Đảng Cộng sản Trung
Quốc nhận thức rất rơ sự dị biệt giữa lănh vực kinh tế bên trong xă
hội dân sự của Trung Quốc, một lănh vực mà quyền lợi của nó tương
hợp với quyền lợi của Đảng, với lănh vực chính trị nhỏ hơn mà nguy
hiểm hơn đang tiềm tàng sự thách đố. [7] Sách lược mà Đảng Cộng sản
Trung Quốc vạch ra là ôm chặt lănh vực kinh tế, trấn áp lănh vực
chính trị, và ngăn chặn sự ly khai chống lại Đảng của giới tinh hoa
kỹ thuật và kinh tế. Như kẻ đánh bạc liều lĩnh, Đảng cho rằng sách
lược ấy là đúng đắn và có thể thực hiện lâu dài, nhưng như Ken
Jowittt đă cảnh cáo, rằng chính giai đoạn gom vào này có thể là bước
đi trước làm tuyệt chủng, một cách giản dị, các đảng Lênin-nít hơn
là ngăn chặn sự tuyệt chủng đó. [8]
Cái ǵ đang lâm nguy
Các nhà lănh đạo Trung Quốc đang héo hon v́ những đe dọa đối với
sự ổn định của hệ thống của họ. Thật không dễ thấy sự mỏng manh của
Đảng Cộng sản Trung Quốc v́ từ năm 1989 tới nay, nó không phải đối
mặt với một thách đố trực tiếp nào trong lúc phải xoay xở để sống
sót với những phí tổn cực lớn cho uy tín của nó ở bên trong Trung
Quốc và tiếng tăm của nó ở hải ngoại. Kể từ lúc đó, những người phản
kháng cũng thận trọng để sống sót dưới h́nh thức tổ chức lỏng lẻo và
không liên kết nhau, đồng thời tránh việc chất vấn về căn bản chính
thống của hệ thống chính trị của chế độ hiện hành. Nhưng bất chấp
những thận trọng đó, sự phản kháng đang ngày càng tăng trên khắp xứ
sở, ở cả thành thị lẫn nông thôn. [9] Hầu hết những sự cố ấy đều
liên quan tới các vấn đề cơ bản: tiền lương không trả, hợp đồng bị
cắt ngang, tịch thu tài sản, đánh thuế phi pháp, các giấy hẹn thay
cho tiền mặt dùng chi trả các hợp đồng cung cấp lúa gạo và các loại
thực phẩm khác, và vân vân. Đảng Cộng sản Trung Quốc đối phó lại
bằng một hỗn hợp củ cà rốt và cây gậy, vừa đáp ứng các yêu cầu về
tiền bạc của những người phản kháng, vùa bắt bỏ tù những kẻ đứng đầu
các cuộc phản kháng.
Một cách kiên quyết và thỉnh thoảng tàn nhẫn, Đảng bảo vệ sự độc
quyền của nó đối với các hội đoàn có tính chính trị. Thậm chí một
phong trào cực kỳ vô hại như phong trào khuyến khích sinh viên bảo
vệ môi sinh bằng cách đừng dùng loại đũa chỉ dùng một lần, cũng đă
cẩn thận không tự tổ chức ḿnh, v́ sợ bị đánh giá là một nhóm có
tiềm năng đối lập và rồi những người đứng đầu phong trào có nguy cơ
bị đuổi học hoặc thậm chí bị bỏ tù. Sự vắng mặt các cuộc phản kháng
có qui mô lớn sau một thập niên có những gương mẫu đặc biệt - từ Bức
tường Dân chủ năm 1978-79 tới những cuộc phản kháng của đại chúng
tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 - không thể được đánh giá một
cách đáng tin cậy là dân chúng đang măn nguyện, nhưng đó chỉ là phản
ứng “có lư trí” trước một chế độ từng chứng tỏ nó “máu lạnh” tới
ngần nào trong ư chí trấn áp và khả năng trấn áp những ai đ̣i hỏi
thay đổi chính trị sâu rộng hơn. [10] Dù chế độ ra sức đặt căn bản
tính chính thống của nó trên sự phát triển kinh tế, nhưng đi kèm với
phát triển kinh tế là sự gia tăng của tham nhũng và bất b́nh đẳng,
mỉa mai thay, cùng lúc, đă và đang xói ṃn tính chính thống. Có điều
tự thân sự ủng hộ yếu ớt mà nhân dân đang dành cho Đảng không đe dọa
nền cai trị của Đảng. Như Adam Przeworski tranh căi rằng: Sự chú ư
mà người ta dành cho “tính chính thống” của một chế độ thường bị đặt
sai chỗ: cái quan trọng hơn (sự ủng hộ của nhân dân) là sự thiếu
vắng cái có khả năng thay thế có hiệu quả. [11] Và Đảng Cộng sản
Trung Quốc thành công trong việc ngăn chặn cái có khả năng thay thế
nó. Nó bằng ḷng chấp nhận con số ngày càng tăng những cuộc biểu
t́nh rời rạc, trong chừng mực chúng đừng hiệp nhất hoặc tổ chức
thành nhóm quyền lợi xă hội có thể hoạt động lâu dài. Điều ấy cho
phép Đảng tiếp tục đàn hồi, khi co khi giăn, trong việc tối thiểu
hóa nhu cầu thích nghi về chính trị. Nhưng nó cũng có ư nghĩa rằng
không có một lực lượng xă hội tự quản và chặt chẽ mà khi lâm vào
thời kỳ khủng hoảng, Đảng có thể thương thảo với nó để hoặc đưa tới
một giải pháp êm thắm hoặc một sự chuyển tiếp được “thỏa ước” rất
đỗi khó khăn.
Thay đổi chính trị và xă hội đang diễn ra tại Trung Quốc có những
hệ quả chính trị nào? Suốt kỷ nguyên sau Mao, nhiều người quan sát
ghi nhận sự bất tương hợp của các định chế Lênin-nít và nền kinh tế
thị trường đang tăng trưởng; họ tiên liệu rằng tới một lúc nào đó,
các hệ thống chính trị và kinh tế ấy sẽ đưa tới một ḥa điệu căn bản,
có thể bằng cải cách có tính dân chủ hơn là bằng sự khôi phục việc
qui hoạch có tính tập trung. Cho tới lúc này, Đảng Cộng sản Trung
Quốc đang gây trở ngại cho các kỳ vọng đó và sự bất tương hợp ấy vẫn
c̣n. Dù vậy, nhiều người quan sát vẫn tiếp tục mường tượng rằng công
cuộc chuyển thể Trung Quốc thành một thực thể dồi dào sinh lực với
tiềm năng thương mại lớn lao cuối cùng sẽ đưa tới sự chuyển tiếp dân
chủ tương đối êm thắm. [12] Nhưng không phải ai cũng lạc quan như
thế. Những khủng hoảng kinh tế và tài chánh đang hiện ra lờ mờ ở
Trung Quốc khiến một số người tiên đoán sự sụp đổ của chính quyền
Trung Quốc, dù trong số những người ấy chẳng ai có tham vọng tiên
đoán sự sụp đổ ấy sẽ xảy ra vào thời điểm nào hoặc sau sự sụp đổ sẽ
là cái ǵ. [13]
Cả hai viễn ảnh kể trên đều bỏ sót các khía cạnh quan trọng của
toàn cảnh. Người tin rằng sự chuyển thể chế độ của Trung Quốc đi
liền với, một cách không tránh được, sự hiện đại hóa kinh tế, đă
không để ư tới vấn đề tác nhân trung gian - nghĩa là vấn đề ai sẽ
lănh đạo cuộc chuyển thể và nó sẽ cho cuộc chuyển thể đó một h́nh
thù như thế nào; trong bối cảnh toàn trị, sự dân chủ hóa là kết quả
không thể tránh của sự tăng trưởng kinh tế hơn là hậu quả hành động
của các lănh tụ chính trị bên trong chế độ và các lực lượng dân chủ
bên ngoài xă hội nói chung. Hầu hết các doanh gia tư nhân và giới
tinh hoa kỹ thuật của Trung Quốc đều cho thấy họ ít quan tâm tới
việc cổ vũ cho dân chủ hóa. Cộng đồng của những người bất đồng chính
kiến tại Trung Quốc đă và đang bị Đảng xói ṃn rất hiệu quả bằng
cách bỏ tù hoặc trục xuất ra nước ngoài những lănh tụ nổi tiếng nhất;
trong khi đó, giữa các lănh tụ ấy lại có xung khắc cá nhân và không
tín nhiệm nhau - đặc biệt giữa những người sống lưu vong - gây trở
ngại cho một sự hợp tác có hiệu quả hoặc tuyên truyền một thông điệp
hợp nhất.
Xét theo chuỗi t́nh huống ấy th́ thật khó xác định một trung gian
nào có khả năng làm tác nhân cho công cuộc đổi thay chính trị có
tính dân chủ. Mặt khác, người tiên đoán sự sụp đổ của chế độ cộng
sản th́ không để ư tới những tài nguyên chính trị mà Đảng hiện có:
các tổ chức có tính chính trị, nghĩa là sự tiếp tục vắng mặt của tổ
chức đối lập, và sự tiếp tục chấp nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc của
hầu hết nhân dân Trung Quốc như một loại h́nh sinh hoạt chính trị
độc nhất hiện có trong nước. Cùng lúc ấy, Đảng tiếp tục là nguồn bảo
trợ chủ yếu cho công ăn việc làm và các cơ hội kinh doanh. Đảng cũng
đang tự quấn quanh thân nó lá quốc kỳ Trung Quốc giữa lúc ḷng yêu
nước đang gia tăng, biến sự phê b́nh Đảng thành một hành động trông
có vẻ không ái quốc. Thêm nữa, Đảng làm cho quần chúng nản ḷng ủng
hộ sự đổi thay chính trị bằng sự nơm nớp sợ hăi rằng sẽ có t́nh
trạng bất ổn đi liền với công cuộc dân chủ hóa. Và nhiều người tại
Trung Quốc chấp nhận lời tuyên bố của Đảng Cộng sản Trung Quốc rằng
chế độ dân chủ th́ không thích hợp với nền văn hóa Trung Quốc, v́
thế, làm giảm thiểu thêm nữa cái sức ép buộc Đảng phải cam kết cải
cách chính trị sâu rộng hơn.
Loay hoay mày ṃ măi
Trong các điều kiện ấy, kịch bản có khả năng xảy ra nhất về một
tương lai có thể thấy trước là Đảng Cộng sản Trung Quốc loay hoay
măi với sách lược thích nghi có giới hạn của nó, liên hiệp các quyền
lợi mới trong khi đề kháng sức ép của khát vọng thay đổi chính trị.
Đây không chỉ là kịch bản có khả năng xảy ra nhất mà c̣n là kịch bản
tốt lành nhất đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc, v́ những đổi thay
đang diễn ra về xă hội và chính trị có khuynh hướng làm tiêu hao hơn
là làm vững mạnh địa vị đảng cai trị của nó. Có khả năng xảy ra là
sự tăng trưởng kinh tế và tư nhân hóa sẽ làm Đảng suy yếu qua sự
tiếp tục băng hoại của các tổ chức quần chúng của Đảng và sự tiếp
tục suy yếu khả năng của Đảng trong việc giám sát và kiểm soát các
khuynh hướng xă hội đang chiếm ưu thế.
Trong khi Trung Quốc đang kinh qua cải cách chính trị nhiều hơn
các nhà quan sát thừa nhận, [14] th́ sự qui hoạch cải cách đó làm
cho hệ thống toàn trị hoạt động hữu hiệu hơn chứ không làm cho nó
đáp ứng hơn sức ép đ̣i thay đổi của xă hội. Cùng lúc đó, không thể
chối căi rằng các sức ép ấy đang gia tăng. Câu hỏi là liệu Đảng Cộng
sản Trung Quốc có thể điều tiết chúng trong khuôn khổ Lênin-nít
thiếu yếu của nó hay không. Và căn cứ vào lịch sử của Đảng Cộng sản
Trung Quốc và kinh nghiệm của các đảng Lênin-nít khác, câu trả lời
có khả năng là không. Trước hết, chủ nghĩa Lênin bất tương hợp với
sự xuất hiện một xă hội dân sự chính cống; khát vọng chủ yếu của các
đảng ấy là nhấn mạnh lên đường dọc của quyền lực và ngăn chặn các
loại dây liên kết hàng ngang của các tổ chức tự trị vốn là nền tảng
của xă hội dân sự. Thứ đến, Trung Quốc thiếu các định chế có khả
năng làm kênh vận chuyển sự tham gia chính trị mà yêu cầu mỗi ngày
một tích cực hơn. Chính xác là v́ Đảng Cộng sản Trung Quốc quá hữu
hiệu trong việc bảo vệ độc quyền chính trị của nó và việc trấn áp
thật sự các tổ chức tự quản nên sự phản kháng của quần chúng có
khuynh hướng leo thang, và tới khi xảy ra th́ nó vượt quá tầm kiểm
soát. Hễ lúc nào Đảng Cộng sản Trung Quốc tỏ vẻ đang cân nhắc hoặc
đang khích lệ cải cách chính trị th́ lúc đó, các biến cố xảy ra trầm
trọng thêm từng ngày cho tới khi lănh đạo Đảng cảm thấy bị thúc ép
phải ra tay đàn áp các phong trào cá biệt của quần chúng đang tạo
sức ép đ̣i cải cách. Điều này rất đúng với thời kỳ Bức tường Dân chủ
năm 1978-79, với những thử nghiệm các cuộc bầu cử địa phương đầu
thập niên 1980, với những cuộc biểu t́nh của sinh viên năm 1986-87,
và thêm lần nữa, với thời kỳ có những cuộc biểu t́nh tại Quảng
trường Thiên An Môn và những nơi khác năm 1989. Ngày nay, bất chấp
thực tế đang diễn ra sự giải phóng, các nhà lănh đạo Trung Quốc miễn
cưỡng thảo luận công khai về khả năng có sự cải tổ chính trị được
bảo trợ một cách chính thức v́ họ sợ ḿnh sẽ thêm lần nữa mở chiếc
cửa ngăn không cho lũ lụt tràn vào.
Như thế, Đảng Cộng sản Trung Quốc bị thúc ép bởi các hành động
của nó trong quá khứ và đặc biệt bởi các quyết định của nó nhằm trấn
áp sự phản kháng chính trị có tổ chức và nhằm ngăn chặn sự h́nh
thành các tổ chức tự quản. Lănh đạo Đảng biết điều đó, và họ cẩn
thận phối trí những chuẩn bị việc kế thừa, thiết kế các sách lược về
chủ nghĩa liên hiệp có giới hạn và về bổ dụng để làm nản ḷng những
ai đang nuôi hy vọng rằng có khả năng sớm xảy ra một cuộc cải tổ
chính trị nào đó. Một số nhà lănh đạo toàn trị, bằng những thiết kế
khác, đă đánh giá quá cao sự ủng hộ của quần chúng, với niềm tin
rằng ḿnh sẽ sống sót và khởi sắc. [15] Nhưng không có vẻ như giới
lănh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ có một quyết định sai lầm
chiến thuật như thế.
Hệ quả là các viễn ảnh về một nền dân chủ tại Trung Quốc th́ liên
quan trực tiếp tới chính số phận của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Có vẻ
như Trung Quốc không kinh qua sự dân chủ hóa cùng với sự liên tục
của chế độ như Đài Loan và Mexico đă làm. [16] Nghĩa là, cho dù Đảng
Cộng sản Trung Quốc có thể sống sót dưới một h́nh thức nào đó sau
cuộc chuyển tiếp, và cho dù nhiều quan chức của Đảng có thể ở lại
một cách tích cực trong một chế độ hậu cộng sản - như trường hợp
nhiều chính phủ ở Đông Âu và cựu Liên Xô - nếu đất nước Trung Quốc
có trở thành dân chủ th́ cốt yếu nằm ở chỗ Đảng Cộng sản Trung Quốc
phải chi trả phí tổn cho cuộc chuyển tiếp đó. Chỉ sự suy thoái của
Đảng Cộng sản Trung Quốc mà thôi th́ không đặt được quá tŕnh tiến
tới dân chủ cho bất cứ tương lai hậu cộng sản nào. Nhiều nơi ở châu
Á đang có “nền dân chủ hẹp ḥi”, và một nền dân chủ được củng cố đầy
đủ th́ hầu như không là tiêu chuẩn trong phần c̣n lại của thế giới
hậu cộng sản. [17] Như hết thảy chúng ta đều thấy trong nhiều trường
hợp, sự kết liễu của chủ nghĩa cộng sản không bảo đảm cho sự bắt đầu
một chế độ dân chủ.
-------------------
Bruce J. Dickson là phó giáo sư môn khoa học chính trị và các sự
vụ quốc tế tại Đại học George Washington. Ông là tác giả bảy cuốn
sách về Trung Quốc, trong đó dặc biệt có Red Capitalism in China:
The Party, Private Entrepreneurs, and Prospect for Political Changes
(Chủ nghĩa tư bản đỏ tại Trung Quốc: Đảng, các doanh gia và viễn ảnh
thay đổi chính trị, 2003) và Democratization in China and Taiwan:
The Adapbility of Leninist Parties (Dân chủ hóa tại Trung Quốc và
Đài Loan: khả năng thích nghi của các đảng Lênin-nít, 1997), và là
biên tập viên cộng tác của tạp chí Problems of Post-Communism (Các
vấn đề thời hậu cộng sản).
_______________________
[1]Xem: Ken Jowitt, New World Disorder: The Leninist Extinction (Vô
trật tự thế giới mới: sự tuyệt chủng của những người theo thuyết
Lê-nin), Berkeley: University of California Press, 1992, 88-120.
Cũng xem cuốn của tôi: Red Capitalists in China: The Party, Private
Entrepreneurs, and Prospects for Political Change, New York:
Cambridge Univerity Press, 2003.
[2]Xem: Gordon White, Jude Howell và Shang Xiaoyuan, In Search of
Civil Society: Market Reform and Social Change in Contemporary China
(Đi t́m xă hội dân sự: Cải cách có tính thị trường và thay đổi xă
hội tại Trung Quốc đương đại), Oxford: Oxford University Press,
1996; Mixin Pen, “Chinese Civic Assosiation: An Empirial Analysis,”
Modern China 24: (“Hội đoàn công dân tại Trung Quốc: một phân tích
theo kinh nghiệm,” Tạp chí Trung Quốc hiện đại số 24, tháng Bảy
1998), 285- 318; Tony Saich, “Negotiating the State: The Development
of Social Organizations in China,” China Quartely 03.2000 (Thương
thảo với nhà nước: sự phát triển các tổ chức xă hội tại Trung Quốc,”
Trung Quốc Quí San tháng Ba 2000), 124-41.
[3]Xem: Peter Evans, Embedded Autonomy: States and Industrial
Transformation (Sự tự quản bị giữ riết: Nhà nước và sự chuyển thể kỹ
nghệ), Princeton: Princeton University Press, 1995.
[4]Andrew G. Walder, “The Decline of Communist Power: Elements of
a Theory of Institutional Change”, Theory and Society 23 (“Sự sa sút
của quyền lực Cộng sản: các yếu tố lư thuyết về thay đổi định chế,”
Tạp chí Lư thuyết và Xă hội số 23, tháng Tư 1994), 297-323.
[5]Samuel P. Huntington, “Social and Institutional Dynamics of
One-Party Systems” (Các động lực có tính xă hội và định chế của các
hệ thống độc đảng), trong: Samuel P. Huntington và Clement H. Moore
(biên tập), Authoritarian Politics in Modern Society: The Dynamics
of Established One-Party System (Sinh hoạt toàn trị trong xă hội
hiện đại: Các hệ thống độc đảng đă được thiết lập), New York: Basic
Books, 1970, 9.
[6]Michael W. Foley và Bob Edwards, “The Paradox of Civil
Society”, Journal of Democracy 7 (“Nghịch lư của xă hội dân sự”, Tạp
chí Dân chủ số 7, Tháng Bảy 1996), 38-52.
[7]Yanqi Tong, “State, Society, and Political Change in China and
Hungary,” Comparatives Politics 26 (“Nhà nước, xă hội và thay đổi
chính trị tại Trung Quốc và Hungary,” Tập san Chính trị học đối
chiếu số 26, tháng Tư 1994); White, Howell và Shang, In Search of
Civil Society.
[8]Ken Jowitt, New World Disorder.
[9]Elizabeth J. Perry và Mark Selden (biên tập), Chinese Society:
Change, Conflict, and Resistance (Xă hội Trung Quốc: thay đổi, xung
khắc và đề kháng), New York: Routledge, 2000; Thomas Bernstein và
Xiaobo Lu, Taxation without Representation in Contemporary Rural
China (Đánh thuế mà không có tiêu biểu tại nông thôn Trung Quốc
đương đại), New York: Cambridge University Press, sắp xuất bản.
[10]Timur Kuran, “Now Out of Never: The Element of Surprise in
the East European Revolution of 1989", World Politics 44 (Ngày nay
tưởng chẳng bao giờ: yếu tố ngạc nhiên trong cuộc cách mạng Đông Âu
năm 1989,” Tạp chí Chính trị thế giới số 44, tháng Mười một 1991,
7-48.
[11]Adam Przeworski, “Some Problems in the Transition to
Democracy” (Một số vấn đề trong cuộc chuyển tiếp tới dân chủ), trong:
Guillermo O’Donnell, Philippe C. Schitter, and Laurence Whitehead (biên
tập), Transitions from Authoritarian Rule, Vol. 3: Comparative
Perspectives (Các cuộc chuyển tiếp từ nền cai trị toàn trị, Cuốn 3:
Đối chiếu các viễn cảnh) Baltimore: Johns Hopkins University Press,
1986.
[12]Henry S. Rowen, “The Short March: China’s Road to Democracy”,
National Interest Fall 1996 (“Cuộc di hành ngắn ngủi: đường tới dân
chủ của Trung Quốc”, tập san Quyền lợi quốc gia, số Mùa thu 1996),
61-70; Shaohua Hu, Explaining Chinese Democratization (Cắt nghĩa sự
dân chủ hóa Trung Quốc), Westport, Conn.: Praeger, 2000; David Sheff,
China Dawn: The Story of a Technology and Business Revolution (B́nh
minh ở Trung Quốc: Câu chuyện cuộc cách mạng kỹ thuật và doanh
nghiệp), New York: Harper Business, 2002.
[13]Gordon G. Chang, The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ đang
tới của Trung Quốc), New York: Random House, 2001.
[14]Để có thêm chi tiết giải thích về các điểm này, xem: Minxin
Pei, “Is China Democratizing?” Foreign Affairs 77 (“Có phải Trung
Quốc đang dân chủ hóa?”, Tạp chí Các sự vụ quốc ngoại, số 77, tháng
Giêng - tháng Hai 1998), 68-82. Pei ít lạc quan khi nh́n tiếp vào
những viễn cảnh của cuộc cải tổ chính trị tại Trung Quốc; xem:
“China’s Governance Crisis,” Foreign Affairs 81 (“Khủng hoảng cai
trị tại Trung Quốc”, Tạp chí Các sự vụ quốc ngoại số 81, tháng Chín
- tháng Mười 2002), 96-109.
[15]Guillermo O’Donnell và Philippe C. Schmitter, Transitions
from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain
Democraties (Những chuyển tiếp từ nền cai trị toàn trị: Các kết luận
chưa dứt khoát về các nền dân chủ bất định), Baltimore: Johns
Hopkins University Press, 1986, đặc biệt chương 6; Samuel P.
Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth
Century (Đợt sóng dân chủ hóa thứ ba trong cuối thế kỷ hai mươi),
Norman: University of Oklahoma Press, 1991, 174-78.
[16]Tôi giải thích tỉ mỉ về biện luận này trong Democratization
in China and Taiwan: The Adaptability of Leninist Parties, Oxford:
Oxford University Press, 1997; và “Taiwan’s Democratization: What
Lessons for China?” (“Cuộc dân chủ hóa của Đài Loan: Bài học nào cho
Trung Quốc?”) trong: Muthiah Alagappa (biên tập), Taiwan’s
Presidential Politics: Democratization and Cross-strait Relations in
the Twenty-first Century (Hoạt động chính trị bầu cử tổng thống tại
Đài Loan: dân chủ hóa và những quan hệ giao lưu đôi bờ trong thế kỷ
hai mươi mốt), Armonk, N.Y.: M.E. Sharpe, 2001.
[17]Michael MacFaul, “The Fourth Wave of Democracy and
Dictatorship: Noncooperative Transitions in the Post-Communist
World,” World Politics 54 (“Đợt sóng thứ tư của dân chủ và độc tài:
những cuộc chuyển tiếp bất liên hiệp trong thế giới hậu cộng sản,”
Tập san Chính trị thế giới số 54, tháng Giêng 2002), 212-44.

Bài 3 : Sự
bất b́nh đẳng mới
An Chen (Trần An, 陳安) - Nguyễn Ước
dịch
Tại Trung Quốc, chủ nghĩa tư bản gây ra sự phân tầng xă hội đầy ư
nghĩa và xung khắc giai cấp đang gia tăng. Liệu sự kiện ấy có đẩy xứ
sở ấy tới một chế độ dân chủ kiểu phương Tây, ít ra trong một tương
lai gần? Câu trả lời của tôi là không. Lư do độc nhất và quan trọng
là, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sinh hoạt chính trị có
tính giai cấp tại Trung Quốc trông không có vẻ tạo ra một sức ép xă
hội thân dân chủ mănh liệt hoặc h́nh thành một kiểu mẫu liên minh
giai cấp ủng hộ dân chủ hóa.
Nhiều sinh viên môn chuyển tiếp dân chủ đă phân loại chúng theo
hai mô h́nh rộng răi. Cái thứ nhất tôi sẽ gọi là mô h́nh cấu trúc,
nhấn mạnh tầm quan trọng của các điều kiện kinh tế xă hội rộng răi,
làm thuận lợi cho sự dân chủ hóa, hoặc ít nhất làm chuyển đổi hẳn
một chủ nghĩa toàn trị đă phát triển đầy đủ. Cái được liệt kê thứ
hai là kiểu mẫu chuyển tiếp trên căn bản “thỏa ước” hoặc “thương
lượng”, đặt trọng tâm vào những chọn lựa có tính chiến lược và những
tương tác của giới tinh hoa chính trị trong việc gây ra “sự đoạn
tuyệt với toàn trị” và “sự mở màn dân chủ.” Kiểu mẫu thứ hai này
không loại trừ các sức ép có tính cấu trúc nhằm thay đổi để có dân
chủ, và đang được ưa chuộng nhất trong giới
nghiên cứu về các cuộc chuyển tiếp theo “đợt sóng thứ ba” kể từ
năm 1974. Thế nhưng kiểu mẫu này dường như khó có thể áp dụng tại
Trung Quốc. Trong hầu hết các cuộc chuyển tiếp do thương lượng th́ ở
đó đă có sẵn truyền thống xă hội dân sự và đối lập chính trị có tổ
chức khiến có thể làm cho giới tinh hoa (các lănh tụ đương nhiệm
hoặc các lănh tụ đối lập) chơi tṛ mặc cả. Nhưng điểm khởi hành của
Trung Quốc là từ một chế độ toàn trị, do đó, nếu có xảy ra th́ không
xảy ra trong một bối cảnh như vậy. Thế cho nên để nắm bắt những quĩ
đạo khả hữu của sự chuyển tiếp tại Trung Quốc, chúng ta phải quay
lại kiểu mẫu thứ nhất, cái có tính cấu trúc.
Kiểu mẫu ấy đi vào nhiều biến thể mà ở đây chúng ta chưa cần dừng
lại để liệt kê đầy đủ. Chỉ cần nói rằng cái ư nghĩa quan trọng nhất
trong việc áp dụng nó tại Trung Quốc, theo quan điểm của tôi, là cái
mà tôi gọi là kiểu mẫu cổ điển có tính cấu trúc (classical
structural model). Được rút tỉa chủ yếu từ kinh nghiệm lịch sử của
châu Âu, biến thể này có thể rọi ánh sáng lên các câu hỏi quyết định
về tương lai của Trung Quốc: Chính xác th́ cái ǵ sẽ là đầu tàu cho
sự dân chủ hóa tại một xứ sở vốn không có lịch sử, truyền thống hoặc
văn hóa dân chủ? Mấy chục năm giải phóng kinh tế và những thay đổi
có tính hệ quả trong cấu trúc của xă hội Trung Quốc vừa qua đă khiến
kinh nghiệm châu AÂu trở thành thích đáng hơn bao giờ hết.
Kết quả cuối cùng th́ rơ ràng: đời sống chính trị của Trung Quốc
đang diễn ra trong một bối cảnh chính trị mới mẻ đối với Trung Quốc
nhưng cũng quen thuộc đối với một số không ít các trường hợp lịch sử
trước đó, và do đó, cần phải tiên đoán một cách công bằng và tích
cực, ít nhất về những nét đại cương với điều kiện là những vấn đề
thiết yếu của cái kiểu mẫu cấu trúc cổ điển đó được duyệt xét một
cách trí tuệ dưới ánh sáng của t́nh huống tạo nên trường hợp Trung
Quốc — và quả thật, với hết thảy các trường hợp “mới đây” — tách
biệt hẳn các trường hợp “lịch sử” trước kia.
Thế th́ cái ǵ phân chia các nhà dân chủ “mới đây” và các nhà dân
chủ “lịch sử”? Cho tới khoảng nửa thế kỷ trước, phong trào hướng tới
dân chủ là một quá tŕnh tăng trưởng lâu dài mà có thể truy tầm
nguồn gốc của nó nơi truyền thống của chủ nghĩa đa nguyên chính trị.
Quá tŕnh hướng tới dân chủ tự do xảy ra chống lại một bối cảnh
chính trị rộng lớn trong đó rơ ràng là mọi bộ phận cấu thành dân chủ,
thí dụ sự phân quyền, cai trị theo hiến pháp, quyền tối thượng và
độc lập của quốc hội, đă được định chế dần dần. Dân chủ trở nên đầy
đủ hơn khi quyền bỏ phiếu được mở rộng hơn bao giờ hết cho các tầng
lớp nhân dân trên qui mô lớn hơn.
Trong hầu hết các trường hợp đương đại — gồm Trung Quốc — các chế
độ trước đó đều là chế độ chuyên quyền, thiếu một cái ǵ đó hơn là
cái vẻ bên ngoài của các cơ chế dân chủ tối thiểu, và gần như loại
khỏi chính quyền mọi giai cấp xă hội. Tuy thế, cả trong trường hợp
đó, dân chủ — bao gồm phổ thông đầu phiếu — được đề ra cho đúng với
nguyên tắc dù bị coi rẽ trong thực hành. Thế th́ sự dân chủ hóa chân
chính — nếu nó xảy ra — sẽ xảy ra theo cái mà Ruth Brins Collier gọi
là “một chương hồi cải cách độc nhất trong cuốn truyện dài thay đổi
chế độ sâu rộng”, trong đó hết thảy các nhóm xă hội đều có quyền bầu
cử và ứng cử. [1]
Từ cái đó, phát sinh những ứng dụng nào? Phần v́ các chế độ toàn
trị đương đại không thể chứng minh bằng nền tảng ư thức hệ nên chúng
bị ám ảnh bởi vấn đề chính thống. Tại Trung Quốc nơi ư thức hệ
Mác-xít không c̣n bám riết con tim và khối óc và nơi mà nền kinh tế
đang càng ngày càng hội nhập cộng đồng quốc tế trong đó tự do và dân
chủ chiếm ưu thế, nền tảng đạo đức và ư thức hệ của sự cai trị xuất
phát từ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bị xói ṃn đáng kể. Tuy thế,
đối với người Trung Quốc, ngoại trừ sự dan díu đầy lăng mạn phù
phiếm và ngắn ngủi với chế độ đại nghị vào lúc mới bắt đầu thế kỷ
20, chủ nghĩa toàn trị bao giờ cũng là cách thế “b́nh thường” trong
đời sống chính trị của họ. Do đó,
trong bối cảnh Trung Quốc, chủ nghĩa toàn trị không cần được
chứng minh bằng các thuật ngữ thuần túy chính trị. “Tính chính thống”
của nó có thể được giải thích thỏa đáng theo Max Weber “chính quyền
của ‘muôn thuở hôm qua’...của những tập tục được làm cho có vẻ hợp
pháp qua sự công nhận từ đời nảo đời nao không mường tượng nổi và sự
định hướng làm thành tập quán tuân thủ.” [2] Các chế độ toàn trị
khác có thể phải dựa, tới một cấp độ biến thiên nào đó, vào sự hợp
tác và giúp đỡ của những người hoạt động trong khu vực tư nhân để
sống c̣n. Tại Trung Quốc, quan hệ đó th́ đảo ngược, bất chấp tầm
quan trọng kinh tế và ảnh hưởng chính trị của khu vực tư đang gia
tăng.
Mặc dù các nhóm học giả và nhà nghiên cứu phương Tây đều đồng ư
với nhau về sự nới rộng các tự do cá nhân và chủ nghĩa đa nguyên
kinh tế xă hội tại Trung Quốc, khả năng khống chế xă hội Trung Quốc
của Đảng và nhà nước cộng sản không bị xói ṃn đáng kể. Cho tới nay,
chế độ của ĐCSTQ nới lỏng sự kiểm soát toàn xă hội hoặc buông bỏ
phần nào cái sức mạnh có tính định chế của nó không phải do bởi sức
ép ở trong nước hoặc quốc tế nhưng nói chung do bởi nghị tŕnh của
đảng và nhà nước, một nghị tŕnh có phần nào — nhưng chỉ phần nào
thôi — bị chế ngự bởi các yêu cầu của nền kinh tế thị trường đang
bắt đầu nảy nở.
Làm thế nào công cuộc dân chủ hóa có thể phát sinh dưới một nhà
nước toàn trị và gần như tối thượng như thế? Động lực cơ bản hoặc
sức mạnh thúc đẩy dân chủ hóa sẽ phát xuất từ đâu? Và làm thế nào nó
có đủ sức mạnh? V́ một số lư do, sức ép từ hải ngoại có vẻ như không
đóng vai tṛ quan trọng trong việc chuyển dịch Trung Quốc tới dân
chủ. Ngược lại, dân chủ hóa đ̣i hỏi sức ép cực độ từ bên trong, một
sức ép mà chỉ các nhóm xă hội có sức mạnh mới có thể đảm đương nổi.
Nhưng liệu có phát sinh được sức ép đó không? Đặc biệt nó tùy thuộc
vào vấn đề chủ chốt và sau cùng mà kiểu mẫu cấu trúc cổ điển tŕnh
bày sức mạnh giải thích được của nó.
Phân tầng xă hội và những xung khắc giai
cấp
Tại cốt lơi của kiểu mẫu này là quá tŕnh phát triển tư bản chủ
nghĩa. Tư bản chủ nghĩa đưa tới sự phân chia và cân bằng hỗ tương
các sức mạnh kinh tế và chính trị. Nó cũng tạo ra sự phân tầng xă
hội và sự đa dạng hóa các quyền lợi giai cấp, chuyển thể nhà nước
thành đấu trường ở đó những xung khắc quyền lợi được giải quyết bằng
đấu tranh. V́ những lư do này và những lư do nọ, chủ nghĩa tư bản có
lô-gic thân dân chủ và chẳng có lư do đặc biệt nào để tin rằng Trung
Quốc không bị nó thẩm thấu. Những cải cách mang tính thị trường suốt
mấy thập niên vừa qua đă làm phát sinh những sức mạnh kinh tế độc
lập đối với sự kiểm soát của nhà nước và xói ṃn các trụ cột kinh tế
xă hội của quyền bá chủ cộng sản chủ nghĩa. So với nhà nước tư bản,
nhà nước Trung Quốc vẫn mạnh hơn rất nhiều nhưng nó không thể hoàn
toàn lănh đạm với xă hội, và quả thật, ngày nay nó cần tới sự giúp
đỡ của xă hội hơn bao giờ hết để cai trị có hiệu quả. Khi xă hội
Trung Quốc tiếp tục bị phân biệt và phân tầng th́ sinh hoạt chính
trị giai cấp trở thành một vấn đề mà ĐCSTQ phải đếm xỉa tới.
Dưới thời Mao, không có giai cấp xă hội hiểu theo nghĩa kinh tế.
Ngoại trừ các “kẻ thù của giai cấp”, hầu hết người dân Trung Quốc
hoặc là “công nhân” lao động trong các công ty xí nghiệp do nhà nước
làm chủ hoặc là “nông dân” canh tác trong các “công xă nhân dân”.
Trong các thập niên sau-Mao, có vẻ như một phần ba nông dân bỏ việc
cày cấy để t́m những việc làm phi nông nghiệp. [3] C̣n nữa, giai cấp
lao động mà đẳng cấp của chúng từng ph́nh lên ngày nay vỡ thành tầng
lớp có khả năng ngoi lên thành giới cổ trắng vững vàng hoặc tầng lớp
bị sa sút thành các nhóm nghèo khổ, thậm chí “hạ cấp” (underclass –
dưới-giai-cấp).
Ngày nay, trong các thành phố lớn của Trung Quốc, nói chung người
ta có thể nhận thấy có phẩm trật bốn giai cấp. Ở trên chóp đỉnh là
tầng lớp trưởng giả thượng hạng và ít ỏi, gồm các doanh gia thành
công nhất. Kế đó tới giai cấp trung lưu gồm các doanh gia nhỏ hơn,
các quản trị viên và các công nhân cổ trắng làm việc cho công ty
nước ngoài hay công ty tư doanh lớn, và các chuyên gia. Hai giai cấp
phát đạt này chiếm có lẽ không hơn 13% dân số đô thị, biến họ thành
5% tổng dân số cả nước. [4]
Đứng bên dưới hai giai cấp phồn vinh ấy là giai cấp lao động gồm
đa số nhân dân Trung Quốc. Nằm dưới đáy xă hội là giai cấp “hạ cấp”
với lợi tức thấp hơn mức chỉ đủ sống để tồn tại. Trong những năm vừa
qua, t́nh trạng đông đảo công nhân công ty quốc doanh không công ăn
việc làm đă mở rộng giai cấp “hạ cấp” này tới một kích cỡ có ư nghĩa
quan trọng về mặt chính trị, có lẽ đang đạt tới con số 50 triệu cư
dân thành phố trên toàn lănh thổ. [5]
Tại Trung Quốc, hoạt động chính trị giai cấp bị khích động bởi sự
kết hợp của sự phân tầng xă hội đang sâu sắc, sự mất tinh thần đang
gia tăng v́ thất bại của chế độ trong việc xóa đói giảm nghèo và sự
tức giận ngày càng cao đối với tham nhũng và những chênh lệch sâu
rộng liên quan tới phát triển kinh tế do nhà nước lănh đạo. Năm
1998, Ngân hàng Thế giới — dùng một phương pháp không tính đến lợi
tức phi pháp của viên chức nhà nước — đă ước lượng chỉ số Gini của
Trung Quốc với con số đáng lo ngại là 40,3 (từ số 0 biểu hiệu cho
t́nh trạng hoàn toàn b́nh đẳng lợi tức tới số 100 biểu hiệu cho hoàn
toàn bất b́nh đẳng [6] . Chỉ số ấy đặt Trung Quốc ngang tầm chất
lượng với các nước như Bolivia (42.0, 1990), Phi Luật Tân (46.2,
1997) và Peru (46.2, 1996). Bản báo cáo chính thức tiết lộ rằng mặc
dù đă thực hiện nhiều nỗ lực xóa đói giảm nghèo ở đô thị, vẫn c̣n 30
triệu thị dân kiếm chỉ vừa đủ sống [7]
Đối với nhiều người, sự chênh lệch lợi tức ngày càng lớn giữa
người Trung Quốc dường như dính líu nhiều tới các gian trá và tham
nhũng chính trị hơn là tới những nỗ lực lương thiện của thị trường
tự do. Điển h́nh là các nhà tư bản tạo dựng tài sản bằng thông đồng
với viên chức thư lại bất lương hoặc nắm lợi thế trong t́nh trạng
thị trường hỗn độn để khỏi bị trừng phạt v́ những thủ đoạn vô đạo và
phi pháp. Khi các công ty quốc doanh chuyển biến thành các thực thể
tư doanh, chia cổ phần, thí dụ nhiều giám đốc do nhà nước bổ nhiệm
có thể dùng địa vị của ḿnh để làm “tay trong” và thành người giàu
có trong khi đó số lượng đông đảo công nhân “thừa” hoặc “không sinh
lợi” của các xí nghiệp quốc doanh cũ bỗng thấy ḿnh có mặt trên
đường phố.
T́nh trạng thiếu các kênh được định chế hóa để nói lên quyền lợi
của giai cấp hoặc thiếu đấu trường chính trị hợp pháp để cạnh tranh
giai cấp khiến người ta không có khả năng đánh giá chính xác chiều
sâu của những phân chẻ giai cấp trong xă hội. Nhưng một báo cáo mới
đây của Viện Khoa học Xă hội Trung Quốc — trong đó có phần dựa trên
những nghiên cứu được xúc tiến tại một số thành phố kỹ nghệ “tiêu
biểu” — đă cung cấp vài dữ kiện xác minh t́nh trạng leo thang của
chiến tranh giai cấp. Theo bản báo cáo ấy, chỉ có 10,6% người được
nghiên cứu thấy rằng không có “xung khắc quyền lợi” [xă hội hoặc
giai cấp] trong khi đó 89,4% nghĩ rằng đang có “các xung khắc” giữa
một số hoặc tất cả các giai tầng hoặc giai cấp xă hội. Các nhóm xă
hội có ư thức “đấu tranh giai cấp” mạnh mẽ nhất là các doanh gia tư
nhân (100%) và các công nhân bị sa thải (90,5%). Tại hai thành phố
Thiên Tân và Chân Ninh, tỉ lệ phần trăm các công nhân kỹ nghệ được
thăm ḍ than phiền về lợi tức “bất b́nh đẳng” tương ứng với mỗi nơi
là 81% và 89%. [8] Có bằng chứng ngày càng nhiều là sự đối kháng
giai cấp không c̣n chỉ nằm trên giấy tờ nhưng đă phát sinh những yêu
cầu đặc biệt trên căn bản giai cấp đặt ra cho nhà nước. Tại thành
phố Hạ Ph́, khoảng 85% công nhân kỹ nghệ, dù đang có việc làm hoặc
thất nghiệp, nói rằng họ muốn chính phủ đánh thuế người giàu nặng
hơn và tăng trợ cấp xă hội cho người nghèo; ngược lại các doanh gia
tư nhân th́ phản đối cả hai ư tưởng đó với tỉ lệ 3 chống 1. Tại
thành phố Hán Xuyên, 84.4% người lao động nông nghiệp khẩn khoản yêu
cầu có những biện pháp tái phân phối có hiệu quả để điều hướng sự
bất b́nh đẳng lợi tức. [9]
Sinh hoạt chính trị và các giai cấp mới
Như lịch sử cho thấy, phát triển tư bản chủ nghĩa có thể sinh ra
những nhóm xă hội thúc đẩy cho dân chủ. Dân chủ cũng có thể phát
sinh như là phó sản của cuộc đấu tranh giữa các nhóm xă hội khi
không một giai cấp đơn độc nào có thể giành được quyền lực, do đó
tất cả các giai cấp đều đồng ư về những nguyên tắc cạnh tranh. Liệu
Trung Quốc hiện có một giai cấp hoặc nhiều giai cấp thân dân chủ
không? Liệu có thể tiến tới một thỏa ước tạm thời (modus vivendi) để
thúc đẩy dân chủ? Để trả lời hai câu hỏi đó, chúng ta cần khảo sát
ba vấn đề liên hệ: 1) bản chất của cuộc đua tranh giữa các giai cấp;
2) mối quan hệ giữa mỗi giai cấp và nhà nước; và 3) các giai cấp
khác nhau thẩm định thế nào về những hiệu quả bắt nguồn từ các sản
phẩm dân chủ như chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chủ nghĩa đa đảng,
các cuộc bầu cử tự do, và sự cai trị của đa số.
Không giống hầu hết các giai cấp tương tự ở những nơi khác, các
giai cấp giàu có mới phất của Trung Quốc có vẻ không ủng hộ dân chủ.
Một là, sự bất ổn kinh tế và sự tuân phục chính trị bao giờ cũng là
vận may của họ; cho dù có giai cấp loại này không là thành tố phụ và
trực tiếp của các quan chức chính trị nhũng lạm đi nữa, họ vẫn phải
lệ thuộc sâu xa vào các tài nguyên đang bị nhà nước độc chiếm. Điều
độc đáo là chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc vẫn ở trong tầm kiểm soát
của ĐCSTQ và những người Trung Quốc thuộc giai cấp trung lưu làm ăn
phát đạt là nhờ thị trường thiếu sự quản lư hoàn toàn chủ động của
nhà nước nên họ có nhu cầu biến sự phát đạt kinh tế của ḿnh thành
phát đạt chính trị.
C̣n nữa, t́nh trạng xung khắc giai cấp đang tăng cường độ và sự
sợ hăi của vô số người nghèo đang dồn người giàu từ tư thế thụ động
chấp nhận chủ nghĩa toàn trị tới tư thế tích cực ủng hộ nó. Đối với
Trung Quốc, mặc dù một động lực như thế hầu như không là độc nhất,
những t́nh huống đặc biệt có khuynh hướng khích động và làm tồn tại
măi măi sự đối đầu giai cấp của Trung Quốc theo chiều hướng đưa tới
sự ḥa giải có tính dân chủ giữa các giai cấp — mà không dính dáng
ǵ tới sự h́nh thành một liên minh của nhiều giai cấp và thân dân
chủ — th́ rất không chắc sẽ xảy ra.
Trường hợp Trung Quốc phù hợp với kiểu mẫu đấu tranh giai cấp cổ
điển của số ít người giàu chống lại số đông người nghèo. Tuy thế,
tại Trung Quốc, sự tập trung cao độ tài sản làm người giàu có sức
mạnh vượt trội trong cuộc đấu tranh ấy cho dù sự ít ỏi về số lượng
khiến họ cảm thấy ḿnh yếu và dễ bị thương tổn khi đối mặt với khối
đa số người nghèo. Trong các cuộc phỏng vấn của tôi với những người
Trung Quốc phát đạt, họ phô bày mối thiện cảm đáng kể khi dân chủ
được coi ngang với sự cai trị của luật pháp. Khi dân chủ được định
nghĩa chủ yếu như là sự cai trị của đa số, mối thiện cảm ấy trở
thành nghi ngại. Và khi mô tả thêm nữa về sự cai trị của đa số, như
một tṛ chơi đơn giản bằng các con số trong đó con số lớn nhất sẽ
lập chính sách th́ hầu hết họ không thể chấp nhận. [10]
Khoảng thời gian ngay trước cuộc dân chủ hóa tại Đài Loan và Nam
Hàn, sự truyền bá sâu rộng về các phúc lợi của tăng trưởng kinh tế
đă làm tăng thêm các giai cấp trung lưu một cách có ư nghĩa và làm
giảm giai cấp lao động truyền thống và giai cấp “hạ cấp”. Cấu trúc
giai cấp mới này thuận lợi cho dân chủ v́: 1) làm dịu sự đối kháng
giai cấp cùng khuynh hướng đi theo chủ nghĩa cực đoan chính trị của
nó; 2) làm cho giai trung lưu đông đảo ngày nay có thể h́nh dung
rằng, trong hoàn cảnh dân chủ, nó là kẻ có khả năng chiến thắng hoàn
toàn.
Chẳng bao lâu, cuộc phát triển tư bản tại Trung Quốc không phát
sinh những kết quả giống như thế. Có nhiều khả năng thế hệ hiện nay
của những người Trung Quốc giàu có hơn sẽ tiếp tục nh́n những mạo
hiểm dân chủ hóa là quá nặng cho phúc lợi của họ. Ai cũng biết rằng
đại đa số người Trung Quốc thiếu học đều ít có hy vọng làm cho ḿnh
trở thành giai cấp trung lưu và rằng người giàu sẽ tiếp tục trông
vào nhà nước toàn trị để bảo vệ tài sản của ḿnh. Lại càng cần phải
tạo sự bảo vệ của nhà nước hơn nữa khi t́nh trạng phân cực kinh tế
xă hội ngày càng tồi tệ khiến người nghèo có quan điểm chính trị cực
đoan, do đó làm cho người giàu hoảng sợ thêm lên. [11]
Trong lúc các giai cấp giàu có chống lưng cho sự ổn định của chế
độ toàn trị, các giai cấp thấp hơn dường như đang đi tới đối lập với
chế độ. Nhưng họ không kêu gào dân chủ mà chỉ biểu lộ xu hướng cách
mạng bằng h́nh thức các cuộc biểu t́nh hoặc nổi loạn trên đường phố
mà mới đây đă trở thành bạo động hơn và có tổ chức hơn. Sự đột phá
có tính cách mạng ấy tới lượt nó gây lo lắng cho người giàu có và
kéo họ vào với nhau để chống lại sự trao quyền cho quần chúng, và
kết chặt một liên minh giữa người giàu có và chế độ để “ủng hộ sự ổn
định”.
Tại Trung Quốc, sự cực đoan hóa của người nghèo có thể có những
cội rễ sâu xa hơn sự nghèo nàn vật chất. Những chênh lệch lợi tức
khó biện minh hơn ở Trung Quốc nơi có truyền thống mạnh mẽ về chủ
nghĩa b́nh đẳng. Nếu t́nh trạng thù nghịch của người giàu và người
nghèo vẫn c̣n là vấn đề giữa các giai cấp xă hội th́ không nhất
thiết nó sẽ leo thang thành bạo động hay cách mạng như từng được xác
nhận qua kinh nghiệm của một số xă hội tư bản, nơi vai tṛ chủ yếu
của nhà nước (điển h́nh là nhà nước toàn trị) là làm trung gian ḥa
giải giữa các giai cấp đang đấu tranh nhau. Nhưng mọi sự đó sẽ thay
đổi nếu chế độ đó bắt đầu trở thành nguyên ủy của đau khổ và bất
b́nh của quần chúng. Tại Trung Quốc, nỗi đắng cay v́ lỗ hổng lợi tức
đang nung nấu cảm xúc chống chế độ v́: 1) các quan chức thất bại
trong việc hạn chế nạn tham nhũng, nguồn cội của rất nhiều lợi tức
phi pháp; và 2) chế độ đă làm quá ít trong công tác xóa đói giảm
nghèo. Trong bối cảnh Trung Quốc, sự thất bại thứ hai ấy đặc biệt
gây tổn thương cho tính chính thống của chế độ. Với truyền thống phi
dân chủ, với các phương thế không được luật pháp công nhận để người
nghèo tổ chức và nói lên những bất b́nh của họ và với một lịch sử đế
chế trong đó các triều đại bị lật đổ bởi cách mạng, th́ chỉ ngạc
nhiên chút ít việc Trung Quốc đang chứng kiến một số hành động cực
đoan do bởi hàng triệu người bất măn.
Những chọn lựa của chế độ
Các lănh tụ của ĐCSTQ nắm ch́a khóa tương lai chính trị Trung
Quốc. Nếu họ tiếp tục từ chối giải phóng hóa và cải cách dân chủ th́
đại bộ phận nhân dân sẽ vượt qua cơn sợ và tiếp theo đó hoặc sẽ lâm
vào t́nh trạng vô chính phủ hoặc sự cai trị của ĐCSTQ sẽ kết liễu.
Cả hai nỗi sợ ấy hiện được chứng minh. Các lănh tụ nhận ra đang có
nguy cơ v́ lỗ hổng lợi tức ngày càng rộng nhưng họ thiếu năng lực để
đưa ra giải pháp lâu dài. Chế độ không thể chấm dứt t́nh trạng ung
thối của hầu hết các kỹ nghệ quốc doanh cũng như không có các cơ chế
đủ hiệu năng để chế ngự tác phong luồn lách hoặc trộm cướp của cán
bộ địa phương. Các công ty quốc doanh thua lỗ đang ḅn rút hết ngân
sách nhà nước. Một hệ thống thuế má mới làm
lợi cho địa phương th́ chính trung ương phải trả giá, gây trở
ngại thêm cho Bắc Kinh trong việc lập mạng lưới an sinh xă hội cho
cả nước. Trong những t́nh huống như thế, nếu nhà nước muốn làm chậm
lại hoặc chấm dứt t́nh trạng gia tăng mạnh mẽ sự bất b́nh đẳng lợi
tức, nó sẽ phải chuyển chi phí xóa đói giảm nghèo qua cho người giàu,
do đó, nó đứng về một phe trong cuộc xung khắc giai cấp.
V́ ĐCSTQ tự tuyên bố ḿnh là giai cấp lao động nên việc “cướp của
người giàu chia cho người nghèo” — triệt phú trợ bần — là một chọn
lựa hợp lô-gic. Nhưng không nhiều th́ ít, giới lănh đạo dường như
bác bỏ giải pháp đó, không chỉ v́ giai cấp giàu có mới phất “hối lộ”
lănh đạo Đảng hoặc nói cách khác, đạt được ảnh hưởng chính trị trực
tiếp mà c̣n v́ nền kinh tế tư nhân và các giai cấp điều hành nền
kinh đó đă trở thành niềm hy vọng độc nhất cho sự tăng trưởng liên
tục. Trung Quốc hiện nay sở hữu hơn một nửa GDP từ các công ty quốc
doanh. Năm 1998, kinh tế tư nhân trả 46% tổng số tiền thuế cả nước
[12] . Trong các năm vừa qua, vốn tư nhân được kết toán là 35% tổng
số đầu tư nhưng đóng góp tới 60% vào sự tăng trưởng GDP của Trung
Quốc [13] . Người ta ước lượng tới năm 2004, kinh tế tư nhân sẽ lên
tới 60% nền kinh tế quốc gia và thuê mướn 75% lực lượng lao động của
Trung Quốc. [14]
Với việc giai cấp kinh doanh không muốn chuyển giao thêm của cải
của nó, nhà nước đảng trị sẽ không có khả năng phân phối thêm lợi
tức cho người nghèo trước khi khổ nạn gia tăng. Để duy tŕ thành
tích tốt của toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc và nâng cao tính cạnh
tranh bén nhạy của nó — điều kiện tiên quyết cho sự sống sót của chế
độ — nhà nước đảng trị phải đứng chung hàng ngũ với tư bản và theo
đuổi chính sách khuếch tán lợi ích đầu tư [15] , hoặc cách khác, cố
gắng làm thế nào để cân bằng quyền lợi của các giai cấp đối kháng
nhau. Về điểm này, dường như chủ nghĩa thựïc dụng kinh tế tuyệt đối
đang thúc ép chế độ của ĐCSTQ lấy các giai cấp giàu có làm căn bản
ủng hộ của nó, và chọn ổn định hơn là cải cách thêm nữa.
Quyền lực trung ương chống quyền lực địa
phương
Để sang một bên những lợi ích chung chia giữa nhà nước đảng trị
và các giai cấp giàu có mới phất, người ta chưa có thể kết luận sớm
sủa rằng cả hai đang xây dựng một liên minh bền chặt. Một phần v́
các căng thẳng nội bộ của nhà nước cộng sản đảng trị giữa trung ương
và các bộ phận địa phương khác nhau. V́ trên thực tế, giới cầm quyền
địa phương của ĐCSTQ từ lâu đă đứng chung hàng ngũ với người giàu:
thí dụ, trong các tranh chấp lao động, đặc thù của chính quyền địa
phương là đứng về phía tư bản. Trong thế cộng sinh gần như chẳng cần
che đậy giữa cán bộ địa phương và doanh nghiệp tư nhân th́ phía thứ
hai này cung cấp phần lớn thu nhập của chính quyền bằng việc trả
thuế và thuê nhân công; thường xuyên tham gia, một cách quyết định,
vào công cuộc phát triển kinh tế xă hội địa phương mà thành bại của
nó là một trong những tiêu chuẩn chủ yếu cho sự thăng quan tiến chức
của cán bộ. Tới lượt ḿnh, cán bộ đánh thuế nhẹ hơn, cung cấp hợp
đồng và cho vay mượn tiền của chính quyền, để thông thường nhận lại
không chỉ sự đề bạt chức vụ mà c̣n những cổ phần thật sự lấy từ lợi
nhuận kinh doanh.
Về phần nhà nước trung ương th́ dây liên kết với giới tư bản giàu
có phải được duy tŕ dù có cảm thấy gớm ghiếc tới mấy đi nữa. Có
những dấu hiệu gợi cho thấy cấp lănh đạo chóp bu vẫn không quyết
định chính xác rằng dây liên kết ấy nên thân cận tới đâu và công
khai như thế nào. Bên trong hàng ngũ thượng đỉnh của ĐCSTQ vẫn hiện
hữu nhóm “khuynh tả” (chống chủ nghĩa tư bản) mà tiếng nói của họ
không thể bị hoàn toàn bỏ lơ. Để tránh những ǵ làm cho người nghèo
xa lánh thêm, các lănh tụ hiện nay quyết định lưu giữ sự cam kết
chính thức của ĐCSTQ với xă hội chủ nghĩa cùng tư thế “đảng của giai
cấp lao động”, và thêm ngân khoản xóa đói giảm nghèo dù sự gia tăng
ấy không đủ để thu hẹp hoặc thậm chí giữ yên lỗ hổng lợi tức đang
rộng thêm.
Sự thiếu năng lực tài chánh và chính trị của ĐCSTQ trong việc
giảm thiểu t́nh trạng phân cực kinh tế xă hội đang trở thành một
trong những lư do chủ yếu khiến cuộc phát triển tư bản tại Trung
Quốc không nhất thiết dẫn tới dân chủ hóa (ít nhất qua mọi mặt diễn
tiến trong một tương lai gần). Khi nghèo đói và bất b́nh đẳng lợi
tức tiếp tục càng ngày càng thêm tồi tệ, biến chính quyền thành mục
tiêu sôi sục phẫn nộ của quần chúng th́ đang lờ mờ hiện ra t́nh thế
cách mạng. T́nh thế đó gây kinh hoàng giới lănh đạo ĐCSTQ cũng như
các giai cấp giàu có, và làm khuynh hướng chống dân chủ của họ thêm
kiên định. V́ chế độ đảng trị của ĐCSTQ không chịu tái điều hướng
ngân sách, rút bớt chi phí dành cho các dự án quân sự cùng các dự án
khác, nên nó chỉ có thể tái phân phối lợi tức bằng cách “rút tỉa của
người giàu”. Nhưng chế độ không dám đi quá xa theo chiều hướng ấy v́
e rằng việc đó có thể làm xẹp các động lực tăng trưởng kinh tế liên
tục của Trung Quốc. Cũng có thể v́ người giàu, đặc biệt ở cấp địa
phương, đang sở đắc những ảnh hưởng quan trọng lên chính sách. Càng
triển khai cuộc cải cách theo định hướng tư bản chủ nghĩa th́ người
giàu càng có thêm của cải, có ảnh hưởng hơn và quyền lực hơn. Nhà
nước dĩ nhiên cũng có lợi v́ thu nhập gia tăng khiến nhà nước có
thêm tiền do bởi tăng thêm tiền thuế. Nhưng đồng thời nhà nước lại
càng phải dựa thêm nữa vào người giàu khiến nó lại càng ít có vẻ sẽ
có một sự tái phân phối nào đó do nó chi trả. Hậu quả là, Trung Quốc
có thể bị mắc kẹt trong ṿng lẩn quẩn của trấn áp chính trị và thôi
thúc cách mạng củng cố lẫn nhau trong t́nh trạng xung khắc giai cấp
ngày càng sâu sắc tới độ ngăn không cho xảy ra một cuộc khai mở
chính trị êm thắm.
----------------
An Chen (Trần An, 陳安) - tiến sĩ Đại học Yale, phó giáo sư môn
khoa học chính trị, Đại học Quốc gia Singapore, từng là thành viên
nghiên cứu của Viện Khoa học Xă hội Trung Quốc. Ông là tác giả cuốn
Restructuring Political Power in China: Alliances and Opposition,
1978-1998 (1999)– Tái cấu trúc quyền lực chính trị tại Trung Quốc:
Các liên minh và đối lập, 1978- 1998.
[1]Ruth Brins Collier, Paths Towards Democracy: The Working Class
and Elites in Western Europe and South America – Những con đường
tiến tới dân chủ: giai cấp lao động và giới tinh hoa tại Tây Âu và
Nam Mỹ (New York: Cambridge University Press, 1999), 188.
[2]Weber có ư nói tới chính quyền này như là một chính quyền “lấy
sự thống trị làm căn bản chính thống.” Xem H.H. Gerth và C. Wright
Mills, biên tập, From Max Weber: Essays in Sociology – Tuyển Max
Weber: các luận văn xă hội học (New York: Oxford University Press,
1946) 78-79. Có vẻ an toàn khi nói rằng ngày nay, chính quyền này có
chút ǵ đó nhạt nḥa, đặc biệt nơi các mảng của xă hội Trung Quốc mà
người ta thấy bị nhiều ảnh hưởng của phương tây. Nhưng có khuynh
hướng ngược lại. Quá khứ toàn trị và gần như tất cả những ǵ dính
líu tới nó đều được giữ cho tươi nhuận trở lại bằng một t́nh trạng
dồi dào các tác phẩm văn học, phim ảnh, tuồng tích vô tuyến truyền
h́nh tŕnh bày sinh hoạt chính trị của các vua chúa xa xưa. Ám ảnh
người dân b́nh thường
bằng những câu chuyện mô tả đời sống của các hoàng đế Trung Hoa,
những âm mưu cung đ́nh cùng với những sự khác, gợi lên ảnh hưởng có
thật và sự có mặt khắp nơi của truyền thống chính trị và văn hóa
Trung Hoa.
[3]Xem Lu Xyeyi, biên tập. Dangdao Zhonguo Shehui Jieceng Yanjiu
Bangao - Báo cáo về cuộc nghiên cứu các giai tầng xă hội đương đại
Trung Hoa (Beijing: Shehui Kexue Wenxian Chubanshe, 2002), 160-98.
[4]An Chen, “Capitalist Development, Entrepreneurial Class, and
Democratization in China, Political Science Quartely 117 – Phát
triển tư bản, giai cấp doanh gia và dân chủ hóa tại Trung Quốc, Quí
san Khoa học Chính trị số 117” (Mùa thu 2002), 401-22 . Thẩm định
này dựa trên những tính toán của tôi lấy từ các dữ kiện tiêu biểu
cùng các thống kê chính thức.
[5]Xem Long Hua, “Zhonguo Zhenzhi Fazhan Keneng Yinqi de Shehui
Wenti, Xin Bao – Các vấn đề xă hội mà phát triển chính trị của Trung
Quốc có thể đem tới, Tân Báo”, (Hongkong Economic Journal), số 13
tháng Chín 2000, 20; “Chang Xinghua, Jinji Biange Zhongde ‘Heixiang’
– ‘Hộïp đen’ trong cuộc chuyển thể kinh tế”. (Zhuhai, Guangdong:
Zhuhai Chubanshe, 1998), 202.
[6]World Band, World Development Indicators 2000 – Biểu đồ phát
triển trên thề giới năm 2000 (Washington D.C.), 66.
[7]Xinhua News Agency – Tân Hoa Xă, 11 tháng Ba 2002.
Theo báo cáo mới nhất về chỉ số Gini th́ Trung Quốc (44.7, 2001),
Việt Nam (36.9, 2002). Wikipedia Encyclopedia – www.wikipedia.org –
ghi thêm của người dịch
[8]Lu Xueyi, biên tập, Dangdai Zhongguo, 42-43, 80.
[9]Lu Xueyi, biên tập, Dangdai Zhongguo, 115
[10]Những cuộc phỏng vấn và thăm ḍ này được xúc tiến tại năm
tỉnh của Trung Quốc từ năm 1998 tới 2000.
[11]Như Edward N. Muller quan sát, mức độ cao về bất b́nh đẳng
lợi tức th́ bất lợi cho dân chủ hóa v́ sự bất b́nh đẳng cực độ khiến
giai cấp lao động “dễ mắc vào những yêu cầu cách mạng có tính xă hội
chủ nghĩa, mà sẽ ngăn chặn một sự liên minh thân dân chủ rộng răi
của giai cấp lao động và giai cấp trung lưu.” Xem Edward N. Muller,
“Economic Determinants of Democracy – Yếu tố quyết định có tính kinh
tế của dân chủ,” trong Manus I. Midlarsky, biên tập, Inequality,
Democracy and Economic Development – Bất b́nh đẳng, dân chủ và phát
triển kinh tế (New York: Cambridge University Press, 1997), 133-55.
[12]“Feigong Jingji Nashui zhan Zhongguo Banbi Jiangshan – Tiền
thuế thu từ khu vực phi quốc doanh chiếm một nửa tổng thu nhập từ
thuế của Trung Quốc, Qianshao - Tiền đạo số 104 (tháng Chín 1999):
135.
[13]Wang Jiahang, “Minying Qiye Chengwei Ziben Shichang
Xinliangdian – Các công ti tư nhân trở thành ngọn đèn pha mới trong
thị trường tư bản”, có sẵn trên mạng tại địa chỉ
www.peopledaily.com.cn, 10 tháng Chín 2002.
[14]Dexter Robert và những tác giả khác, “China’s New Capitalism
– Chủ nghĩa tư bản mới của Trung Quốc,” có sẵn trên mạng tại địa chỉ
www.businessweek.com (BusinessWeek Online)
[15]một chính sách đặt căn bản trên lư thuyết kinh tế rằng nguồn
tài chánh đổ vào kinh tế, đặc biệt từ chính phủ, sẽ kích thích tăng
trưởng nhờ phân phối qua các doanh nghiệp lớn, hơn là qua những phúc
lợi trục tiếp như trợ cấp xă hội hoặc các công tŕnh công cộng,v.v.
— ghi chú của người dịch

Bài 4 : Những
vấn đề yếu ớt của nhà nước
Shaoguang Wang (Vương Thiệu-quang, 王 紹 光) -
Nguyễn Ước dịch
Vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, khi “đợt sóng thứ
ba” của dân chủ hóa quét lên hầu hết quả đất th́ đă có sự tin tưởng
rộng răi giữa các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính
sách rằng cải cách dân chủ sẽ dẫn tới t́nh trạng nhà nước co lại
hoặc bị trung ḥa.
Thế nhưng sau một thập niên quá đổi nhấn mạnh tới việc kiềm chế
nhà nước, nh́n vào bản đồ chính trị thế giới lại thấy có quá nhiều
chế độ dân chủ giả mạo hoặc bất toàn, và thậm chí c̣n có một số
trường hợp “dân chủ lộn ngược” tận gốc rễ.
Rồi cũng khá ngạc nhiên là nhiều nhà nghiên cứu đi tới việc thấy
rằng khả năng đứng vững và hiệu năng của các định chế nhà nước là
thiết yếu cho những viễn ảnh để có dân chủ. Như Samuel P. Huntington
ghi nhận rằng “phải có chính quyền trước đă rồi mới có thể giới hạn
nó.” [1] Chính quyền có dân chủ ra sao đi nữa không là vấn đề, nếu
nó không thực hiện nổi những chức năng căn bản của một nhà nước th́
nhân dân cũng chẳng thu được phúc lợi ǵ từ nó.
Bởi thế, một chế độ dân chủ có khả năng và có hiệu năng sẽ là một
hỗn hợp của các định chế có năng-lực-nhà-nước và các định chế có
tính dân chủ. Cái đầu làm cho nhà nước có năng lực cai trị trong khi
cái sau làm cho người dân có thể giữ cho nhà nước có tinh thần trách
nhiệm.
Một ngụ ư thêm nữa là, trong nhiều trường hợp, dân chủ hóa liên
quan tới hai quá tŕnh tách biệt nhau:
1. quá tŕnh chuyển tiếp từ chế độ phi dân chủ tới chế độ có
nhiều hoặc có ít dân chủ, và
2. quá tŕnh thiết lập hoặc tái thiết lập nhà nước — nghĩa là
thật nông nổi cho xứ sở nào mà trong thời gian chuyển tiếp, lại hủy
hoại hoặc làm suy yếu các năng lực thiết yếu của nhà nước.
Những yếu tố thiết yếu của một nhà nước hiệu năng
Để cai trị hữu hiệu, nhà nước phải có đủ khả năng thực hiện sáu
chức năng quan trọng sau đây:
1. Giữ độc quyền sử dụng sức mạnh hợp pháp
Theo định nghĩa của Max Weber, trắc nghiệm căn bản về chủ quyền
quốc gia là chính quyền của quốc gia đó có thể hoặc không thể tuyên
bố độc quyền sức mạnh trên lănh thổ theo pháp quyền của nó, với các
lực lượng quân sự và các cơ quan công an cảnh sát có khả năng đẩy
lùi kẻ thù quốc ngoại và bảo vệ trật tự quốc nội. Ở đây, tôi muốn
nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phát triển một lực lượng công an
cảnh sát chuyên nghiệp, tháo vát, tận tâm, có kỷ luật, mặc đồng phục,
và được cai quản bởi luật pháp. Điều thú vị là, dù các chế độ đàn áp
thường được gọi là “quốc gia cảnh sát trị”, xét theo tỉ lệ công dân
th́ thật ra chúng có khuynh hướng có ít cảnh sát hơn so với các xă
hội tự do là nơi có lực lượng cảnh sát đông đảo hơn và bị kiềm chế
hơn.
2. Thu hút tài nguyên
Cũng như con người không thể sống nếu không có máu, nhà nước
không thể vận hành nếu không có thu nhập từ thuế. Chính tài nguyên
có sẵn ấy cho phép nhà nước thực hiện những công tác khác. Trong ư
nghĩa ấy, một chính phủ hiệu năng phải có khả năng thu hút từ xă hội
các tài nguyên đủ dùng, gom các tài nguyên ấy thành vốn liếng chung
của quốc gia và dùng chúng cho những mục đích quốc gia. Nếu một nhà
nước không có khả năng về mặt tài chánh th́ nó không thể hiệu năng.
3. H́nh thành bản sắc quốc gia và huy động sự đồng thuận
Duy tŕ trật tự bằng cưỡng bách mà thôi th́ không thể thực hành
về lâu về dài. Phải có một số bản sắc và giá trị được chia sẻ chung,
vượt quá những quan hệ địa phương hoặc thân tộc và kết chặt xă hội
lại như một tổng thể. Lịch sử mới đây của vùng Balkans, Rwanda,
Indonesia và các phần của khối Sô-viết cũ nhắc nhở chúng ta rằng sự
thiếu vắng một bản sắc quốc gia bao trùm xă hội có thể là một lực ly
tâm đáng sợ. Nhà nước cũng cần một khối công dân được xác định đặc
điểm bởi sự đồng nhất luân lư trong chung một đường biên nhất định —
một chuỗi các nguyên tắc ṇng cốt vượt quá bản sắc quốc gia đơn
thuần — nếu nó mong muốn cai trị mà không phải viện tới sự cưỡng
bách quá mức và phí tổn quá đắt.
4. Điều chỉnh xă hội và kinh tế
Xă hội hiện đại đầy dẫy những rủi ro do kỹ nghệ, thương mại, đô
thị hóa và bất cân đối của quyền lực và thông tin đem lại. Do đó, để
bảo vệ nhân dân và môi sinh, nhà nước cần thông qua những luật lệ
tác động lên nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế và xă hội bao quát
từ cân đo đong đếm tới chất lượng của thực phẩm và dược phẩm, các
định chuẩn an toàn, và thậm chí quyền và bổn phận của cha mẹ. Chắc
chắn sẽ diễn ra bất tận các cuộc tranh luận về ranh giới thích đáng
của việc “nhà nước điều chỉnh”, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng
hết thảy các xă hội hiện đại có qui củ và hợp lư th́ đều được điều
chỉnh cao độ, dù nó dân chủ hay không.
5. Duy tŕ tính nhất quán nội bộ của các định chế nhà nước
Nhà nước hiện đại cần một bộ máy thư lại có hiệu năng, nghĩa là
một chuỗi các tổ chức lớn rộng và phức tạp với các cơ quan mà bánh
răng cưa của chúng phải ăn khớp nhau. Không thể cho phép các khuynh
hướng thư lại nói chung “xem cơ quan ta là nhất” hoặc tham nhũng
hoặc sự thiếu năng lực của cá nhân viên chức lên tới điểm xem rẻ
tính nhất quán nội bộ của chính guồng máy quản trị của nhà nước.
6. Tái phân phối tài nguyên
Sự tái phân phối th́ liên quan tới sự tái phân cấp các tài nguyên
hiếm hoi cho các nhóm xă hội khác nhau. Mục đích của nó là cung cấp
cơ hội may mắn tối thiểu với sự an toàn kinh tế cũng như ngăn chặn
sự bất ổn chính trị vốn có khuynh hướng làm điêu đứng xă hội nào
đang có những chênh lệch lớn lao về của cải và các cơ hội quá ít
hoặc hoàn toàn không có để biến đổi xă hội. Một chính sách tái phân
phối vừa phải sẽ khiến nhà nước có khả năng duy tŕ trật tự xă hội
và gia tăng tính chính thống của nó.
Khủng hoảng cai trị tại Trung Quốc
Đo lường bằng sáu tiêu chuẩn kể trên th́ nhà nước-Đảng Cộng Sản
Trung Quốc (ĐCSTQ) là một nhà nước yếu ớt. Nó xâm nhập sâu xa bằng
những yêu sách cực độ về quyền lực và t́m cách đi sâu vào mọi xó
xỉnh của xă hội, nhưng xâm nhập không có nghĩa là hiệu năng. Thực tế,
một nhà nước xâm nhập có thể tồi trong việc lập và thực hiện chính
sách và cả trong việc xử lư công tác quản lư thường lệ. Hai thập
niên rưỡi cải cách trên căn bản thị trường của một Trung Quốc đang
hội nhập thật sâu vào nền kinh tế thế giới và phát đạt chưa từng
thấy chỉ làm lộ rơ thêm sự “thâm thủng năng lực” của nhà nước, như
một điềm gở. V́ kinh tế và chính trị của Trung Quốc ngày càng phức
tạp và thông thoáng hơn bao giờ nên các định chế quản trị và chính
trị của xứ sở bị tụt hậu hơn bao giờ. Quả thật có vô số dấu hiệu chỉ
rơ rằng Trung Quốc đang lâm vào cuộc khủng hoảng sâu xa và thậm chí
quá tải về cai trị tới độ chứa đựng từng tiêu chuẩn và gồm đủ cả sáu
tiêu chuẩn kể trên.
Dấu hiệu thứ nhất của khủng hoảng về cai trị là t́nh trạng vô
luật lệ đang đe dọa cao độ tại Trung Quốc. Con số hàng năm các tội
ác có báo cáo, tính theo tỉ lệ 10.000 người, bùng nổ từ 5,5 trong
năm 1978 tới 28,8 năm 2000. Mức độ tội phạm có bạo lực thậm chí tăng
nhanh hơn, đăc biệt trong mấy năm vừa qua. Trên cả nước, các cơ quan
thi hành luật pháp không thể đối phó v́ thiếu nhân lực, thiếu ngân
khoản và thiếu tái trang bị. Lối tiếp cận để ngăn chặn tội ác theo
kiểu Mao-ít lấy địa bàn khu phố và thôn xóm, với các ban giám sát
hoạt động từng đơn vị, đều không c̣n hữu hiệu trong một xă hội rộng
lớn với số dân di động ngày càng tăng. Với chỉ một viên chức phục vụ
cả ngàn dân cư, Trung Quốc là một trong những quốc gia cảnh sát trị
thưa thớt nhất thế giới. Tại các địa phương nhất định, các phạm nhân
quả thật đông hơn và nhiều súng hơn, đă hạ sát các viên chức; trong
năm 2001, 443 viên chức bị giết trong lúc thi hành nhiệm vụ. Một số
cơ quan công an địa phương là đối tượng xâm nhập của người phạm pháp,
hoặc bị hối hộ, trở thành nơi cung cấp sự bảo vệ (có trả tiền) cho
băng đảng đang hoành hành trên đường phố và phạm pháp mà không bị
trừng phạt.
Tài chính công cộng của Trung Quốc th́ hỗn loạn. Gánh thuế má nói
chung vẫn nặng nề, đặc biệt đối với nông dân; thậm chí tại miền
trung Trung Quốc, nhiều cơ quan cấp huyện và thị xă không trả nổi
tiền lương và tiền hưu bổng đều đặn hoặc ngay cả việc cung ứng các
dịch vụ công cộng cơ bản. Trong những năm vừa qua, tổng số tiền thu
nhập từ thuế của chính quyền trung ương b́nh quân rất thấp, 8% tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc ít hơn, để lại một Bắc Kinh rơ ràng là
không có khả năng thực hiện nhiều chức năng quản lư quan trọng, kể
cả việc tài trợ một lực lượng công an hiện đại. Thêm nữa, con số
thống kê năm 2000 cho thấy tiền thu thuế chính thức của các cơ quan
mọi cấp chỉ bằng khoảng 15% GDP trong khi cái gọi là tiền thu thuế
không chính trức th́ gia tăng theo h́nh trôn ốc, và hiện nay, nó có
khả năng nhiều gấp hai lần rưỡi tổng số tiền thu thuế chính thức.
Không một xứ sở nào trên thế giới này bị xem là có quá nhiều nguồn
tài chánh công cộng đi vào các tài khoản ngoại ngân sách như thế.
Được thu nhân danh nhà nước nhưng chỉ bị kiểm soát qua loa so với
tiền thu thuế chính thức; tiền thu thuế không chính thức cung cấp
dồi dào cơ hội cho việc hối lộ và làm hư hoại viên chức.
Tại Trung Quốc, bản sắc quốc gia không phải là chủ đề được giải
quyết một cách đầy đủ nhưng nó đặt ra sự đe dọa lớn lao cho sự toàn
vẹn lănh thổ của đất nước. Chỉ ở vùng Tây Tạng và Tân Cương là yêu
cầu ly khai có được sự ủng hộ của dân chúng tới một mức giới hạn nào
đó. Điều nguy hiểm hơn cả là sự trống rỗng tâm linh của một xứ sở có
1,3 tỉ linh hồn. Sau ngày thành lập nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa
(CHNDTH) năm 1949, chủ nghĩa Mao cố ư tỏ ra là ḿnh đưa ra một mục
đích có ư nghĩa cho cuộc sống. Dù không biết nó có từng thật sự làm
như thế hay không, nhưng ngày nay, rơ ràng là sự gia tăng của thương
mại và thị trường đă thu nhỏ chủ nghĩa Mao tới mức c̣n bé hơn cái vỏ
ốc của chính nó ngày trước. Khi các chênh lệch xă hội rộng thêm,
tham nhũng và bất an tăng cao trong thời kỳ đổi thay chóng mặt, hàng
triệu người Trung Quốc thấy thế giới chung quanh ḿnh tàn bạo, bất
thân thiện và trống rỗng ư nghĩa. Nhiều người trở nên hoài nghi yếm
thế. Những người khác khao khát một dây neo tâm linh, ao ước cái có
vẻ như “những ngày tốt lành” thời Mao hoặc lũ lượt kéo nhau tới với
các tôn giáo được thành lập chính thức như Thiên Chúa giáo và Phật
giáo hoặc các giáo phái mới, thí dụ Pháp Luân Công mà đă bị chính
thức cấm.
Sự mỏng manh của nhà nước Trung Quốc cũng được biểu lộ trong năng
lực điều chỉnh không thỏa đáng và đáng buồn của nó. T́nh trạng làm
đồ giả mạo tràn lan là một thí dụ gây ấn tượng mạnh. Gần như bất cứ
cái ǵ cũng có thể bị làm giả, không chỉ đồng hồ Rolex mà thậm chí
cả hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, dược phẩm, máy móc nông
nghiệp, con dấu nhà nước, thẻ chứng minh nhân dân, hộ chiếu, nhăn
kiểm tra ô-tô, biên lai thuế, bằng cấp đủ loại, giấy hôn thú, giấy
chứng nhận công nhân viên, hồ sơ thuế hải quan, sổ ngân hàng, bạc
cắc, sách Harry Potter, huy chương Cúp bóng đá Thế giới, và thêm nữa.
Văn bằng đại học thông dụng tới nỗi thống kê năm 2000 ghi nhận rằng
con số người có văn bằng cao đẳng hoặc đại học năm đó nhiều hơn số
người thật sự tốt nghiệp tới khoảng 600.000 người. Thậm chí có những
người mặc đồng phục của công an mà có thể không là công an thật.
Trong năm năm vừa qua, chính phủ khám phá ra gần 320.000 bộ đồng
phục, huy hiệu công tác, xe và vũ khí của công an, và phát hiện được
10.000 công an dỏm. Năm 2001, có 192.000 người tử nạn sau khi dùng
dược phẩm giả hoặc chất lượng quá kém. Bất chấp các nỗ lực của chính
quyền đưa tới việc đóng cửa 1.300 xí nghiệp dược, hay là một nửa của
toàn bộ kỹ nghệ ấy, năm đó, trong sáu tháng đầu của 2002, có thêm
70.000 cái chết v́ dược phẩm đểu.
Hăi hùng chẳng kém những con số kể trên là càng ngày càng có thêm
người chết v́ sự bất lực của nhà nước trong việc điều chỉnh sự an
toàn ở nơi lao động. Con số những cái chết có báo cáo v́ tai nạn kỹ
nghệ gia tăng hằng năm tính từ đầu thập niên 1990. Chỉ riêng năm
2002, trong sáu tháng đầu, có hơn 53.000 người chết trong tổng số
450.000 vụ rủi ro mà hầu hết xảy ra tại hiện trường lao động. Gần
3.400 người chết là thợ mỏ tử nạn trong khi làm việc. Là nước sản
xuất than đá lớn nhất thế giới, sản lượng của Trung Quốc có phần cao
hơn Hoa Kỳ nhưng tỉ lệ thợ Trung Quốc chết tính theo một triệu tấn
than mỏ th́ cao hơn Hoa Kỳ 100 lần và cao hơn tỉ lệ của thế giới 20
lần. Trong suốt mấy chục năm trước đây, kỹ nghệ đó bị khống chế bởi
một số ít ỏi mỏ do nhà nước điều hành, ngày nay Bắc Kinh đối mặt với
một công tác gần như không thể làm nổi là điều chỉnh hàng ngàn mỏ
nhỏ do tư nhân làm chủ; có nhiều mỏ loại đó là cái bẫy của thần chết.
Chính quyền đă và đang giảm thiểu số lượng các mỏ mở ra từ 82.000
năm 1997 xuống khoảng 15.000 hiện nay, nhưng tai nạn tử vong vẫn c̣n
cao tới mức dễ sợ.
Nhà nước Trung Quốc thường được xem như một cỗ máy với các cơ
quan hoàn toàn ăn khớp nhau một cách êm ái. Trong thực tế, hệ thống
kiểm soát và phối hợp có tính tập trung ấy là một sự vờ vĩnh rộng
khắp. Rất gần cái tiêu điểm mà Kenneth Lieberthal dùng thuật ngữ
“chủ nghĩa toàn trị chắp vá” để xác định đặc điểm của chế độ đó. Các
vấn đề làm đồ giả mạo và tai nạn tử vong nơi lao động — vốn vẫn dai
dẳng xảy ra bất chấp những ǵ phải hoàn toàn ngay thẳng, đă được
thừa nhận khi có những chiến dịch của chính phủ trung ương triệt để
chống lại chúng —phơi bày không chỉ sự bất lực của nhà nước Trung
Quốc đối với việc điều chỉnh xă hội mà c̣n cho thấy sự bất lực của
nhà nước trong việc làm cho các viên chức của nó thực thi công tác
của họ. Một số viên chức chỉ giản dị là tham nhũng, nháy mắt với các
công ty bất lương hoặc nguy hiểm để được lại quả bằng đút lót. Các
viên chức khác, đặc biệt ở cấp địa phương chỉ đưa mắt ngó hàng triệu
người dân đang t́m việc làm và c̣n muốn góp phần đẻ ra công ăn việc
làm cho dù nó có nghĩa là chịu đựng những công việc không an toàn
hoặc tẻ nhạt. Mặt khác, chính quyền địa phương kẹt tiền, dựa vào các
hoạt động như thế để thu thuế lợi tức trong khi xem các sắc lệnh
hoặc nghị định do trung ương gởi xuống như không có, v́ chúng chỉ
giao nhiệm vụ mà không có chút nào tài trợ. Như thế, tham nhũng và
những h́nh thức bất chấp luật lệ khác tiếp tục tiến triển nhanh
chóng, và mỗi vụ tai tiếng mới là làm xói ṃn thêm nền tảng đạo đức
của chế độ.
Nh́n lại thời gian vừa qua người ta thấy cuộc cải cách tại Trung
Quốc đi qua hai giai đoạn rơ rệt. Giai đoạn một bắt đầu từ năm 1978
và kết thúc khoảng năm 1993. Trong khoảng thời gian ấy, cải cách là
một cuộc chơi “đại thắng lợi”: mọi thành phần xă hội đều được hưởng
lợi tối đa, dù một số được hưởng lợi nhiều hơn các số khác. Thế
nhưng kể từ khoảng năm 1994, nạn thất nghiệp gia tăng và t́nh trạng
bất b́nh đẳng trong xă hội nhanh chóng mở rộng, bắt đầu biến vô số
công nhân và nông dân thành những kẻ rốt cuộc là người thua cuộc,
thậm chí thua tối đa. Cuộc chơi cải cách trở thành một cuộc kinh
doanh trong đó một bên ăn cả và một bên thua trắng tay (zero-sum
affair), nghĩa là một số người này thu hoạch trong sự mất mát của
những người kia. Ngày nay Trung Quốc là một xă hội rất bất b́nh đẳng
về kinh tế xă hội hơn bao giờ hết trong lịch sử của nước CHNDTH, với
chỉ số Gini, dùng để so sánh sự bất b́nh đẳng trong phân phối lợi
tức, ở khoảng 0,43 hôm nay [cuối năm 2002] so với 0,32 vào hai mươi
năm trước, 1980.
Bất b́nh đẳng tới mức đó th́ thành vấn đề; nhà nước Trung Quốc có
thể trả lời vấn đề đó bằng một sự tái phân phối do nó chủ động nhưng
khả năng thu hút tài nguyên yếu ớt đă giới hạn trầm trọng năng lực
khiến nó không thể đóng đúng vai tṛ của ḿnh. Năm 2000, kết toán
chi tiêu của Trung Quốc cho các chương tŕnh an sinh xă hội là dưới
1,2% GDP. Chi tiêu công cộng cho giáo dục và chăm sóc y tế tổng cộng
chưa tới 3,5% GDP, một tỉ lệ thấp hơn rất nhiều so với con số tương
ứng mà người ta nhận thấy tại hầu hết các nước khác, kể cả những
nước đang phát triển. Hậu quả là, tại Trung Quốc, bất chấp nền kinh
tế đang tăng trưởng nhanh đem lại thịnh vượng cho nhiều người, các
định chuẩn đời sống bị xuống thấp trong đại bộ phận nhân dân, để lại
đằng sau nó một di sản bao gồm sự nản ḷng kỳ vọng, càng ngày càng
sa sút sự ủng hộ những cải cách dựa trên thị trường, bất măn càng
lúc càng trầm trọng, xung khắc lên cao và làm mănh liệt thêm các sức
ép lên trên nhà nước.
Hầu hết các triệu chứng của sự “thâm thủng năng lực cai trị” được
xác định ở trên th́ gần như đă lộ rơ tại vùng nông thôn miền trung
và miền tây Trung Quốc. Tại một số vùng nông thôn các định chế của
nhà nước chỉ đơn giản là ngưng làm việc, và các thị tộc cổ truyền
hoặc các băng đảng tội ác trám vào chỗ trống đó. Trong t́nh trạng
một nhà nước hiện đại không chịu làm những công tác căn bản nhất
đúng với yêu cầu đặt ra cho nó, người dân ở thôn quê càng ngày càng
thấy rằng, hơn bất cứ cái ǵ khác, nhà nước chỉ c̣n là một mối phiền
ḷng, cần né tránh nó trong cuộc vật lộn hằng ngày để sống c̣n.
Một ưu tiên mới
V́ nhà nước hiệu năng là điều kiện tiên quyết để có dân chủ, và
Trung Quốc ngày nay không có một nhà nước như thế, cho nên đối với
nó, hẳn chẳng tỉnh táo chút nào nếu đi theo sự minh triết có tính
qui ước của đợt sóng dân chủ thứ ba và quan niệm rằng muốn theo đuổi
dân chủ th́ vấn đề là phải làm suy yếu các định chế nhà nước. Sự
khủng hoảng về cai trị đang gây ra những tổn thương xă hội nghiêm
trọng; nếu vẫn để yên mà không ngăn chặn, nó có thể làm hư hại các
viễn tượng của Trung Quốc trong việc trở thành một chế độ dân chủ
đầy lông đủ cánh. Bởi lư do đó, những nhà cải cách dân chủ nên nỗ
lực làm vững mạnh các năng lực của nhà nước theo một diễn tiến dân
chủ hóa, hơn là ra sức kiềm chế quyền lực của nhà nước.
Có thêm bốn lư do khiến Trung Quốc ôm chặt việc tái thiết nhà
nước như một ưu tiên cao nhất của quốc gia. Thứ nhất, hầu hết người
dân Trung Quốc đều ao ước chính phủ càng ngày càng có năng lực hơn
trong việc thực hiện có hiệu quả các chức năng thiết yếu của nó, v́
sự vô năng lực của nhà nước đang gây tổn thương lớn lao cho t́nh
trạng lành mạnh kinh tế xă hội. Thứ hai, dân chủ tự nó không có khả
năng chữa trị sự vô năng lực của nhà nước. Cần phải thực hiện những
nỗ lực đặc biệt. Thứ ba, dân chủ — v́ nó cho phép sự khả dĩ đua
tranh rộng răi nhất, nên nói một cách chính xác, nó do đó định chế
hóa sự bất định — tích cực đ̣i hỏi một nhà nước có tính hiệu năng
cao để có thể giữ cho công việc của quốc gia tiến triển bất chấp
những khuynh đảo. Đối với một xứ sở như Trung Quốc, những thách thức
do sự tự do hóa và dân chủ hóa mang tới chỉ làm nổi bật thêm nhu cầu
ấy. Sau cùng, dân chủ hóa sẽ phóng xă các sức mạnh có khả năng đặt
sức ép lớn lao lên hệ thống chính quyền. Sự cáo chung của chủ nghĩa
toàn trị có thể đưa tới sự tan ră lănh thổ dần dần; mức tôn trọng
của nhân dân đối với chính quyền có thể tụt xuống rất thấp; những kỳ
vọng càng ngày càng cao có thể vượt quá khả năng đáp ứng của chính
quyền; sự phá sản của đảng cai trị cũ có thể để lại đằng sau nó một
chỗ trống; và các sức ép đ̣i hỏi một sự đồng dạng lớn lao hơn (kết
quả của quyền công dân được nới rộng) có thể làm phơi bày và làm
trầm trọng thêm những căng thẳng mà trước đây bị đè nén về miền địa
phương, sắc tộc, giai cấp và tôn giáo.
Dĩ nhiên nói như thế không phải có ư rằng sự khủng hoảng về cai
trị đang lập thành chứng cớ để giữ riết lấy cái nhà nước có bàn tay
sắt ấy. Trong khi nhà nước hiệu năng là điều kiện ắt có cho một nền
dân chủ ổn định, nó không chút nào là điều kiện đủ. Chiến lược tốt
nhất cho Trung Quốc là tái xây dựng một nhà nước có tính dân chủ,
nghĩa là, làm mạnh thêm năng lực cai quản thiết yếu của nhà nước
trong khi định chế hóa “sự tham gia của mọi thành phần” và “sự tranh
luận công khai”, hai đặc tính cơ bản của dân chủ mà Robert A. Dahl
đă mô tả. Ngày nay tại Trung Quốc, t́nh trạng phân cực kinh tế xă
hội, đô thị hóa cùng những gia tăng trong việc xóa nạn mù chữ, giáo
dục và sự phơi bày bằng truyền thông, đang hiệp sức nhau gây nên
khát vọng tham gia vào việc lập quyết định chung. Nếu các nhóm bên
trong xă hội không t́m được những kênh có tính định chế để qua đó họ
có thể tŕnh bày những nhu cầu và những quan tâm của ḿnh th́ sự bất
măn đang bị đè nén có thể sẽ bùng nổ thành bạo động. Để xă bớt hơi
nén này, trong suốt quá tŕnh chuyển tiếp, nhà nước phải càng ngày
càng hợp tác với các nhóm xă hội đang sở đắc ư thức chính trị và
hướng dẫn sự tham dự của họ bằng những phương cách nuôi dưỡng sự hội
nhập chính trị.
Trong ư nghĩa này, sự tham dự được định chế hóa sẽ lập nên không
chỉ một dụng cụ để làm dịu bớt sự khống chế của nhà nước mà c̣n một
van an toàn qua đó nhà nước có thể làm giảm thiểu những căng thẳng
giữa nhà nước và xă hội. Về lâu về dài, khi tính chất đa dạng và
phức tạp của các quyền lợi ngày càng ăn khớp nhau hơn th́ thời gian
sẽ tới cho xứ sở để thay thế cấu trúc độc quyền của sự câu kết quyền
lợi bằng một cấu trúc có tính cạnh tranh.
-----------
Shaoguang Wang (Vương Thiệu-quang, 王 紹 光), giáo sư môn khoa học
chính trị, Đại học Trung Hoa - Hongkong. Ông là tác giả và đồng tác
giả của trên mười cuốn sách, trong đó có: Failure of Charisma: The
Chinese Cultural Revoluttion in Wuhan – Không lôi cuốn nổi quần
chúng: Cách mạng Văn hóa tại Vũ Hán (1995); The Political Economy of
Uneven Development: The Case of China – Kinh tế chính trị của sự
phát triển không đồng bộ: Trường hợp Trung Quốc (1999); và The
Chinese Economy in Crisis: State Capacity and Tax Reform (Study on
Contemporary China) – Kinh tế Trung Quốc đang khủng hoảng: Khả năng
của nhà nước Trung Quốc và Cải cách thế má (Nghiên cứu về Trung Quốc
đương đại)-(2001); Nationalism, Democracy and National Integration
in China – Chủ nghĩa dân tộc, Dân chủ và Ḥa nhập dân tộc tại Trung
Quốc (2003)
[1]Samuel P. Huntington, Political Order in Changing Societies –
Trật tự chính trị trong các xă hội đang thay đổi (New Haven: Yale
University Press, 1968), 8. Xem thêm Adam Przeworski và những người
khác, Sustainable Democratization – Dân chủ hóa có khả năng duy tŕ
được (Cambridge: Cambridge University Press, 1995), 13; và Juan J.
Linz và Alfred Stepan, Problems of Democratic Transition and
Consolidation: Southern Europe, South America, and Post-Comminist
Europe: Các vấn đề của chuyển tiếp dân chủ và sự củng cố: Nam Âu,
Nam Mỹ và châu Âu hậu cộng sản (Baltimore: Johns Hopkins University
Press, 1996), 17.

Bài 5 :
Ổn định như núi lửa đang sôi
Hà Thanh-liên (何 清 涟 – Qinglian He) -
Nguyễn Ước dịch
Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) có thể kéo dài thêm bao lâu?
Liệu Trung Quốc có thể sụp đổ thành phân liệt hoặc thậm chí nội
chiến? Đó là những câu hỏi thách thức không dễ trả lời, và suốt mấy
năm vừa qua, tôi đă nhiều lần bị đặt cả hai câu đó, tại Trung Quốc
cũng như tại hải ngoại. Trong khi thật khó tiên liệu tương lai của
Trung Quốc một cách chính xác th́ một sự dự đoán tạm thời nào đó về
những thay đổi có tính cấu trúc là điều khả dĩ.
Trung Quốc là nước độc đảng trong đó quyền lợi của chính quyền và
của ĐCSTQ không thể tách rời nhau. Suốt những năm vừa qua, câu trả
lời độc nhất mà Đảng có trong cuộc truy lùng nhằm duy tŕ trật tự
dân sự là, “nhổ tận gốc trốc tận rễ mọi nhân tố có tiềm năng gây bất
ổn”. Đảng đă và đang cần cù hoạt động để tạo một hiện thực trong đó
không lực lượng có tổ chức nào có khả năng thay thế sự cai trị của
cộng sản. Theo quan điểm của ĐCSTQ, cái chết của Đảng chỉ mang một ư
nghĩa độc nhất, đó là cái chết của chính Trung Quốc.
Hai hệ quả tưởng như hợp lô-gic là, chúng ta phải chịu đựng sự
kiện ĐCSTQ sử dụng “cải cách” như một kỹ xảo để ngăn chặn bất ổn và
sụp đổ, và chúng ta phải chấp nhận công thức “nền kinh tế thị trường
cộng với nền cai trị toàn trị” của ĐCSTQ.
Sự xây dựng kịch bản ấy thuận lợi cực kỳ cho mục tiêu của Đảng là
ổn định tư thế của nó trong cộng đồng quốc tế, đổi lại, cộng đồng ấy
chấp nhận và thực hiện một chính sách nhân nhượng vô nguyên tắc đối
với Trung Quốc. ĐCSTQ rất hài ḷng v́ những lời kêu gọi Trung Quốc
cải thiện thành tích nhân quyền và hoạt động để ngày càng dân chủ
hơn đang từ từ yếu dần, hơn bao giờ hết. Từ năm 2000, cộng đồng quốc
tế có phản ứng lập lờ đối với sự kém cỏi và chông chênh của Giang
Trạch Dân v́ họ hy vọng rằng sự chuyển giao quyền lực cho các lănh
tụ Đảng thuộc thế hệ sắp tới sẽ nuôi lớn các nhân tố “lành mạnh” ở
bên trong ĐCSTQ và đẩy mạnh sự ổn định.
Lối tiếp cận ấy quá đặt trọng tâm trên sức mạnh độc quyền của
Đảng, không để ư tới các thành tố tạo nên sự ổn định thật sự. Các
thành tố ấy bao gồm những giới hạn việc bóc lột môi trường và sinh
thái cũng như sự lập thành các giá trị luân lư đạo đức, có thể dùng
làm những điểm chuẩn cho xă hội như một tổng thể. Nếu hệ sinh thái
thực vật và môi trường trong đó chúng hiện hữu, là nền tảng vật lư
cho sự sống c̣n của một quốc gia và nhân dân của nó th́ đạo đức và
những bài giảng về đạo đức cũng làm điều tương tự trên cấp độ tinh
thần. Xă hội nào cũng cần một “sinh thái đạo đức” lành mạnh để giữ
vững nó theo những cách không chính thức nhưng có thật, không bị nắm
bắt bởi tiêu điểm rất đơn thuần trong luật pháp thành văn và các
định chế chính thức.
Một môi trường đang khủng hoảng
Trung Quốc ngày nay bị đe dọa ghê gớm bởi sự ô nhiễm trầm trọng,
thậm chí đe dọa tới mạng sống con người. Từ ngày Đảng cầm quyền, môi
trường của Trung Quốc bị tước đoạt bừa băi; dù những cuộc cải cách
kinh tế có thành tựu được ǵ đi nữa, rơ ràng chúng đă làm tăng tốc
độ bóc lột ấy. Sử dụng tràn lan phân bón hóa học làm đất canh tác
ngày càng bớt màu mỡ trong khi độ nhiễm mặn và thoái hóa đất đai nói
chung làm giảm chất lượng của đất tại các khu vực rộng lớn của đất
nước. Ngày nay, hoang mạc phủ 38% tổng thể đất đai của Trung Quốc,
như là hậu quả của việc sử dụng đất một cách hư hoại, và hiệu suất
của đất canh tác đă căng hết mức giới hạn của nó, đưa tới một t́nh
trạng tồi tệ tiềm ẩn tai họa. Tài
nguyên quặng mỏ giàu có của Trung Quốc bị tiêu phí ở mức cao chưa
từng thấy (trung b́nh cao gấp bốn lần tính b́nh quân theo đầu người
mà người ta thấy tại các nước đă phát triển kiểu mẫu), trong khi đầu
ra sản phẩm thật sự th́ c̣m cỏi so với đầu vào do quặng mỏ cung cấp—
một dấu hiệu phung phí lớn lao không thể chối căi. Nếu chúng ta lấy
khái niệm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) “xanh” [1] để tính những phí
tổn sinh thái và môi trường kết hợp với thái độ theo đuổi phát triển
kinh tế của Trung Quốc th́ con số b́nh quân trong suốt 23 năm vừa
qua (1980-2002) có giá trị tiêu cực.
Nh́n theo viễn ảnh đạo đức cũng thế, Trung Quốc đang ở trong t́nh
trạng nghèo đạo đức. Công chức viên chức lương thiện là biệt lệ,
tham nhũng là luật lệ. Tại những lănh vực quan hệ tới kinh tế, có
thể đo lường sự suy sụp ấy bằng sự kiện chỉ 60% các hợp đồng ở Trung
Quốc được tôn trọng và sự thiếu tín nhiệm khác thường đă và đang leo
thang trong hoạt động kinh tế nói chung.
Có thể truy nguyên nguồn gốc của t́nh trạng suy thoái luân lư đạo
đức ấy nơi bản chân chính quyền. Dù nó chế biến những bản thống kê
bịa đặt hoặc chế tạo ra hàng đống “báo cáo tin tức” vẽ vời, nhà nước
Trung Quốc một khi cố ư loan truyền thông tin sai lạc th́ không một
ai có thể sánh nổi với nó. Các viên chức chính quyền trở thành các
nhà chuyên nghiệp “phát biểu chính thức”: được dạy dỗ để có thái độ
nhă nhặn, ăn nói êm ái đúng với đ̣i hỏi của một cơ quan công cộng,
họ sử dụng các kỹ năng ấy nhân danh sự cổ động tinh ma cho những
điều dối trá. Trước khi bị kết án v́ những cáo buộc tham nhũng và
tắc trách, các quan chức cao cấp, thí dụ Xương Khả Gia, cựu phó chủ
tịch quốc hội, và Trần Hy Đồng, thị trưởng Bắc Kinh, người nào cũng
là tác giả một bộ tuyển tập các bài diễn văn bàn về “chính quyền
trong sạch”. Những bài thuyết giảng ca ngợi tính liêm khiết công
cộng và cá nhân ấy không cho thấy dấu vết chênh lệch nào giữa lời
nói ngoan đạo của họ với thói quen của họ như nhận hối lộ, nuôi t́nh
nhân, lui tới với kỹ nữ, áp bức thường dân, và nói chung, bất chấp
pháp luật lẫn công luận. Với những kiểu mẫu từng đóng vai tṛ chủ
chốt như thế, liệu người ta có ngạc nhiên chút nào về tác phong tội
phạm đang gia tăng một cách báo động?
Ở bất cứ xử sở nào, đạo đức xă hội và ư nghĩa luân lư khái quát
đều quan trọng hơn luật pháp thành văn khi nó đạt tới mức làm xă hội
gắn bó với nhau trên căn bản hằng ngày. Đạo đức xă hội cung cấp cho
người dân những tiêu chuẩn căn bản về đúng và sai, điều chỉnh hạnh
kiểm của họ. Tuy nhiên, ở Trung Quốc ngày nay, các ư tưởng về đúng
và sai bị mờ khuất trong hỗn độn và hoang mang. Thí dụ, đối với các
nhà kinh tế hănh tiến, chuyện thời thượng của họ là thừa nhận tham
nhũng và bao che nó. Kết quả là càng ngày càng trở thành trường hợp
kỳ cục tới độ chỉ có sức mạnh thô bạo của ĐCSTQ mới có thể làm cho
xă hội Trung Quốc gắn bó với nhau.
Trong các năm vừa qua, nhà nước đảng trị củng cố những phương
tiện muôn h́nh muôn vẻ của nó trong công tác kiểm soát xă hội tới độ
phải sử dụng bạo lực chính trị và đầy rẫy công an mật. Các sức mạnh
ấy bóp nghẹt từ trong trứng nước bất cứ nhóm nào có tiềm năng phát
triển thành một thực thể có tổ chức, và bằng cách đó, đảng bảo đảm
rằng nhân dân Trung Quốc vẫn tiếp tục bị cầm cố trong cảnh huống
thường trực cách ly nhau — giống những hạt cát nằm trên tờ giấy — và
không cách ǵ triển khai được sự đề kháng có tổ chức. Đồng thời,
chính quyền chấp nhận và thực hiện những phương pháp chẳng vẻ vang
để kiểm soát tác phong của quan chức như các chiến dịch “chống tham
nhũng”, ít liên quan tới việc diệt trừ tham nhũngmà chỉ tạo vừa đủ
một số trường hợp điển h́nh để nhắc nhở các viên chức rằng nếu họ
muốn sống sót th́ cách tốt vẫn là làm chiếc răng cưa hữu dụng trong
bộ máy khổng lồ của nhà nước đảng trị, đừng nói ǵ tới chuyện phất
lên giàu có.
Những ứng dụng mới của ư thức hệ
Nhưng điều quan trọng hơn cả là chính quyền thực hiện đúng lúc
một sách lược ư thức hệ mới; việc nhà nước tập trung kiểm soát đời
sống công cộng và tạo được sự liên minh giữa giới tinh hoa kinh tế
và trí thức. Thi hành chiến lược ư thức mới ấy và củng cố công tác
kiểm soát lănh vực công cộng, chính quyền Giang Trạch Dân khắc
nghiệt hơn và hữu hiệu hơn nhiều so với chính quyền Đặng Tiểu B́nh.
Chính quyền thực hiện trọn vẹn ư đồ của Giang Trạch Dân nhằm “nhổ
tận gốc trốc tận rễ mọi nhân tố có tiềm năng gây bất ổn”, và không
một tổ chức nào thật sự là quần chúng độc lập hoặc phi chính phủ có
khả năng xuất hiện trong môi trường trấn áp như thế. Trong khi đó,
xét theo vài cấp độ tinh tế, so với sự trấn áp chính trị thẳng thừng
kiểu bạo lực chuyên chính vốn là đặïc thù của kỷ nguyên họ Mao, th́
lối tiếp cận của họ Giang âm ỉ hơn nhưng hữu hiệu hơn v́ nó tính
toán làm sao để thực hiện luồn lách bên dưới tầm quan sát bén nhạy
của quốc tế đang theo dơi và sẵn sàng lên án.
Chiến lược càng cua của ĐCSTQ là bêu xấu và lăng mạ nền dân chủ
phương Tây, đồng thời thực hiệt tốt công tác ép thật chặt sự kiểm
soát của Đảng lên khắp đời sống công cộng ở Trung Quốc. Trong các
trường tiểu, trung và đại học sự gia tăng cường độ giảng dạy ư thức
hệ nhồi nhét vào đầu óc của tuổi trẻ Trung Quốc vô số điều dối trá
và huyền hoặc chính trị. Sự việc ấy có thể góp phần giải thích tại
sao trong khi vẫn ngưỡng mộ Hoa Kỳ mà v́ những nguồn tin không chính
thức, nhiều thanh thiếu niên Trung Quốc vẫn chứa chấp dai dẳng trong
ḷng những cảm xúc thù nghịch phát sinh một cách ư thức hệ đối với
Hoa Kỳ và những ǵ nó tiêu biểu.
Nhà nước đảng trị hành xử gần như độc quyền hầu hết các phương
tiện truyền thông và xử lư chúng cao tay ấn hơn so với cách xử lư
trong thời thô lỗ của chủ tịch Mao. Các kư giả bị liên tục nhắc nhở,
bằng những lối nói dứt khoát, rằng ai đang trả lương cho họ. Ngay
bản thân các phóng viên cũng thừa nhận họ là “cái loa của Đảng,” như
thế kết quả của thực tế đó là trong giới tinh hoa trí thức, những
phần tử nào c̣n ấp ủ lương tâm th́ không có phương tiện đáng tin cậy
nào để có thể tŕnh bày trung thực ư kiến của ḿnh. Từ năm 1999,
chính phủ dùng các chuyên gia điện toán từng được huấn luyện cấp đại
học để làm “công an Internet”. Nó cũng đề ra các qui định để thuần
hóa “con ngựa hoang” Mạng lưới Toàn cầu (World Wide Web).
Từ sau vụ Thiên An Môn, giới trí thức đối mặt một môi trường mới
đầy hoang mang. Suốt thập niên 1990, nhà nước đảng trị thực tế đă
t́m cách mua chuộc giới trí thức với các danh dự hàn lâm, đẳng cấp
và lương bổng để đưa họ vào hàng ngũ những kẻ ủng hộ nguyên trạng
(status-quo). Ngược lại, một số ít trí thức không để bị mua chuộc
th́ bị đánh đổ: không người nào có thể xuất bản công tŕnh nghiên
cứu quan trọng về bất cứ đề tài nào theo con đường chính thức, và
các nhà nghiên cứu khó tính ấy có thể dễ nhận ra là ḿnh bị sa thải,
dù lúc nào cũng với lư do mà trên danh nghĩa là “không liên quan ǵ
tới chính trị”.
Ngày nay, các trí thức có ảnh hưởng là đối tượng giám sát và xoi
mói của công an mật, và thông thường, việc cưỡng bách di dân ra nước
ngoài là thuộc phần các chiến dịch sách nhiễu tổng quát do Đảng đề
ra. Việc áp dụng sách lược cương nhu này — “cương” v́ nó cấu thành
trấn áp, “nhu” v́ nó không đi tới mức bỏ tù thật sự hoặc tra tấn thể
xác — đă có hiệu quả làm trung ḥa giới trí thức ưu tú như một lực
lượng phê b́nh độc lập của Trung Quốc. Ngày nay, hầu hết các học giả
Trung Quốc đều muốn thích ứng các nghiên cứu của ḿnh để xoa dịu chế
độ, giữ thái độ thờ ơ hoặc chiếu lệ đối với các vấn đề xă hội và
chính trị nhạy cảm.
Cho tới thập niên 1990 vừa qua, chính phủ Trung Quốc vẫn bướng
bỉnh đeo bám khái niệm rằng nó đại diện giai cấp lao động — thậm chí
khi các viên chức đă lập những quan hệ riêng tư thân mật và có lợi
nhuận với giới tinh hoa kinh tế mới phất. Giữa họ, giới tinh hoa
kinh tế và các thủ trưởng của nhà nước đảng trị, lúc này kiểm soát
85% tổng số tài sản của Trung Quốc và lập thành lớp siêu phú gia
(super-rich) của Trung Quốc. Dưới ánh sáng của hiện thực đó, nhà
nước-ĐCSTQ chỉ c̣n giải pháp duy nhất là đưa ra sự điều chỉnh có
tính chiến lược giữa các giai cấp trung thành với nó, và như thế
khẩu hiệu “Tam Đại biểu - Ba Đại diện” của Giang Trạch Dân được tung
ra; nó cho hai giới tinh hoa kinh tế và chính trị một không gian
rộng răi hơn để liên kết và bành trướng. Lời kêu gọi của họ Giang
“cho phép các nhà từ bản tư nhân gia nhập Đảng”, chỉ là mưu chước
tưởng thưởng cho giới tinh hoa kinh tế một cột trụ trong hệ thống và
một tiếng nói chính trị hợp pháp.
Rơ ràng ảo tưởng nghiêm trọng nhất mà giới trí thức Trung Quốc đă
giữ suốt thập niên 1980 là giai cấp trung lưu sung măn sẽ đ̣i hỏi
quyền dân chủ. Thập niên kế đó dập tắt vĩnh viễn “giấc mộng ngày” đó.
Các chiến thuật chính trị của Đảng bao gồm việc cho phép giới tinh
hoa kinh tế cùng với các nhóm trí thức thích đáng và dễ bảo được đ̣i
quyền ở trong hệ thống và chia sẻ một số quyền lực của Đảng — nhưng
c̣n cách rất xa sự tạo ra một sinh hoạt chính trị dân chủ mới mẻ.
Để đối phó với những lo âu và rối loạn trong hàng ngũ người nghèo
và người bị tước đoạt, chính phủ phải dựa vào việc trấn áp bằng bạo
lực càng ngày càng tăng. Dập tắt những cuộc phản kháng ở qui mô nhỏ
đă trở thành công tác thông lệ của các viên chức địa phương, những
kẻ lúc này giàu kinh nghiệm đối phó với các sự cố như thế. Nói chung,
họ thiên về lối tiếp cận “củ cà rốt và cây gậy”: các “quần chúng
phản kháng” (thường là nông dân hoặc công nhân thất nghiệp) nhận “củ
cà rốt” nhỏ, có thể đáng giá một hai tháng trợ cấp đời sống với điều
kiện thôi xuống đường. Ngược lai, những kẻ “lănh đạo phản kháng” th́
lănh “cây gậy”. Gần như không có ngoại lệ, chính quyền nghiêm khắc
trừng trị bất cứ “kẻ gây rối loạn an ninh trật tự công cộng” nào —
công nhân, nông dân hoặc ngược lại — bất cứ ai mà nó có thể đặt cánh
tay “không chút dịu dàng” lên trên. Ở mức tối thiểu, Đảng ra sức bẻ
găy tinh thần của họ và lấy đi nhân cách của họ, nhưng sẽ không ngần
ngại giết họ nếu thấy cần thiết. Thông thường, việc ấy đủ để làm
những kẻ có tiềm năng lănh đạo run sợ, không dám trở thành con dê tế
thần khi những kẻ sát nhân cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, thường ra
dấu hiệu rằng đă đến lúc chính quyền hết c̣n chịu đựng nổi cuộc phản
kháng tập thể.
Vẫn c̣n có những cuộc phản kháng yếu ớt — ngay cả nổi loạn — để
đáp trả các liên minh đầy uy lực và có tính khống chế ngày càng tăng
được thành lập giữa các giới tinh hoa của đất nước. Nhưng giới chức
cầm quyền đă có kinh nghiệm, không để chúng lan rộng và việc đè nén
sự bất ổn khiến cho đôi khi, phải phong tỏa hoàn toàn một thành phố
hay một khu vực. Do đó, những cuộc phản kháng chỉ có tính địa phương
và rời rạc; từ sau vụ Thiên An Môn, không có vụ nào đạt tới mức đặt
vấn đề thay đổi trong nghị tŕnh xă hội như một tổng thể. Trong
chừng mực quan tâm của nhà nước đảng trị, các khái niệm nhiều khía
cạnh và rộng lớn của “nhân quyền” có thể bị giảm thiểu một cách an
toàn thành quyền sinh sống mà thôi. Cách diễn đạt chật hẹp ấy về
quyền con người đă hạ nhân dân Trung Quốc xuống đẳng cấp loài vật ăn
máng, nhưng bao lâu họ c̣n dễ bảo th́ bấy lâu nhà nước đảng trị c̣n
bất cần.
Những chọn lựa cho tương lai
Nói chung, cộng đồng quốc tế chọn quan điểm lạc quan và hăo huyền
về tương lai của Trung Quốc. Quan điểm này chú mục vào hai kỳ vọng
mà cả hai vừa sai lầm vừa đồng cảm chẳng kém ǵ nhau. Kỳ vọng thứ
nhất là việc cho phép Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) sẽ khích lệ dân chủ hóa. Kỳ vọng thứ hai là những tiến bộ
kỹ thuật sẽ phá vỡ các “bức tường lửa” mà Trung Quốc đang áp đặt và
sẽ cởi mở xă hội Trung Quốc, không c̣n kiểm duyệt tin tức và thông
tin. Về kỳ vọng thứ nhất, tôi chỉ có thể vạch ra rằng WTO là một tổ
chức điều chỉnh kinh tế quốc tế nên chúng ta không thể kỳ vọng hoặc
hy vọng rằng nó sẽ làm biến đổi hệ thống chính trị của một nước. C̣n
về kỳ vọng thứ hai th́ Bắc Kinh hiện nay đang làm tiêu hao nó bằng
dự án trị giá nhiều tỉ đô la “Lá chắn Vàng – Golden Shield” mà mục
đích là dùng kỹ thuật máy điện toán để mở ra và siết chặt gọng ḱm
của nhà nước lên trên xă hội. Các công ty đa quốc gia, các tín hiệu
đô-la nhảy múa trước mắt họ, đang háo hức dự phần vào màn kịch cá
biệt này. Nhưng bản thân giới tinh hoa của Trung Quốc thấy tương lai
như thế nào? Xă hội Trung Quốc hiện nay giống một hỏa diệm sơn sắp
tới hồi phun lửa. Hầu như mọi người Trung Quốc đều cảm giác sức nóng
của ngọn lửa trong ḷng đất nhưng có lẽ không ai cảm giác cho bằng
giới tinh hoa của Trung Quốc, những kẻ hiểu ngầm với nhau rằng chọn
lựa tốt nhất của họ là duy tŕ nguyên trạng bằng trấn áp chính trị
và hoạt động t́nh báo quốc nội. Trong thực tế, điều ấy có nghĩa là
phải dùng sức mạnh đàn áp tập thể tất cả những ai “phá rối trật tự
xă hội” ngay khi họ bộc phát. Suốt hơn thập niên qua, từ sau vụ
Thiên An Môn, tuyến pḥng ngự số một của nhà nước đảng là chống lại
sự rối loạn phát xuất từ bên dưới.
Bên trong liên minh của các giới tinh hoa, giới thư lại cảm nhận
về sự khủng hoảng ấy nhạy bén hơn giới trí thức. Vào đầu thập niên
1990, tẩu tán tư bản lên qui mô lớn khi các đạo quân quan chức
chuyển tài sản phi nghĩa mới kiếm được của họ tới các ngân hàng ở
bên ngoài Trung Quốc, thường là tới các nước họ đang có thân nhân
sống nhàn hạ. Trong khi đó, các nước châu Âu cùng Hoa Kỳ, Canada,
Australia ra sức thu hút sinh viên Trung Quốc ra hải ngoại để góp
phần phát triển kinh tế nội địa của ḿnh. Các trường cao đẳng và đại
học tại những nước đó nhận thấy giới sinh viên Trung Quốc có nhu cầu
cực lớn được đi du học: qua một số thẩm định, Trung Quốc bỏ ra mỗi
năm hơn 4 tỉ Mỹ kim tài trợ cho việc du học trong đó ưu tiên số một
dành cho thanh niên. Đây là dấu hiệu cho thấy giới tinh hoa đang kỳ
vọng họ sẽ kiểm soát được tương lai: qua những sắp xếp mà họ dàn
dựng cho con cái, họ đang bỏ phiếu bằng ngoại tệ mạnh.
Như tôi đă cố gắng tŕnh bày, thật sai lầm khi nghĩ rằng có một
nhóm quyền lực nào đó bên trong hàng ngũ thượng đỉnh của Đảng Cộng
sản sắp gỡ cho Trung Quốc thoát ra các khủng hoảng đang vây bủa nó.
Các nhà phân tích vốn tranh căi việc ĐCSTQ có thể xói ṃn tương lai
của đất nước th́ đang chấp nhận và thực hiện điều mà tôi gọi là lư
thuyết “lính chữa cháy.” Họ giả định rằng chế độ của ĐCSTQ giống với
lính chữa cháy rừng nhiều hiệu năng, được trang bị bằng những thiết
bị mới nhất, không khác ǵ một “hệ thống pḥng ngừa hỏa hoạn”, gồm
sự kiểm soát triệt để truyền thông và công luận, đàn áp chính trị
cao độ, các đội ngũ công an chống nổi loạn và toàn bộ guồng máy an
ninh quốc gia hiến thân hết ḿnh, chống đỡ cho trật tự hiện nay để
mọi sự đâu vào đó. Nhưng tại Trung Quốc, nguy cơ hỏa hoạn không đơn
giản xảy ra một cách ngẫu nhiên tại các khu vực có củi khô, mà đó là
những ngọn lửa ngầm, đang cháy âm ỉ ngay bên dưới bề mặt, ở bất cứ
nơi nào và vào bất cứ lúc nào, một khi đă phun lên th́ diễn ra rất
ác liệt, vượt ngoài tầm kiểm soát. Thậm chí các thiết bị chữa cháy
kỹ thuật tiên tiến nhất cũng có những giới hạn của chúng khi đương
đầu với các nguy cơ như thế.
Ngày ấy sẽ tới khi ĐCSTQ không c̣n đè nén nổi những ngọn lửa đó.
Một khi nền cai trị lâu năm của ĐCSTQ bị thiêu rụi trong đám cháy
lớn đó th́ sự tăng trưởng về dân số chưa từng có tại Trung Quốc, sự
phá hoại bừa băi môi trường và sinh thái, và sự sụp đổ gần như toàn
bộ nền luân lư xă hội, mới chỉ là một trong các nhân tố làm cho công
tác tái thiết đă lớn lao lại c̣n khó khăn hơn.
Hà Thanh-liên (何 清 涟 – Qinglian He), cựu biên tập viên lâu năm
của Thiên Tân Pháp luật Nhật báo tại Trung Quốc, hiện là khách
nghiên cứu của phân khoa chính trị, kinh tế và triết Trường Cao đẳng
Staten Island thuộc Đại học Thành phố New York. Bà là tác giả trên
ba cuốn sách viết bằng Hoa ngữ, trong đó có cuốn bán rất chạy, nhan
đề Pitfalls of China (Những cạm bẫy của Trung Quốc), ấn bản cập nhật
hóa từ bản đă được xuất bản ở Nhật Bản năm 2002.
[1]Kirk. Hamilton, “Green Adjusments to GDP, Resources Policy 20
(1994) – Những điều chỉnh xanh cho GDP, Tạp chí Chính sách Tài
nguyên số 20” (1994): 155-68.
Xem thêm www.ias.edu/publications/details.cfm/articleID/51, UN
University Institute of Advanced Studies.

Bài 6 : Thức
giấc cùng Trung Quốc
Ted C. Fishman - Nguyễn Ước dịch
Napoléon có lời nhận xét nổi tiếng rằng khi Trung Quốc thức giấc,
thế giới sẽ run sợ. Dĩ nhiên Trung Quốc không bao giờ thật sự thiếp
ngủ. Trên thế giới, có những nước có thể bị tả một cách tương đối là
như đang ngủ. Trung Quốc hầu như không là một trong những nước ấy.
Suốt thế kỷ vừa qua, Trung Quốc lâm vào t́nh trạng hỗn loạn không
kém bất cứ xứ sở nào. Nó bị tả tơi v́ những cuộc nội chiến và các
cuộc xâm chiếm thuộc địa. Tiếp theo cuộc Chiến tranh Thế giới lần
thứ hai, cuộc Cách mạng Cộng sản của Trung Quốc đă buông cương cho
các chính sách có tính ư thức hệ với sức mạnh lớn lao nhằm lập đi
lập lại trật tự cuộc sống riêng tư lẫn công cộng và thường dẫn tới
kết quả tai họa. Từ đầu tới cuối chương tŕnh kinh tế được gọi là
Bước đại nhảy vọt trong hai năm 1959 và 1960, một giai đoạn trong đó
Trung Quốc như thể người đang ngủ đối với thế giới bên ngoài, năm
chục triệu người răm rắp tuân theo các chính sách của chính quyền,
rời bỏ hẳn nông trang để di chuyển vào một tương lai kỹ nghệ. Sự phá
vỡ ấy góp phần gây nên một nạn đói lớn lao nhất do con người tạo ra,
với tổng số người chết đói trên 30 triệu.
Cách mạng kỹ nghệ của Trung Quốc
Ngày nay, chắc chẳng ai có ư kiến sai lầm rằng Trung Quốc là nước
đang ngủ. Trung Quốc hiện trông có vẻ rất khác, khác tận gốc, so với
nó trước đây, khi bị cai trị bởi những kẻ duy ư thức hệ cộng sản
nghiêm ngặt nhưng quá khứ đó cũng mang lại kết quả phần nào cho sinh
lực hiện tại của xứ sở. Suốt hai thập niên vừa qua, nền kinh tế
Trung Quốc là một trong những phép lạ trên thế giới. Các con số th́
có chút mơ hồ nhưng theo báo cáo của các cơ quan quốc tế th́ mức
tăng trưởng của Trung Quốc b́nh quân là 9% trong suốt thời kỳ 20 năm.
Một mức tăng trưởng đủ nhanh để có thể đưa lợi tức trung b́nh tại
Trung Quốc lên gấp 4 lần và tạo ra giai cấp trung lưu có thể chiếm
tới một phần tư tổng số dân một tỉ người.
Ngày nay, dân chúng Trung Quốc chuyển dịch hơn bao giờ hết với
300 triệu nông dân và cư dân sống tại các làng quê đang kỳ vọng thế
hệ sắp tới của họ sẽ chuyển lên sống ở các thành phố lớn. Lần này
kết quả của di chuyển sẽ không phải là nạn đói. Các nông trang của
Trung Quốc vẫn sản xuất tốt và cư dân mới của các thành phố gởi tiền
về cho thân nhân nơi quê cũ. Từ lúc bắt đầu các cải cách có tính thị
trường và người dân được phép lao động bên ngoài các kỹ nghệ bị nhà
nước kiểm soát, người Trung Quốc mở ra 125 triệu cơ sở làm ăn. Tổng
số hiện hành là 85 triệu. So với nước Mỹ, nơi người dân sống trong
nền kinh tế thị trường từ hơn ba thế kỷ nay với 26 triệu cơ sở làm
ăn hoặc tính theo đầu người th́ có tỉ lệ xấp xỉ với Trung Quốc.
Trung Quốc mở cửa
Sự tiến bộ đầy kinh ngạc của Trung Quốc không chỉ do vấn đề mở
cửa mà c̣n do vấn đề chuyển mọi cơ chế hướng tới kinh tế thị trường,
và trên hết, nối kết với hệ thống thương mại thế giới.
Sự thịnh vượng mới của Trung Quốc chịu một ơn nghĩa nào đó đối
với sự thất bại của các chính sách xă hội thuở trước. Các nhà sản
xuất trên thế giới càng ngày càng chọn Trung Quốc làm nơi cư trú của
họ và những khách mua hàng trên thế giới cần nhập khẩu hàng hóa của
Trung Quốc trị giá hàng trăm tỉ Mỹ kim mỗi năm, đều nhận thấy ḿnh
có lợi thế trong t́nh trạng nghèo khổ tràn lan khiến người lao động
lương rẻ phải vào làm trong các xí nghiệp mới lập để sản xuất những
hàng hóa có tổn phí thấp nhất thế giới. Mỉa mai thay, thành công của
Trung Quốc trong suốt 20 năm qua lại mắc món nợ cay đắng đối với sự
cai trị hà khắc của những kẻ theo Mao-ít, những kẻ đă tạo ra các
tiền đề cho một lực lượng sản xuất có kỷ luật, phí tổn thấp, để ngày
nay phục vụ các nhà tư bản của Trung Quốc và của thế giới.
V́ cách mà Trung Quốc hiện đang sắp đặt các sinh lực của nó, nó
là một xứ sở tiêu biểu cho phần c̣n lại của thế giới với những cơ
hội lớn lao nhất cùng những hiểm họa cũng lớn lao không kém. Tính từ
sự trỗi dậy của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ trong cuộc Cách mạng Kỹ nghệ
vào thế kỷ 19, không một xứ sở nào thách thức phần thế giới c̣n lại
một cách lẹ làng và đầy sức mạnh trên nhiều mặt trận như Trung Quốc
Thách thức của Trung Quốc
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc th́ phức tạp. Hoa Kỳ cần
cân nhắc từ mọi góc độ bất cứ hành động nào có tác động lên những
quan hệ giữa hai nước. Trung Quốc, như thế giới dần dần nhận ra, có
thể cướp mất bất cứ công việc hăng xưởng nào của gần như bất cứ xứ
sở nào trong bất cứ ngành kỹ nghệ nào. Năm 2005, Trung Quốc cho thấy
nền tài chánh đang gia tăng của nó khiến nó có thể hành xử trên khắp
thế giới. Ngày nào cũng như ngày nấy, Trung Quốc có tới 2 tỉ công
khố phiếu của Hoa Kỳ. Tháng Năm vừa qua, Lenovo, công ty khổng lồ
chế tạo máy điện toán do nhà nước Trung Quốc làm chủ, đă thỏa thuận
xong việc thương lượng để sở hữu phân xưởng sản xuất máy điện toán
cá nhân của IBM, và như thế, biến Lonovo thành công ty chế tạo máy
điện toán cá nhân lớn thứ ba trên thế giới. Sang tới tháng Sáu, một
trong những công ty dầu hỏa lớn của Trung Quốc gần như do chính
quyền làm chủ, CNOCC [Công ty khai thác dầu hỏa viễn duyên Trung
Quốc] đánh một quả ngoạn mục dù cuối cùng không đạt kết quả: nó đưa
ra giá 18,5 tỉ Mỹ kim để mua UNOCAL, một công ti dầu lửa khổng lồ
của Mỹ.
Liệu những đề xuất đó có thể không làm cả thế giới rúng động?
Trung Quốc đă thành khách mua hàng hóa kỹ nghệ và tài nguyên thiên
nhiên, với tính háo thắng và được chào đón hầu như khắp thế giới.
Quả thật, hăy để sang một bên Hoa Kỳ trong bức tranh thương mại của
Trung Quốc th́ thấy Trung Quốc đang bị thâm hụt mậu dịch lớn lao với
các nước khác trên thế giới khi nó mua những ǵ cần thiết để xây
dựng hạ tầng cơ sở kỹ nghệ và đô thị. Nhưng việc hiến giá để mua
UNOCL gây rúng động toàn bộ chính quyền Hoa Kỳ, và Quốc hội Mỹ phải
vội vă chận đứng bằng quyền lập pháp để cuối cùng chấm dứt cuộc
thương lượng.
Thành tố Nhân dân tệ
Vào tháng Bảy năm 2005, Trung Quốc chiếm lĩnh hàng đầu các bản
tin trên báo chí thế giới khi chính phủ của nó điều chỉnh cách mà nó
định giá đồng Nhân dân tệ. Trung Quốc vẫn thường bị công kích về
việc giữ cố định hối suất tiền tệ của ḿnh quá thấp so với đồng Mỹ
kim. Đề xuất mới này là một cử chỉ có phần nào hướng tới điều mà các
viên chức tài chánh thế giới cổ vũ từ lâu.
Điều chỉnh tiền tệ của Trung Quốc lên chưa tới 3% chỉ là một thay
đổi nhỏ nhưng nó là tin lớn tại Hoa Kỳ và châu Âu, nơi chế độ tiền
tệ của Trung Quốc gây lạm phát cho trị giá của đồng Mỹ kim và đồng
Euro khiến các nhà sản xuất tại Âu Mỹ khó cạnh tranh với các công ty
Trung Quốc. Biện pháp tiền tệ ấy chứng tỏ rằng Trung Quốc, từng có
thời bị xem là một nước có chính sách ngoại giao vụng về và các
chính sách kinh tế vừa ra lệnh vừa kiểm soát, ngày nay có đủ khả
năng tinh tế cả ngoại giao lẫn tài chánh. Với chỉ một cú lao xuống
đột ngột, Trung Quốc trông như thể có thiện ư để cho các nhà phê
b́nh quốc tế thường chỉ trích nó — thí dụ Ngân khố Hoa Kỳ — thấy
rằng nó có thể nhân nhượng tới một mức nào đó trước nhu cầu của các
đối tác thương mại, trong khi nó đồng thời cũng đang thận trọng phục
vụ cho các nhu cầu của chính nó.
Bằng việc nâng trị giá Nhân dân tệ, Trung Quốc tự ban cho nó có
thêm sức mua trên các thị trường tài nguyên thế giới. Trong lănh vực
năng lượng, trị giá thấp của tiền tệ Trung Quốc đặt nó ở thế bất lợi
trong thị trường năng lượng thế giới. Sự kiện này hầu như không phục
vụ các mục tiêu của một nước đang bị trói tay v́ điện lực và xăng
dầu cho xe hơi xe tải. Trung Quốc thiếu điện kinh niên. Nhà nước
thường bắt các công ty hoặc các thành phố để đèn lờ mờ nhằm giúp các
hạ tầng cơ sở điện lực bắt kịp nhu cầu. Số lượng ô-tô của Trung Quốc
đang tăng cực nhanh. Tới năm 2025, ước lượng Trung Quốc sẽ dùng
khoảng 14 triệu thùng dầu mỗi ngày — gấp đôi con số tiêu thụ hiện
nay. Việc nâng tiền tệ Trung Quốc lên cao hơn tỉ giá thấp một cách
giả tạo, giúp cho người tiêu thụ năng lượng tại Trung Quốc mua thêm
điện và góp phần giữ cho lạm phát xuống thấp.
Việc đánh giá lại tiền tệ ấy cũng là tin lớn cho các nước châu
Phi, châu Mỹ La-tinh, và châu Á, những nơi đang cung cấp cho Trung
Quốc nguyên liệu thô và được hưởng lợi khi khách hàng Trung Quốc có
thêm sức mua. Thế nhưng họ phải trả giá cho sự thịnh vượng của ḿnh.
Khi Trung Quốc thiết lập được các cơ sở sản xuất của nó th́ nó cũng
lấy mất công việc sản xuất có phí tổn rẻ hơn của các nước đang phát
triển và các nước phi kỹ nghệ hóa trong khi các nước ấy đă và đang
phấn đấu suốt nhiều thập niên qua để đa dạng hóa nền kinh tế của
ḿnh. Thí dụ, Indonesia nhận thấy rằng công nghệ làm giày của nó
từng có thời phát đạt nay hoàn toàn mất vào tay Trung Quốc.
Vô địch trong các chế độ bất trị
Ảnh hưởng ngày càng tăng trên thế giới cả hai mặt chính trị lẫn
kinh tế làm phát sinh những vấn nạn khó khăn cho các nước khác. Ngay
cả Hoa Kỳ cũng là nước không chắc t́m được một chiến lược quốc gia
về phương sách đối phó với ảnh hưởng chính trị ngày càng tăng của
Trung Quốc vốn thường làm cho Hoa Kỳ bực ḿnh v́ bị tổn thương ảnh
hưởng.
Trung Quốc đang quyết chí lập quan hệ bền vững với với các chế độ
mà Hoa Kỳ cùng các cường quốc khác lâu nay muốn cô lập. Các chế độ
tàn bạo ở Myanmar (Miến Điện trước đây), Sudan, Zimbabwe đều hưởng
lợi nhờ sự ủng hộ của Bắc Kinh và các lợi ích kinh doanh của Trung
Quốc. Nhưng về lâu về dài, những quan hệ ấy có thể chứng tỏ cho thế
giới thấy là chúng tiêu cực. Là nhà vô địch trong số các chế độ bất
trị, Trung Quốc có thể đóng vai tṛ mà các nước khác không thể đóng.
Thí dụ, nó là nước chủ nhà cho các cuộc đàm phán sáu quốc gia hồi
tháng Chín đưa tới kết quả Bắc Hàn hứa từ bỏ chương tŕnh vũ khí hạt
nhân.
Nhân quyền
Tuy thế, suốt thời gian vừa qua, ư nguyện của Trung Quốc trong
việc làm dịu bớt các chế độ ít thơm tho của thế giới có thể dùng để
đánh giá thấp thành tích của ĐCSTQ trong việc đi theo con đường
riêng của nó về nhân quyền. Từ lâu, Trung Quốc không muốn chấp nhận
toàn bộ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền - một lănh vực mà các
siêu cường khác có thể tuyên bố là họ đang giữ vị trí cao hơn. Dân
chủ, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và sự cai trị của luật pháp,
may mắn lắm mới c̣n là những mục tiêu xa xăm tại Trung Quốc. Thay
vào đó, chính quyền hùng hổ tấn công nhằm dập tắt các cuộc phản
kháng, trong khi t́m cách nhấn mạnh các tiến bộ kinh tế và sự ổn
định xă hội của nhân dân như một tổng thể.
Trong năm 2005, theo tổ chức Quan sát Nhân quyền (Human Rights
Watch), Trung Quốc có hành động mạnh mẽ chống lại các nhóm thiểu số
tôn giáo, cấm hành đạo, xuất bản sách báo và tập quán y phục của
thiểu số theo đạo Hồi Uighur ở miền tây tỉnh Tân Cương. Phật tử Tây
Tạng tiếp tục chịu những qui định nghiêm ngặt, cắt giảm những ngày
lễ tôn giáo của công chúng và cấm nhiều nghi thức truyền thống. Hồi
tháng Bảy, Bắc Kinh tuyên bố sẽ chỉ định vị Đạt Lai Lạt Ma sắp tới.
Tổ chức Quan sát Nhân quyền cũng tường tŕnh rằng một số nhóm Tin
lành và Pháp Luân công, một tổ chức tâm linh có nhiều tín đồ bị bắt
giam mà không được xét xử công bằng, bị tống vào các trại lao cải
hoặc bị giao cho các viện tâm thần. Vào đầu năm 2005, Bộ Ngoại giao
Mỹ cho công bố bản báo cáo năm 2004 của Bộ về nhân quyền tại Trung
Quốc. Bản báo cáo ấy ghi nhận rằng “chính quyền duy tŕ những nghiêm
cấm chặt chẽ về tự do ngôn luận và tự do báo chí, và đợt bắt giam
vào cuối năm đó là dấu hiệu cho thấy một chiến dịch mới nhắm vào các
nhà văn nổi tiếng và các nhà b́nh luận chính trị.”
Những bất định
Với sức mạnh liên tục của ḿnh, Trung Quốc dàn trải sự bất định
trên cả hai lănh vực chính trị lẫn kinh tế. Đang có những nghi ngờ
rộng răi rằng không biết sự tăng trưởng của Trung Quốc có kéo dài
không và không biết môi trường kinh doanh của nó có đáng tin cậy
không?
Một số quan tâm tập trung quanh tâm trạng của người dân Trung
Quốc, những kẻ dĩ nhiên phải chung chia sự bất định đó hơn ai hết,
và sẽ là những kẻ đầu tiên chịu đau khổ nếu trật tự xă hội và kinh
tế bị sụp đổ. Mặc dù di chuyển và gởi tiền về cho gia đ́nh, hàng
trăm triệu người dân Trung Quốc nói chung bị gạt ra ngoài phép lạ
kinh tế, và tệ hơn nữa, cảm thấy ḿnh bị nó trừng phạt. Theo các
thống kê của Liên hiệp quốc, số người nghèo nhất chiếm 20% trong
tổng số 1,3 tỉ dân và chỉ chiếm 4,7% tổng số lợi tức, trong khi
những người những người giàu nhất cũng chiếm 20% tổng dân số lại
chiếm số lợi tức trên một nửa (> 50%).
Tại Trung Quốc, những cuộc phản kháng vẫn tiếp tục gia tăng,
thường xuyên hơn và nhiều người tham gia hơn. Vào tháng Bảy năm
2005, Chu Dũng Cương, Bộ trưởng Công an của Trung Quốc, được tường
tŕnh qua hăng Reuters rằng, có 74.000 “sự cố tập thể” (biểu t́nh và
nổi loạn) xảy ra trong năm 2004, tăng so với 58.000 vụ năm 2003 và
10.000 vụ năm 1995. Những sự cố ấy chủ yếu bị giới hạn tại địa
phương; ĐCSTQ vẫn thừa sức mạnh cưỡng bách và động viên cải thiện,
giữ không cho những người bất đồng chính kiến vượt quá ranh giới địa
phương để liên kết nhau và lớn mạnh thành phong trào.
Đảng lập được thành tích về sự tăng trưởng kinh tế lạ thường, thế
nhưng sau những biện pháp hứa hẹn và tŕnh diễn mà chỉ có ư nghĩa
kéo lùi tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc khỏi vùng đất mơ
mộng của nó, kinh tế Trung Quốc nửa đầu năm 2005 lại tăng trưởng tới
hơn 9,4% so với nửa đầu của năm 2004. Những đảo lộn xă hội và kinh
tế thường là kết quả của những nhân tố mà thế giới ít biết tới, và
thật là điên rồ khi tiên đoán có phần nào chắc chắn rằng Trung Quốc
sẽ không chịu một sự đảo lộn nghiêm trọng vào một thời điểm sớm sủa
nào đó. Kinh tế của xứ sở này có trên một tỉ “biến số” với ư nguyện
tự do ngày càng tăng, và gần như hết thảy mọi người đều thấy cuộc
đời ḿnh bị phá vỡ một cách có ư nghĩa v́ sự thay đổi.
Quan hệ với các nước khác
Ngoại trừ những ǵ không biết ở bên trong Trung Quốc, một số bất
định về tương lai Trung Quốc có xuất xứ từ sự bất định về cách mà
các nước khác có thể hành động đối với Trung Quốc, đặc biệt Hoa Kỳ.
Thí dụ, trên mặt trận kinh tế, năm 2005 Quốc hội Hoa Kỳ đă tranh
luận kịch liệt về thuế xuất nhập khẩu và những nghiêm cấm trên hàng
hóa của Trung Quốc, ngăn không cho các công ty Trung Quốc thâm nhập
vào các công ti sáp nhập của Hoa Kỳ và chơi tṛ mua lại công ty,
đồng thời thảo luận về sự đáp trả mối đe dọa quân sự xuất phát từ
Trung Quốc trong tương lai.
Cũng thế, Nhật Bản hiện đối mặt với sự bất định ngày càng tăng
trong quan hệ của nó với Trung Quốc. Năm 2005, người Trung Quốc bùng
phát bạo động nhắm vào những lợi ích của Nhật Bản tại Trung Quốc và
duy tŕ những trao đổi ngoại giao căng thẳng do việc Nhật Bản không
chịu xin lỗi về những tàn ác mà họ gây ra tại Trung Quốc trong thế
kỷ vừa qua. Cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều tiếp cận vấn đề với sự
thôi thúc mănh liệt của tinh thần dân tộc chủ nghĩa, và sự thù
nghịch của đôi bên dường như ngày càng tăng, không tránh khỏi.
Một đốm có thể coi như sáng là sự cải thiện quan hệ của Trung
Quốc với Đài Loan, dù quan hệ này chẳng phải không có vấn đề lớn.
Năm 2005, cả hai xứ sở tiếp tục cùng nhau khiêu vũ một cách tinh tế
mà cho đến nay, giữ cho ḥn đảo ấy được độc lập trên một qui mô lớn.
Về mặt tiêu cực, Trung Quốc vào tháng Ba vừa qua, đă thông qua đạo
luật cho phép dùng vũ lực chống lại Đài Loan nếu vùng đất đó chính
thức tuyên bố độc lập đối với lục địa. Nhưng đă có những dấu hiệu
cho thấy cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đều có thể đang muốn cân nhắc
những chuẩn bị mang tính cấu trúc để đem cả hai tới gần nhau hơn.
Bằng một đề xuất cảm động nhưng nặng tính tượng trưng, Trung Quốc
tuyên bố vào tháng Năm rằng cho phép du khách lục địa được viếng
thăm Đài Loan.
Thức giấc nh́n thách đố
Trong hầu hết các cách mà Trung Quốc thách thức Hoa Kỳ và thế
giới, các chiến lược làm thế nào để bám trụ cạnh tranh với Trung
Quốc và làm thế nào để phồn vinh khi những phát triển của nước ḿnh
sẽ thành công hơn nữa nếu không tùy thuộc vào việc Trung Quốc đang
cố ư gây ảnh hưởng lên các lợi ích của thế giới. Đúng hơn, những
nước cạnh tranh với Trung Quốc phải t́m ra giải pháp cho riêng ḿnh.
Thế giới, và có lẽ đặc biệt Hoa Kỳ, làm hết sức để tránh lăng mạ xứ
sở đó. Đằng sau những ǵ có tính kinh tế mà thế giới đang sợ hăi
Trung Quốc th́ có điều ǵ đó ngưỡng mộ. Sự điều hành nền kinh tế
mạnh mẽ của xứ sở ấy đă đem hàng trăm triệu người dân ra khỏi vực
sâu đói nghèo hun hút. Nó đă bắt đầu tạo ra một giai cấp trung lưu
rộng lớn nhất. Và nó lúc này là nơi tọa lạc của một số cơ sở sản
xuất tốt nhất, so với bất cứ nơi nào.
Một số người phản đối cái nh́n ấy và vạch ra rằng Trung Quốc vẫn
là một nước cộng sản bị điều hành bởi giới tinh hoa chỉ chăm lo cho
quyền lực của ḿnh hơn là chăm lo cho người dân Trung Quốc. Điều ấy
chẳng cần phải chối căi. Tuy nhiên, chú mục vào tính tiêu cực th́
rất ít để ư tới sự tiến bộ gây kinh ngạc của Trung Quốc và không đưa
ra được chiến lược tốt nhất để ứng xử với nó. Bằng việc xem Trung
Quốc như quỉ dữ th́ phần c̣n lại của thế giới sẽ ít hưởng lợi. Chúng
ta hẳn sẽ tiến hành tốt hơn trong việc nghiên cứu, và có thể miễn
cưỡng ngưỡng mộ những sức mạnh đang càng ngày càng tăng của xứ sở ấy
- và dĩ nhiên, nhân dân năng động của nó. Nói cách khác, bằng nhiều
cách không chỉ Trung Quốc cần nhận ra, mà phần c̣n lại của chúng ta
cũng cần nhận ra.
Có thể đọc thêm:
* Peter Hays Gries, China’s New Nationalism: Pride, Politics, and
Diplomacy (Tân dân tộc chủ nghĩa của Trung Quốc: ḷng tự hào, sinh
hoạt chính trị và ngoại giao), University of California Press, 2004.
* Kellee S. Tsai, Back-Alley Banking: Private Entrepreneurs in
China (Giao dịch ngân hàng cửa hậu: các doanh gia tư nhân ở Trung
Quốc), Cornell University Press, 2002.
* Rachel DeWoskin, Foreign Babes in Bejing: Behind the Scenes of
the New China (Những người ngoại quốc thơ dại ở Bắc Kinh: hậu trường
của Trung Quốc mới), W.W. Norton and Co., 2005.
Ted C. Fishman xuất thân là một doanh nhân. Ông là tác giả nhiều
cuốn sách viết về Trung Quốc, trong đó có sách bán rất chạy, nhan đề
China, Inc.: How the Rise of the Next Superpower Challenges America
and the World (Liên hiệp công ty Trung Quốc: Sự trỗi dậy của một
siêu cường sắp tới thách thức Mỹ và thế giới như thế nào) 2005. Các
bài viết của ông xuất hiện trên The New York Times Magazine, The
Times of London, USA Today, và nhiều sách báo khác.
Tác giả: Nguyễn Ước
|
|