|
|
I. Bối cảnh
đa truyền thống
Để làm nổi
bật vị trí cốt lơi của Đạo học hầu có thể t́m hiểu đúng hướng và
đánh giá đúng mức, ta không thể không đặt nó trong bối cảnh đa dạng
và đầy quyến rũ của triết học Trung Hoa. Chữ “Đạo” có tính chủ chốt
và hầu như đồng một nghĩa trong cả đạo Nho lẫn Đạo học, có ư nói tới
nguyên lư tự nhiên, như một con đường đúng đắn mà con người phải đi,
một đạo lư phải giữ đúng lẽ đời. Thế nhưng, bài này được đặt tên Đạo
học v́ có ư trước tiên làm nổi bật khía cạnh triết học trong tư
tưởng Lăo Trang. Tới phần cuối, người viết sẽ sử dụng chữ “giáo”, đi
với Đạo giáo, để nói tới tôn giáo trong đó tư tưởng Lăo Trang được
kết hợp với nhiều nguồn khác, trở thành một tín ngưỡng thật sự, khác
với chữ giáo mang ư nghĩa giáo hoá trong Nho giáo.
Sáu nhà
trong bách gia
Thời Tiên
Tần – tính tới năm 221 tr.C.N với cuộc thống nhất Trung Hoa của Tần
Thuỷ Hoàng, chấm dứt chế độ phong kiến và mở đầu chế độ quân chủ –
có một số trường phái triết học khác nhau, gồm có:
Nho giáo:
Đặt nặng nhân nghĩa, tôn trọng lễ nhạc. Sống tu tề trị b́nh với
tŕnh độ của một người dày công tu dưỡng và thành thạo lục nghệ: sáu
kinh điển hoặc sáu kỹ năng của một người đă qua giáo dục. Phái này
sản sinh các học giả.
Đạo học:
Chiêm nghiệm về cuộc tuần hoàn của vũ trụ và sự thành bại, mất c̣n,
hoạ phúc của con người, nhằm khám phá yếu tính của cuộc đời. Từ đó,
tu dưỡng tâm tính hồn nhiên mộc mạc để sống cuộc đời tiêu dao, thanh
thoát. Phái này sản sinh các ẩn sĩ.
Âm dương
gia: Kính ngưỡng và thận trọng thuận theo lẽ âm dương của vũ trụ.
Chiêm nghiệm các hiện tượng thiên văn của nhật nguyệt tinh tú, trời
đất, và ứng dụng vào lịch tŕnh hoat động của xă hội, đặc biệt là
nông nghiệp. Phái này sản sinh các nhà thiên văn, lịch số và những
người cầu đảo.
Mặc gia:
Chủ trương thuyết kiêm ái – yêu hết thảy mọi người. Sống liêm chính,
khắc khổ, tôn trọng quỉ thần và lễ tế. Không tin vào số mệnh, thuận
theo mùa tiết, chống mọi h́nh thức mê tín và hiếu chiến. Phái này
sản sinh các hiệp sĩ.
Pháp gia:
Cùng với nỗ lực dùng Lễ để giáo hoá người dân, họ xem rất trọng việc
sử dụng h́nh pháp và các h́nh thức thưởng phạt, nhằm buộc người dân
thực hiện nghĩa vụ để xă hội có kỷ cương, quốc gia ổn định. Phái này
sản sinh các luật gia và nhà pháp trị.
Danh gia:
Chủ trương mỗi người đều có danh vị, và động thái trong xă hội phải
tương ứng với danh vị ấy. Người danh gia triệt để theo thuyết Chính
danh của Khổng Tử: Danh không chính th́ lời không thuận; lời không
thuận th́ việc không thành. Phái này sản sinh các nhà biện luận.
Hoà trộn
các truyền thống
Không tồn
tại như những trường phái biệt lập, người của sáu truyền thống ấy có
qua lại và cùng ảnh hưởng lên nhau. Theo với thời gian, cả Nho giáo
lẫn Đạo học, hai truyền thống chủ lưu của Trung Hoa, đều không thể
giữ măi một học thuyết cố định. Cùng chung hiện tượng như chúng ta
đă thấy trong quá tŕnh triển khai đưa tới Tân Nho giáo, Đạo học
cũng có những biến đổi tận gốc do bởi những thông giải về sau và
cách áp dụng các ư tưởng căn bản của chúng.
C̣n nữa, sự
du nhập Phật giáo vào nội địa Trung Hoa vào khoảng giữa hai nhà Tây
Hán và Đông Hán, đầu thế kỷ thứ nhất sau C.N., đă làm cho tư tưởng
đa dạng của dân tộc nặng óc thực tiễn ấy thêm lần nữa bị hoà trộn
sâu xa. Để phù hợp với văn hoá của vùng đất mới, Phật giáo phải tự
thích nghi, chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng lên các triết thuyết đương
thời. Tuy vẫn âm ỉ t́nh trạng phản bác nhau, thậm chí có khi diễn ra
quyết liệt giữa một số nhà tư tưởng của mỗi trường phái, nhưng sự
kiện quần chúng hồn nhiên chấp nhận những khía cạnh bổ túc lẫn nhau
của chúng đă ảnh hưởng ngược trở lại lên các nhà tư tưởng. Từ đó
xuất hiện truyền thống Tam giáo đồng nguyên, gồm có:
Nho giáo
trong h́nh thức Tân Nho giáo mà ta đă đề cập khái quát ở các phần
trước;
Đạo giáo
trong cả hai h́nh thức triết học và tôn giáo;
Phật giáo
với rất nhiều h́nh thức tu tập trong tu viện và nghi lễ thờ phượng
tại chùa và nhà.
Như chúng
ta sẽ thấy, rất khác với Nho giáo, Đạo học và Phật giáo đều đặt cơ
sở trên cá nhân và có chiều hướng bác bỏ những ǵ bị áp đặt bởi trật
tự kỷ cương cố định của xă hội. Nói chung, tại Trung Hoa, và rồi
cũng như tại Việt Nam, cả ba truyền thống ấy cùng nhập thể khái quát
vào ư thức của người dân, được họ điều hoà bằng cách tuỳ nghi áp
dụng vào từng t́nh huống đặc thù trong cuộc sống.
Lối sống
tam giáo Á đông
Để có sự
quân b́nh và thanh thoát trong cuộc đời, ta có thể sống theo một số
lời giảng của Đạo học. Nhưng để tổ chức cộng đoàn, thiết lập và duy
tŕ phong tục tập quán, nghi thức giao tế xă hội, ta trở thành người
Nho giáo. Khi đối mặt với khổ năo của bản thân và tha nhân, để khuây
khoả, t́m cách vượt qua nó và sống với ḷng từ bi cho tới bên kia
cái chết, ta có thể là người Phật giáo.
Người Á
đông nói chung và Trung Hoa nói riêng, hầu như không cảm thấy có nhu
cầu phải phân ranh rạch ṛi giữa các tôn giáo hoặc hoà giải những dị
biệt của Nho Phật Đạo. Về phương diện minh triết tổng thể, mỗi tôn
giáo đều có những đóng góp cụ thể, thích đáng và thiết yếu, để giáo
hoá con người, làm nơi nương tựa và cung cấp cho nó cách thông giải
khá an tâm khi giáp mặt cuộc đời. Thêm nữa, đối với họ, về phương
diện thực dụng, mỗi tôn giáo đều có khả năng đáp ứng một số khía
cạnh nhất định của mỗi t́nh huống đặc thù.
Một cách
tổng quát, ta có thể phát biểu mà không ngại sai lầm rằng cả ba
truyền thống ấy đều không độc quyền đ̣i hỏi ḷng trung thành, theo
kiểu các tôn giáo độc thần như Do thái - Kitô giáo hoặc Hồi giáo.
Người Á đông chấp nhận, một cách vô thức hoặc có ư thức, sự hoà đồng
của tam giáo. Theo từng giai đoạn trong cuộc đời, họ rút từ mỗi
truyền thống ra những ǵ được họ cảm thấy thích đáng nhất cho mỗi
t́nh huống cá nhân và từng hoàn cảnh xă hội cá biệt của ḿnh. Đó
cũng là t́nh thế tế nhị mà các giáo sĩ Tây phương gặp phải khi bắt
đầu hoạt động truyền giáo tại Á châu năm sáu trăm năm trước đây. Từ
đó phát sinh những cuộc tranh luận nan giải và gay cấn trong các
giáo hội Ki-tô giữa hai khuynh hướng hoặc thích nghi với phong tục
tập quán bản địa hoặc giữ nguyên vẹn những giáo luật và nghi thức
thờ phượng của mỗi giáo hội liên hệ.
II. Đạo
đức kinh
Ông thầy
già
Nếu hậu thế
hiểu biết về Đạo đức kinh nhiều bao nhiêu th́ những ǵ họ có được về
người được qui cho là tác giả của cuốn sách ấy ít bấy nhiêu. Cho tới
nay, ngoài sự đồng thuận rằng danh xưng Lăo Tử chỉ có nghĩa “Ông
thầy già”, không một học giả nào dám trả lời dứt khoát về thân thế
của Lăo Tử, cũng như tác giả chân chính và thời điểm xuất hiện của
cuốn kinh ấy.
Dựa vào
truyền thuyết dân gian và mấy trang sách cổ, học giả Trung Hoa
thường tin rằng Lăo Tử sống cùng thời với Khổng Tử, và sinh trước
hay sau vài chục năm. Nếu đúng như thế, tức là khoảng thế kỷ thứ sáu
tr.C.N., cùng thời với các triết gia Hi Lạp tiền Socrates như
Heraclitus và Pythagoras.
Sách Sử kư
của Tư Mă Thiên (145-89 tr.C.N) kể rằng Lăo Tử, người mở đầu cho học
phái Đạo gia cuối đời Xuân Thu, họ Lư tên Nhĩ tự Bá Đương thuỵ hiệu
là Đam, sinh khoảng năm 580 và mất năm 500 tr.C.N. Tương truyền Lăo
Tử người huyện Khổ, nước Sở, nay là phía đông Lộc Ấp, tỉnh Hà Nam,
từng giữ chức coi tàng thư của nhà Chu, hiểu rành các loại điển
chương nghi lễ và biết rất nhiều chuyện cổ. Khi triều đại Chu suy,
Lăo Tử lui về sống đời dân giả, tự cày cấy nuôi thân và dạy học.
Cuối đời, Lăo Tử bỏ trung nguyên, ra ẩn cư nơi quan ngoại, phía tây
Quan Trung và qua đời ở đó.
Lúc đi qua
cửa ải Hàm Cốc, Lăo Tử gặp quan giữ thành là Doăn Hỉ. Họ Doăn yêu
cầu: “Ngài sắp đi ở ẩn, xin vui ḷng để lại cho tôi một bộ sách”.
Lăo Tử dừng chân, soạn Đạo đức kinh, xong để sách ở đó cỡi trâu ra
đi. Từ đó, không ai gặp lại nữa.
Thuở c̣n
làm quan thủ thư tại kinh đô nhà Chu, gặp Khổng Tử đến t́m ḿnh để
hỏi về Lễ, Lăo Tử nói rằng:
“Lời nói
của ông là lời nói của những kẻ nay đă xương tàn cốt rụi. Vả, người
quân tử đắc thời th́ đi xe, không đắc thời th́ tay vịn nón lá mà đi
chân. Ta nghe rằng: Kẻ buôn giỏi khéo giữ của quí như không có ǵ,
người quân tử đức thạnh, dung mạo dường như kẻ ngu. Họ khác với cái
kiêu khí và đa dục của ông, thái sắc và dâm chí ấy không ích ǵ cho
thân ông cả. Tôi sở dĩ bảo cho ông biết bấy nhiêu thôi.
Khổng Tử ra
về, bảo với đệ tử:
Chim, ta
biết nó bay như thế nào; cá, ta biết nó lội làm sao; thú, ta biết nó
chạy cách nào. Thú chạy, th́ ta có lưới bắt nó; cá lội, th́ ta có
dây câu ví nó; chim bay, th́ ta có bẫy gài nó. Chí như con Rồng, th́
ta không biết nó theo gió mà bay liệng như thế nào. Nay ta thấy Lăo
Tử như con Rồng”.
(Nguyễn
Duy Cần dịch, Lăo Tử - Đạo đức kinh, tt.11-12).
Khảo chứng
của người đời sau cho rằng bài viết về Lăo Tử trong Sử kư hẳn do hậu
thế thêm vào, c̣n câu chuyện Lăo Tử gặp Khổng Tử là do một đạo gia
nào đó bịa ra để tôn vinh tổ sư và làm nổi bật những dị biệt giữa
hai quan điểm Vô vi và Hữu vi. Như thế, h́nh ảnh ông thầy già cỡi
trâu đi ra ngoài quan ải và con rồng bay lượn trên không cũng chỉ ở
trong cơi huyền thoại. Chúng tạo thêm vẻ thần bí mông lung như hàng
trăm câu chuyện khác về hành trạng và hoàn cảnh sáng tác của văn thi
sĩ Trung Hoa thời cổ.
Tuy các
t́nh tiết ấy khiến cho cuộc sống lăng đăng và phiêu hốt của tác giả
Đạo đức kinh thêm phần nổi bật nhưng chúng không làm tăng thêm giá
trị tư tưởng của văn bản khi chúng ta nghiên cứu tự thân văn bản.
Phùng Hữu
Lan cho rằng “Không nhất thiết có sự liện quan giữa hai bên [Lăo Tử
và Đạo đức kinh], v́ rất có thể đă từng có người tên là Lăo Tử, và
là người niên trưởng đối với Khổng Tử, nhưng quyển sách nhan đề Lăo
tử [Đạo đức kinh] lại là một tác phẩm về sau [.] tôi nghĩ rằng quyển
sách ấy được h́nh thành sau Huệ Thi [370-318 tr.C.N.] và Công Tôn
Long [325-250 tr.C.N] chứ không phải là trước [.]. Sở dĩ như thế, v́
sách Lăo tử chứa đựng nhiều đoạn bàn luận rất quan trọng về vô danh,
những bàn luận bắt buộc như trước hết người ta phải có ư thức về sự
hiện hữu của danh đă. [.] Quan điểm của tôi không bắt buộc tôi phủ
nhận mọi liên quan giữa nhân vật Lăo Tử và sách Lăo tử, v́ quyển
sách có thể chứa đựng một vài lời của Lăo Tử thật sự ấy”.(Phùng Hữu
Lan, Đại cương triết học sử Trung Quốc, Nguyễn Văn Dương dịch, tt.
105-106).
Dương
Chu: đạo gia thứ nhất
Trong khi
tạm thời chấp nhận luận cứ của Phùng Hữu Lan, ta dừng một chút để
nhắc lại Dương Tử, (k. 395-335 tr.C.N.).
Trong phần
6 về Nho giáo chúng ta có đề cập tới họ Dương, triết gia đứng đầu
“Vị ngă: v́ chính ta”, một học thuyết – cùng với Mặc gia – có ảnh
hưởng rất lớn thời Chiến quốc tới độ Mạnh Tử đă nhận xét rằng “Lời
lẽ trong thiên hạ không là Dương th́ là Mặc”. Chính Mạnh Tử (k.
372-289 tr.C.N.) tự cho ḿnh có nhiệm vụ “chống lại Dương Chu” bằng
lời khẳng định: “Đạo của Dương Chu và Mặc Địch không tắt th́ đạo của
Khổng Tử không sáng lên được”.
Dương Chu
là người xây dựng một chuỗi tư tưởng dùng làm hướng đi cho những ai
muốn sống đời thoát tục. Ông chủ trương giữ tṛn sinh mạng và sống
theo những điều chân chính, không vào thành nào đang lâm nguy, không
bao giờ đi lính, không để bất cứ vật nào ngoại thân làm thể xác ḿnh
lâm luỵ, không đổi một sợi lông chân để được lợi lớn trong thiên hạ,
v.v... Đặc biệt, tỏ ra ḿnh vô dụng tức là tự dùng ḿnh tối đa, v́
vừa lánh được đời vừa giữ được thân. Trong lịch sử phát triển Đạo
học, tư tưởng của Dương Chu được kể là đại diện cho giai đoạn thứ
nhất, Đạo đức kinh là giai đoạn thứ hai và Nam hoa kinh là giai đoạn
thứ ba.
Cho tới
nay, chưa t́m thấy tác phẩm nào của Dương Chu để lại. Hậu thế muốn
biết tư tưởng của ông phải lượm lặt mỗi nơi một ít trong các tác
phẩm khác, như Hàn phi tử, Lă thị xuân thu, v.v... Tuy không có cuốn
sách cổ nào kết án Dương Chu là người chủ trương hưởng lạc, dù trong
sách Liệt tử đôi khi ông bị mô tả là người theo khoái lạc cá nhân
chủ nghĩa cực đoan. Dưới đây là vài trích đoạn tư tưởng của ông, từ
thiên Dương Chu trong Liệt tử Xung hư chân kinh, Nguyễn Tôn Nhan
dịch, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1999.
“Dương Chu
đáp: [.] Người ta đă sinh ra th́ nên thuận theo tự nhiên, cứ thoả
măn hết ư thích của ḿnh để đợi giờ chết đến; giờ chết đến th́ nên
thuận theo tự nhiên, bao giờ chết cũng được, cứ sống cho đến lúc kết
thúc. Không có cái ǵ có thể dứt bỏ, không có cái ǵ không thể phóng
nhiệm, việc ǵ phải lo đời sống ngắn hay dài”. (t. 221);
“Dương Chu
nói: Bá Thành Tử Cao không chịu mất một sợi lông chân để t́m lợi cho
thiên hạ, v́ vậy ông ta vất bỏ ngôi vương, ẩn cư cày ruộng. Ông Đại
Vũ không mưu lợi ích ǵ cho riêng ḿnh, v́ vậy ông ta lao khổ quá độ
(đến nỗi) gầy rộc thân thể. Người thời cổ, mất một sợi lông chân mà
lợi cả thiên hạ, họ cũng không làm; lấy cả thiên hạ về phụng dưỡng
ḿnh, họ cũng không nhận. Mọi người đều không chịu mất một sợi lông,
mọi người đều không mưu ích lợi cho thiên hạ th́ thiên hạ sẽ thái
b́nh”. (t. 221);
“Dương Chu
nói: Người và trời đất âm dương giống nhau, cùng được ngũ hành bẩm
phú, là loài tối linh trong vật loại có sinh mệnh. Nhưng con người
không có nanh vuốt dùng để tự vệ, da thịt không đủ để giữ ǵn tự
thân, chạy không đủ mau để đuổi lợi trốn hại, không có lông cánh để
chống lại gió to giá rét; nhất định phải dựa vào ngoại vật để tự
nuôi sống ḿnh. Nhân vậy, phải dựa vào tài trí không dựa vào sức
mạnh. V́ vậy trí tuệ là điều đáng quí, có thể dùng nó mà bảo tồn
thân thể, sức mạnh sở dĩ thấp kém là v́ nó làm tổn hại đến ngoại vật.
Thế nhưng, thân thể không phải là sở hữu của ta, đă sinh ra không
thể không giữ ǵn nó. Ngoại vật không phải là ở hữu của ta, nhưng đă
có chúng th́ ta không nên diệt trừ chúng, và cũng không nên chiếm
làm của riêng. Thân thể cố nhiên là chủ thể của tính mệnh, dù không
bỏ ngoại vật cũng không chiếm ngoại vật làm của riêng. Chiếm ngoại
vật làm của riêng là cưỡng chiếm cái vốn thuộc về của chung thiên hạ,
đại khái chỉ có thánh nhân mới làm được! Đó gọi là cảnh giới đạo đức
tối cao vậy! (tt. 225-226);
Đôi nét
về Đạo đức kinh
Tác phẩm
triết học đầu tiên của Trung Hoa ấy dài khoảng 5.000 chữ. Thượng là
Đạo kinh gồm 37 chương, bàn về Đạo cái lớn lao mà từ đó sinh ra vũ
trụ. Hạ là Đức kinh gồm 44 chương bàn về Đức, cái là năng lượng của
Đạo lưu hành trong vũ trụ. Các bản lưu truyền từ hơn hai ngàn năm
nay chỉ khác nhau đôi chút một số chữ hoặc cách chấm câu. Hầu hết
học giả đều phỏng đoán rằng thời điểm h́nh thành sách là khoảng giữa
thời Chiến quốc nhưng cơ bản vẫn bảo lưu được tư tưởng chủ yếu của
Lăo Đam trước đó. Năm 1973, tại Trường Sa, ngành khảo cổ học t́m
thấy một bản bạch thư dưới một mộ cổ đời Hán, trong đó phần Đức kinh
được đặt lên trước phần Đạo kinh. Bản khai quật này có giá trị rất
lớn v́ hơi khác các bản hiện hành.
Đạo đức
kinh, với tên nguyên thuỷ là sách Lăo tử, được viết theo h́nh thức
câu dài ngắn khác nhau, giàu âm điệu và đọc lên nghe như thơ tự do
thời nay. Súc tích. Không chấm câu. Không lư luận. Không chứng minh
dài ḍng. Thể được dùng là cổ văn trường đoản cú, một loại văn ngắn
gọn, ít lời, nhiều ư, dễ thuộc ḷng nhưng không dễ hiểu. V́ thế, nó
có vẻ như chỉ để gợi ư và buộc người đọc phải suy nghiệm, mường
tượng, lắng nghe tiếng dội lại từ ḷng ḿnh. Người đọc có rất nhiều
cơ hội để tiếp nối quá tŕnh sáng tạo và tư duy, khiến tác phẩm sinh
động, thấm sâu và triển khai măi theo mỗi lần đọc. Và điều quan
trọng không phải là bản thân tác giả mà là truyền thống cùng nội
dung giảng dạy được tiêu biểu bằng danh xưng “Lăo Tử: Ông thầy già”.
Tám mươi
mốt chương của Đạo đức kinh y hệt 81 bài thơ dài ngắn khác nhau,
trong đó các châm ngôn đặt liền nhau ấy được thu thập suốt một quăng
thời gian khá dài từ “Ông thầy già” tới vô số đạo gia đệ tử nhiều
thế hệ sau. Chúng được sắp xếp tương đối trật tự theo từng chủ đề.
Gọi là Kinh, nghĩa là qui điển có thẩm quyền ứng xử với cái cốt lơi
của một truyền thống triết học hay lư thuyết của một tôn giáo. Ngoài
hai vấn đề chính là Đạo và Đức bao hàm vũ trụ luận và trí thức luận
của tác giả, sách c̣n chủ yếu bàn tới lối tiếp nhân xử thế đạt đạo
của bậc thánh nhân, cách thức cầm quyền trị nước, và nói sơ lược về
binh pháp, thiên văn, dưỡng sinh, v.v...
Vũ trụ
luận
Học thuyết
trọng tâm của Đạo đức kinh là Đạo và Đức. Tŕnh bày về Đạo/Đức cũng
là nói tới vũ trụ luận của Lăo Tử mà trước đó, tại Trung Hoa chưa
triết gia nào bàn luận có hệ thống.
Mở đầu sách,
Lăo Tử cho rằng Đạo là cái có tính rất nền tảng, nhưng nó ở quá bên
kia những diễn đạt bằng ngôn từ:
“Đạo nói
được không phải là Đạo thường (chân chính và bất biến) / Danh gọi
được không phải là danh thường (chân chính và bất biến)/ Vô danh là
khởi nguồn của trời đất / Hữu danh là mẹ của muôn vật”.
Không tin
trời v́ “Trời đất bất nhân, xem vạn vật như chó rơm” nên Lăo Tử nêu
ra Đạo là cái “tự nhiên hỗn thành trước khi có trời đất, im lặng
quạnh quẽ, đứng một ḿnh mà không đổi, chỗ nào cũng đi khắp mà không
mỏi, muôn vật trong vũ trụ đều gốc ở đó mà sinh ra”.
“Đạo sinh
một / một sinh hai / hai sinh ba / ba sinh vạn vật”.
Lăo Tử đếm,
có lẽ chỉ để tượng trưng, ba con số rồi phán như thế và ta hiểu tác
giả có ư nói rằng Đạo tuy không thể định nghĩa nhưng nó có trước vũ
trụ, và Đạo là nguồn gốc của vũ trụ. Theo Lăo Tử, trời đất muôn vật
do Đạo mà sinh thành. Đạo là cái hỗn mang chưa phân, là cái nguyên
thuỷ và cũng là sự vận động hằng cửu mà ta không thể cảm, không thể
biết. Tuy vô danh vô h́nh, nhưng Đạo là căn nguyên và cốt lơi của
muôn vật. Muôn vật đều khởi đi từ Đạo, đi theo Đạo và quay về Đạo.
C̣n Đức?
Chữ Đức ở đây không phải là đức hạnh hiểu theo lối luân lư thông
thường, thuộc phạm trù tự tu dưỡng và giao tế xă hội. Ta phải hiểu
theo ư nghĩa của Lăo Tử là “mầm sống ngấm ngầm” trong vạn vật, có
phần nào giống như “đức tính” bẩm sinh.
“Nên đạo
sinh ra / đức nuôi nấng / trưởng thành dưỡng dục / nuôi lớn thành
thục / chở che vạn vật / tuy nuôi mà không chiếm hữu / tuy làm mà
không cậy công / cứ để tự nhiên không chủ động / đó chính là cái đức
sâu thẳm”.
Người sống
có Đức tức là sống theo Đạo. Người bắt chước đất, đất bắt chước trời,
trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước tự nhiên. Cái Đạo “phi thường Đạo”
được Lăo Tử nói đến là thiên nhiên, năng lượng sức sống và sự vận
hành của thiên nhiên. Cũng có thể gọi là tự nhiên hay thiên lư. Và
Đức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận theo thiên lư mà lưu hành.
Trong cái Đạo vũ trụ ấy, thiên nhiên và những qui luật của chúng tập
hợp thành cái trụ cốt, cái bản thể, c̣n đất trời và sinh linh, v.v...
là những thực thể có vị trí thích hợp và chức năng thích hợp, thao
tác theo một thể thức tự nhiên.
Tri thức
luận
Con người
chỉ có thể biết tới Đạo ấy bằng trực quan, không bằng lư trí. V́
chống lại lư trí nên Lăo Tử không lập luận về Đạo. Theo tác giả Đạo
đức kinh, bằng lư trí ta nh́n cuộc đời với con mắt nhị nguyên chủ
nghĩa, khiến phân chia cái duy nhất thể thành hai: thế giới nội tâm
và ngoại giới, con người với thiên nhiên, thế gian và vũ trụ, thiện
và ác, vinh và nhục, đúng và sai, cao và thấp... làm ta xa ĺa Đạo.
Phủ định kinh nghiệm cảm giác v́ “càng đi xa, càng biết ít”, Lăo Tử
cho rằng với phương pháp nhận thức tâm linh, được gọi là Huyền lăm,
nghĩa là giữ cho nội tâm hư tĩnh để có thể cảm nhận sự vật tới cả
mặt bên kia, mặt bí nhiệm của chúng:
“Thường có
bỏ hết được ḷng ham muốn, mới biết được chỗ huyền diệu của đạo”.
“Người giữ
được đạo th́ không ra khỏi cửa mà biết được muôn vật trong thiên hạ,
không nh́n ra ngoài cửa sổ mà biết được đạo trời đang thống trị thế
gian: người ta hễ muốn càng đi xa bao nhiêu th́ lại càng biết ít bấy
nhiêu”.
“Càng học
càng biết nhiều mối đă vô ích mà c̣n hại cho ḿnh; ngược lại, đem
tâm trí chú mục vào đạo th́ cái biết càng ngày càng ít đi, càng ít
măi cho đến bậc vô vi; tuy vô vi nhưng không có cái ǵ là không chịu
ảnh hưởng của ḿnh”.
Lăo Tử
không mất công giảng giải về Đạo. Triệt để chống tri thức và trí
năng, Lăo Tử cho rằng tri thức không giúp cho con người sống theo
Đạo với Đức. Nó chỉ khiến cuộc sống thêm phức tạp. Nó chế tạo cơ khí
khiến con người phát sinh ‘cơ tâm’. Nó bày đặt lư thuyết này nọ đưa
tới xung khắc... Trí năng khiến người ta phân biệt cái hay cái dở
nên sinh ra ham muốn. “Huệ trí xuất, hữu đại nguỵ: v́ trí mưu xuất
hiện mới có cực kỳ dối trá”. Lăo Tử chủ trương bỏ trí năng, bỏ văn
tự, bỏ việc dạy dỗ dân, để dân chúng sống hồn nhiên mộc mạc.
Có lẽ v́
hiểu rơ giới hạn truyền đạt của ngôn ngữ nên Lăo Tử không chịu nói
nhiều về Đạo. Tóm lại, Đạo, cái lư tự nhiên trong con người và vũ
trụ, th́ hư vô, mênh mông, sâu thẳm và ngập tràn tới độ nằm ngoài
tầm nắm bắt của lư trí, nhận biết của tri thức và diễn đạt của ngôn
từ.
Mâu
thuẫn và phản phục
Nh́n sự vật
thường xuyên biến đổi, Lăo Tử nhận ra luật mâu thuẫn nơi vẻ ngoài
của vạn vật:
“Cái yên
tĩnh là chủ của cái xáo động, cái cao quí lấy cái hèn mọn làm gốc,
cái cao lấy cái thấp làm gốc, cái thật đầy th́ giống như trống không,
con người thật khôn khéo th́ trông giống như vụng về...”
Vạn vật bên
ngoài th́ mâu thuẫn nhưng bên trong th́ phản phục, “vật ǵ phát tới
cực điểm th́ phản hồi, hễ tăng tới cực độ th́ phải hao giảm – trăng
tṛn rồi lại khuyết, hết mùa đông phải sang xuân... Cùng tắc biến,
biến tắc thông...”
Trong cùng
một lúc bị chi phối bởi luật mâu thuẫn và luật phản phục, vũ trụ vận
hành với Đạo. Vạn vật đều nương tựa nhau mà sinh tồn và tương tác,
tạo điều kiện cho nhau “có và không cùng sinh, khó và dễ cùng thành,
dài và ngắn cùng h́nh, cao và thấp cùng nghiêng, thanh và âm cùng
hoạ, trước và sau cùng theo”, và nhất là “Trở lại là cái động của
Đạo”.
Đi theo
con đường Đạo
Tuy Đạo
không thể hiểu thấu, không thể bàn luận, không thể diễn tả, nhưng
Lăo Tử cho rằng loài người chỉ tự ḿnh phục vụ tốt nhất bằng cách đi
theo con đường Đạo. Nếu gặp t́nh cảnh nan giải cần phải xoay xở, th́
đă sẵn có Đức. Lúc ấy bạn chỉ việc sống có Đức. Sống có Đức nghĩa là
sống theo bản tính của ḿnh, không phân biệt nhị nguyên, không khiên
cưỡng; sống tự nhiên “vi vô vi: làm một cách tự nhiên”. Và như thế
tức là bạn đi đúng con đường vận hành của Đạo.
Đức là cái
biểu hiện sự có mặt của Đạo trong các sự vật cá thể. Đức là năng
lượng của Đạo thao tác trong thế giới. Lời phát biểu ấy không chỉ có
tính siêu h́nh học về nguyên lư tổng quát quyết định cách hiện hữu
của thế giới, nó c̣n mang tính thực tiễn. Phùng Hữu Lan phân tích
rằng:
“Theo sách
Lăo tử th́ đạo là cái bởi đó mọi vật sinh ra. Khi sinh ra, riêng mỗi
vật đều nhận từ cái ‘Đạo’ phổ biến một phần gọi là ‘Đức’. ‘Đức’ có
nghĩa là ‘tiềm thế’ hay ‘đức tính’, cả hai đều dùng theo nghĩa vừa
đạo đức vừa phi đạo đức của từ ngữ. ‘Đức’ của mỗi vật là cái mà tự
nhiên đă phó cho riêng mỗi vật. Lăo Tử nói: Mọi vật đều tôn Đạo và
quư Đức (ch. 51), v́ Đạo là cái bởi đó mọi vật sinh ra, và ‘Đức’ là
cái làm cho mọi vật trở thành vật”.
Nếu ta đi
theo con đường Đạo, tức là hành động một cách tự nhiên, lúc ấy ta sẽ
dồi dào Đức. Đây là một sức mạnh tự nhiên, khiến ta ung dung hành
động mà phát huy hết tiềm năng của nó. Nếu Đạo là nước đang chảy th́
Đức là bản tính, là năng lượng, là sức mạnh của ḍng nước ấy, tác
động ở vị trí đặc thù trong sự tuôn trào của Đạo.
So với
triết Tây
Nếu hiểu
đúng ư của Lăo Tử mà nghĩ rằng Đạo có tính sáng tạo, ta không nên
đồng hoá Đạo ấy với Thượng đế của Tây phương. Trong tư tưởng Do
thái-Kitô giáo và ngay cả Hồi giáo, Gia-vê hay Thiên Chúa hay Đấng
Allah, được hiểu là đấng sáng thế, một hữu thể, bằng cách nào đó,
độc lập và ngoại tại đối với sự sáng tạo của
ngài.
Trái lại, Đạo của Đạo đức kinh là nền tảng sáng tạo tự phát và là
căn bản của vạn vật.
Thần học Do
thái-Kitô giáo cũng cho rằng chính Thiên Chúa là sức mạnh chủ yếu,
con người chỉ là phụ thuộc. Khi người tín hữu hoàn toàn qui thuận
Thiên Chúa, sống theo “thánh ư quan pḥng”, lúc ấy, đương sự hội
nhập vào sức mạnh vô song của Thiên Chúa.
Về khái
niệm Đức của Lăo Tử như là bản tính tự nhiên tiềm ẩn trong mỗi vật
hay như là cái bởi đó mỗi vật trở thành vật, ta có thể thăm ḍ và
đối chiếu với khái niệm “dạng thức” (form) của Aristotle khi triết
gia Hi Lạp ấy cho rằng mỗi vật đều tiến hoá theo một chiều hướng
riêng biệt của nó, tiềm ẩn trong mầm của nó, như hạt bắp không thể
nào mọc thành cây lúa.
Cái Hỗn
mang trong Đạo đức kinh của Lăo Tử có cái ǵ đó từa tựa Chaos của
Hesiod (khoảng tk 8 tr.C.N.) trong Theogony (Thần linh phả hệ) của
thần thoại Hi Lạp.
Chữ Đạo của
Đạo đức kinh cũng làm ta liên tưởng đến chữ logos của Heraclitus (?-
460 tr.C.N.). Theo nhà triết học Hi Lạp cổ đại thời tiền Socrates ấy,
logos (nguyên ngữ Hi Lạp có nghĩa là lư trí), là nguyên lư của trật
tự và khả tri; nó chi phối sự biến đổi của vạn vật. (Chú ư: Khái
niệm logos của Heraclitus có lẽ khác với khái niệm Logos: Ngôi Lời,
chỉ Đức Giê-su, trong Tân ước theo Gio-an (chương 1) của Kitô giáo,
và chắc chắn khác với logos trong logoscentrism: quan niệm lấy ngôn
từ làm trung tâm, thuật ngữ Jacques Derrida (1930-2007) dùng để gọi
các tác phẩm triết học từ Plato tới Heidegger).
Tŕnh
bày theo cách khác
Khi Lăo Tử
mô tả Đạo là “căn nguyên và mẹ của vạn vật”, ta thấy cụm từ ấy có
tính định chuẩn để chỉ mọi sự hiện hữu. Đạo thành tựu mọi sự mà
không dùng tới lực tác động, cung cấp sự sống mà không sở hữu những
ǵ nó sinh thành. Đạo chính là cốt lơi của tính tự nhiên, qua đó vạn
vật trở thành cái chúng đang là. V́ vô biên nên Đạo sản sinh ḍng
chảy liên tục của các sự vật hữu hạn và thông thường.
Có một h́nh
ảnh dễ hiểu thường được dùng để so sánh với Đạo, đó là nước. Nước
mềm mại uyển chuyển, nhưng có sức mạnh vô song. Nước có khả năng làm
sụp đổ thành quách và có sức tiêu hao tới độ “nước chảy đá ṃn”. Đi
theo Đạo tức là t́m thấy con đường tự nhiên, sống như nước, để đạt
được cứu cánh với những phẩm tính cũng tự nhiên không kém.
Lăo Tử c̣n
dùng đến h́nh ảnh của ống bễ ḷ rèn. Bên trong ống trống mà không
cùng, càng thụt cho hơi ra ngoài để làm hồng lửa th́ ống càng thông
và lại đầy hơi. Cũng không thể mô tả Đạo như một ‘hữu thể’; nó cũng
chẳng phải ‘phi hữu thể’. Đạo là cái từ đó xuất hiện các hữu thể. Về
mặt này, Đạo của Lăo Tử giống với khái niệm “sunyata: tính không”
của Phật giáo Đại thừa. Đạo có tính phổ quát và tràn ngập khắp nơi
nhưng không ǵ có thể huỷ hoại nó.
Về mặt siêu
h́nh học, Đạo biểu hiện một bối cảnh im lặng từ đó vạn vật xuất hiện
và qui hồi. Không là cái hiện hữu tách biệt, Đạo là cơ sở đến và đi
của mọi vật hiện hữu. Theo Đạo học, lặng yên có trước chuyển động,
và như thế tĩnh hiện hữu trước động, do đó Đạo trong trạng thái tĩnh
là căn nguyên của mọi sự. Dù tự thân bất động, Đạo cống hiến cơ sở
cho hết thảy các chuyển động khác. Trong ư nghĩa ấy, Đạo là cái có
tính tự nhiên tuyệt đối:
“Trở về là
cái động của Đạo, yếu nhược là cái dụng của Đạo, vạn vật trong thiên
hạ sinh ra từ ‘có’, ‘có’ lại sinh ra từ ‘không’’.
So với
triết Tây
Hiểu Đạo
của Lăo Tử như thế th́ thấy nó có điểm tương đồng với một động cơ
không bị chuyển động và một nguyên nhân không bị tác động của
Aristotle và Thomas Aquinas. Đạo thao tác, một cách chính xác, như
là nền tảng không bị chuyển động và không bị tác động của bất cứ cái
nào khác.
Khác biệt
duy nhất và chủ chốt ở đây là các nhà tư tưởng Tây phương liên tục
cho rằng nguyên nhân không bị tác động ấy là Thượng đế, do đó, họ
đặt Thượng đế đối lập với các sự vật được tạo dựng, trong khi đó,
đối với Đạo học và các triết thuyết Đông phương khác, cội nguồn của
sự sống không bị đặt đối lập với các hữu thể cá thể, mà được xem là
bản tính chân chính của chúng. Càng nhận biết Đạo tức là càng nhận
biết cái là bản thân ḿnh, thí dụ, người Phật giáo Đại thừa càng
nhận biết và sống theo Phật tính (buddha-svabhâva) trong bản thân
ḿnh, hay người Đạo giáo càng nhận biết Đạo th́ càng sống mộc mạc
theo bản tính tự nhiên của ḿnh. Khái niệm ấy tương tự bán phiếm
thần thuyết (panentheism) của Tây phương: Thượng đế là mọi sự nhưng
không bị đồng hoá với mọi sự.
Cái tĩnh và
động của Đạo trong Đạo đức kinh cũng làm ta liên tưởng tới một câu
của Isaiah, tiên tri Do Thái sống khoảng thế kỷ 8 tr.C.N khi ông nói
tới quyền năng của Thượng đế, đấng sáng tạo vũ trụ: “Trong tĩnh lặng
và tự tin sẽ hiện hữu sức mạnh của ngài” (Isaiah 30:15).
Sống mộc
mạc hồn nhiên
Lấy vũ trụ
quan về Đạo làm cơ sở và áp dụng Đức tức là vận dụng Đạo vào cuộc
sống đời thường. Người mà mọi động thái đều thông suốt lẽ Đạo được
Lăo Tử gọi là thánh nhân. “Ḷng thánh nhân vô thường, dùng ḷng trăm
họ làm ḷng ḿnh. Thiện với người thiện, thiện cả với người không
thiện vậy nên ai cũng thiện. Tin người đáng tin, tin cả người không
đáng tin vậy nên ai cũng đáng tin. Thánh nhân không lo nghĩ không
ham muốn, hồn nhiên v́ mọi người. Thánh nhân như trẻ sơ sinh”.
Cực lực
phản bác Nho giáo, Lăo Tử khinh miệt những phẩm tính của “bậc quân
tử” và cho rằng chúng chỉ làm suy đồi Đạo và Đức. “Mất Đạo mới có
Đức. Mất Đức mới có Nhân. Mất Nhân mới có Nghĩa. Mất Nghĩa mới có Lễ.
Lễ là sự suy đồi của trung tín, bước đầu của rối loạn”. Và “Nếu
thiên hạ đều biết đẹp là đẹp, ấy là có xấu. Nếu thiên hạ biết thiện
là thiện, ấy là có bất thiện”.
Theo Lăo Tử,
sống với Đạo là sống đúng nguyên lư “quân b́nh”, luôn luôn chừng mực,
không bao giờ thái quá cũng chẳng lúc nào bất cập. V́ “muốn thu rút
lại là sắp mở rộng ra; muốn làm yếu lại là sắp làm mạnh lên; muốn
vứt bỏ là sắp đưa lên; muốn cướp đoạt là sắp cho thêm. Đó là sáng
suốt tinh tế, mềm yếu thắng cứng mạnh”. Như thế, sống hợp với Đức
th́ ở ngoài ṿng phân biệt thiện ác.
Noi theo
gương mẫu thánh nhân và giữ nguyên lư “quân b́nh”, người theo Đạo
không ham can thiệp vào việc đời. Nếu cần phải hành động th́ “vô
vi”. Vô vi thoạt nghe có vẻ như không làm ǵ cả. Nhưng vô vi nằm
trong câu “Vi vô vi tắc vô bất trị: làm vô vi là không ǵ không làm”,
phải được hiểu là “làm mọi sự mà như không làm”, hoặc nói gọn là
“làm mà như không làm”, nghĩa là làm một cách tự nhiên, không giả
tạo, không cưỡng chế, không rán sức. V́ cũng như Đạo, vô vi là hành
động không có vẻ tác động nhưng không có ǵ không bị tạo tác. “Cho
nên bậc thánh nhân, lấy vô vi mà ứng xử, dùng bất ngôn mà giáo hoá,
khiến vạn vật tự làm”.
Cuộc đời cứ
thế tự nhiên mà sống. Đạo th́ vô danh, nguyên sơ, mộc mạc; Đức cũng
là cái chân chất theo liền với Đạo, nên người có “đức” th́ sống càng
giản dị càng tốt. Bên ngoài mộc mạc nhàn nhă, bên trong phong phú
thâm hậu v́ luôn luôn tươi mới theo vận hành của thiên nhiên. Đây là
một lối sống hồn nhiên, không dựa vào lư trí, cũng không dựa vào tri
thức. Đối với người sống làm một với Đạo, không có nhu cầu phấn đấu
cho các cứu cánh nhân tạo. Trạng thái lư tưởng ấy được gọi là “Minh:
sáng suốt”, trong đó ta nhận biết luật tự nhiên và để cho hành động
của ḿnh diễn ra phù hợp với luật ấy.
V́ Đạo
không thiên vị ai nên ta trước tiên sống với một chữ “tư”, một t́nh
thương yêu giúp đỡ mọi người, không phân biệt kẻ lành người dữ. Ta
nên trọng “tồn” và “tĩnh”’. Tồn là khiêm tốn, đừng mong phát đạt tới
cực điểm. Hễ hơi quá th́ nên giảm rút ngay. Tĩnh là ung dung nhàn
nhă, là “vô vi”. Cứ thuận theo tự nhiên, chớ ra tay nhắm chuyện tạo
thời thế v́ chẳng thể nào xoay chuyển nổi cơ trời, cái được hiểu
theo nghĩa của Lăo Tử là quá tŕnh diễn biến tự nhiên.
Người hiểu
Đạo luôn luôn giữ phận ḿnh hèn mọn. “Giữ chậu đầy hoài, chi bằng bỏ
thôi. Mài cho bén nhọn, đâu bén măi hoài. Vàng ngọc đầy nhà, đâu giữ
được măi. Sang giàu mà kiêu, tự rước hoạ tai. Công thành sớm lui, đó
là đạo trời”. Thông minh đại trí th́ nên sống như kẻ ngu ngơ đần độn.
Không khoe khoang, không tranh đua với người khác. Minh triết là an
mệnh, giữ thinh lặng, sống lặng lẽ với thiên nhiên. Không ôm hết vào
ḿnh, không tích luỹ của cải. “Thánh nhân giấu thân ở sau nên thân ở
trước, đưa thân ra ngoài nên thân được c̣n. Phải chăng v́ không
riêng tây mà thánh nhân làm được điều riêng tây”.
Tóm lại,
mềm th́ thắng cứng, yếu th́ thắng mạnh. Sống như nước. Nước làm lợi
cho mọi vật mà không tranh giành với vật nào, ở chỗ thấp trũng chẳng
ai ưa nên cũng chẳng ai ganh. Trong thiên hạ không có ǵ nhu nhược
như nước nhưng dùng để công phá những cái chắc và mạnh th́ không ǵ
có thể hơn nước.
Lư
thuyết chính trị
Người đọc
Đạo đức kinh có thể t́m thấy rất nhiều lời dạy của Lăo Tử về thuật
cai trị, tới độ có người cho rằng dụng ư của Lăo Tử là để lại cho
đời một cuốn cẩm nang trị quốc. Ở đây, Lăo Tử h́nh dung một nước nhỏ
đất không rộng, dân không đông, nhưng được đặt dưới sự cai trị lư
tưởng của thánh nhân. Để dễ tiếp cận lư thuyết chính trị của Lăo Tử,
ta có thể rút từ những điều đă tŕnh bày rải rác trong các đoạn trên
thành ba điểm:
Tư tưởng
xuất thế của Đạo gia hoàn toàn đối lập với tư tưởng nhập thế của Nho
gia;
Đạo đức học
của Lăo Tử không đặt căn bản trên các khái niệm luân lư theo lối
thiện ác, mà trên việc hành xử theo luật tự nhiên;
Con người
lư tưởng th́ “vô vi”, sống hồn nhiên mộc mạc.
Lấy khái
niệm Đạo và Đức ấy làm hệ qui chiếu, Lăo Tử cho rằng thế giới rối
loạn v́ người cai trị làm quá nhiều việc. Thế nên thánh quân là kẻ
cứ bỏ mặc cho mọi sự diễn biến, và tốt nhất là đừng làm ǵ cả. Chính
quyền cứ theo tự nhiên mà giữ giềng mối, “vô vi nhi trị: trị mà
không trị tức là trị vậy”. Cứ theo Đạo ấy mà trị nước v́ nếu dùng
trí thuật mà trị nước tức là làm hại nước. “Không làm ǵ cả mà dân
tự hoá thành hay, cứ yên lặng mà dân tự ngay thẳng”. Ta “vô sự mà
dân tự giàu có. Ta không ham muốn mà dân trở thành chất phác”. Chính
quyền do thánh nhân lănh đạo gồm những người mộc mạc, ăn ở giản dị
và cần kiệm, không xa hoa, Họ không can thiệp vào chuyện của người
dân, không dựa vào thánh nhân để dạy dỗ dân, không tôn quí hiền tài,
không vận dụng lư trí để đối xử với dân. Luật pháp phải rộng răi và
uyển chuyển v́ càng tăng thêm luật lệ, dân càng bị trói buộc khổ sở.
Trọng dụng hiền tài chỉ làm dân tranh nhau để được tiếng là người
hiền. “Dứt thánh bỏ trí, dân lợi trăm phần. Dứt nhân bỏ nghĩa, dân
lại thảo lành. Dứt xảo bỏ lợi, trộm cướp không c̣n”.
Ở trong
nước, chính quyền không nên dùng h́nh phạt răn đe, nhất là đem án tử
h́nh ra doạ dân, v́ tới một lúc nào đó dân không c̣n sợ nữa. Đối với
bên ngoài, phải cố hết sức tránh nạn đao binh. Lăo Tử triệt để bác
bỏ chiến tranh. Cực chẳng đả phải dùng th́ nên điềm đạm, chừng mực.
“Nước lớn mà hạ ḿnh trước nước nhỏ th́ được nước nhỏ thần phục,
nước nhỏ mà hạ ḿnh trước nước lớn th́ tất được nước lớn che chở”.
Tóm lại,
theo Đạo đức kinh, phép trị quốc an dân hay nhất để đem lại phúc lợi
cho dân chúng là càng ít can thiệp càng tốt, cứ để mặc dân sống hồn
nhiên mộc mạc. Cứ để cho dân “ngu”, hiểu theo nghĩa giản dị và hồn
nhiên như trẻ thơ. “Thánh nhân coi trăm họ như trẻ nhỏ” và thánh
nhân “không làm cho dân sáng mà làm cho dân ngu”.
So với
triết Tây
Thật thú vị
khi so sánh lư thuyết chính trị của Lăo Tử với của Plato. Tưởng quốc
của Lăo Tử nhỏ, được cai trị bởi vị vua là thánh nhân sống mộc mạc,
có điểm tương đồng với tưởng quốc của Plato trong Republic (Nền cộng
hoà) cũng nhỏ và được cai trị bởi minh quân là triết gia, sống thanh
đạm.
Ngoài hai
điểm đó ra, có lẽ mọi cái c̣n lại đều hoàn toàn tương phản. Trong
tưởng quốc của Plato, mọi người sống theo tôn ti trật tự với bốn
tầng lớp nhất định, mọi sự đều được qui hoạch chi li và tiến hành
chặt chẽ, nhất là giáo dục, và kể cả sinh sản có kế hoạch!
Ta cũng có
thể đối chiếu ư tưởng trở về lối sống tự nhiên của Lăo Tử với chủ
trương sống vơi thiên nhiên (1712-1778) của Jean Jacques Rousseau
của Pháp, Henry David Thoreau (1817-1862) của Mỹ.
III.
Biến dịch và Đạo
Theo Đạo
học, vạn vật đang trong trạng thái biến đổi liên tục; chính nhờ Đạo
mà trạng thái ấy được quân b́nh. Ở điểm này, tư tưởng Trung Hoa
không khác bao nhiêu so với tư tưởng Ấn Độ và Heraclitus thời tiền
Socrates: tất cả đều thừa nhận rằng tối hậu, chẳng có ǵ cố định mà
chỉ là một quá tŕnh đang tuôn chảy và biến đổi. Tuy thế, điểm khác
biệt là tại Trung Hoa, có một tác phẩm kinh điển cổ đại được dùng
làm kim chỉ nam và phương tiện để thăm ḍ trạng thái ấy, đó là kinh
Dịch.
Dịch là ǵ?
Dịch có ba
nghĩa:
Biến dịch.
Thay đổi
Giao dịch.
Trao đổi qua lại để sinh sinh hoá hoá.
Bất dịch.
Cực thịnh th́ tới suy. Đi hết chu kỳ th́ phản phục.
Kinh có
nghĩa là văn bản chính thống và thẩm quyền, dùng để triển khai hoặc
tham chiếu.
Từ một cuốn
sách dùng để bói toán, Kinh Dịch với sự đóng góp của nhiều người
thuộc nhiều học phái ở vào các thời đại khác nhau, trải dài cả ngàn
năm, đă trở thành một tác phẩm triết học tổng hợp vũ trụ quan và
nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa. Nói như Huỳnh Thúc Kháng trong
“Lời giới thiệu” cuốn Chu Dịch của Phan Bội Châu rằng:
“Xưa nay,
nhiều người xem Kinh Dịch như sách dùng bói toán, việc số, đă không
ích cho đời mà lại dẫn người đời vào cơi mê tín. Nay có bản sách này,
không khác ǵ dọn gai gốc mà thấy đường bằng, vẹt mây mù mà thấy mặt
trời, làm cho chân tướng triết học của Thánh hiền Đông phương bị che
lấp mấy trăm đời, nay được bày tỏ một cách sáng suốt[.]” (Sào Nam
Phan Bội Châu, Chu Dịch, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1998, tt
7-8).
Tác giả tập
thể và nội dung
Như đă đề
cập, tác giả của Kinh Dịch gồm nhiều người thuộc nhiều thế hệ. Những
đóng góp của họ không theo một tŕnh tự nhất định mà xen kẽ nhau. V́
thế, chúng tôi gộp chung nội dung và tác giả vào một tiểu đề. Phần
tŕnh bày sơ lược dưới đây, chúng tôi sắp xếp chủ yếu dựa theo những
sưu khảo của Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm đặc sắc được ông biên
soạn vào cuối đời ḿnh: Kinh Dịch: Đạo của người quân tử, Nxb Văn
Học, Hà Nội, 1997.
Với quá
tŕnh h́nh thành kéo dài hàng ngàn năm, biến một sách bói thành sách
triết, Kinh Dịch gồm hai phần: Kinh và Truyện.
A. Dịch
Kinh, c̣n gọi là Chu Dịch
Căn bản là
Bát quái gồm tám quẻ: Càn – trời; Khôn – đất; Tốn – gió; Chấn – sấm;
Khảm – nước; Li – Lửa; Cấn – núi; Đoài – chầm (đầm nước). Theo
truyền thuyết, người tạo ra Bát quái là Phục Hi, một trong ba vị vua
“Tam Hoàng” thời Thái cổ, trước C.N. hơn 30 thế kỷ. Ngoài sáng chế
Bát quái, Phục Hi c̣n dạy dân săn bắn, đánh cá, chăn nuôi, văn tự và
khế ước. Hai vị vua kia là Toại Nhân dạy dân cọ gỗ lấy lửa và Thần
Nông dạy dân cày cấy. Như thế, có lẽ ba danh xưng ấy đặt ra không
phải để chỉ người, mà là tượng trưng cho ba giai đoạn tiến hoá trong
thời thái cổ.
Mỗi quái là
một kết hợp cặp ba các vạch liền và vạch đứt, có lẽ phỏng theo vết
nứt từ chỗ lơm bị dùi lỗ trên yếm rùa rồi đem hơ lửa để xem điềm
triệu. Bát quái do Lưỡng nghi sinh Tứ tượng mà thành. Thực tế, ta
không thể biết Bát quái do ai tạo ra và vào thời nào, nhưng hẳn
chúng đă có trước đời Văn Vương nhà Chu. Bát quái được xếp theo h́nh
tṛn bốn cặp đối chiếu nhau, làm thành Bát quái đồ.
Tây Bá Cơ
Xương (tức Văn Vương), lúc c̣n là chư hầu nhà Ân, bị vua Trụ nghi
ngờ có ư đồ tạo phản, bắt giam ở ngục Dữu Lư, năm 1144 tr.C.N. Có
thể ông là người chồng từng cặp quẻ đơn của Bát quái lên nhau thành
64 quẻ kép, gọi là Trùng quái. Chính ông đặt Thoán từ, cũng gọi là
Quái từ, rất ngắn gọn cho mỗi quẻ. Nhờ thế khi bói, nó có ư nghĩa vi
diệu cùng lời giải minh bạch và thống nhất. Thí dụ Quẻ Càn, Văn
Vương viết “Càn nguyên hanh lợi trinh”, nghĩa là quẻ đó có những đức
“đầu tiên cả, hanh thông, lợi tốt, chính bền”.
Chu Công
Đán, con thứ tư của Văn Vương, thường được gọi là Chu Công, trong
thời gian làm phụ chính cho cháu là Thành Vương (1104-1068), xếp mỗi
Trùng quái ra 6 hào, thành 384 hào và đặt Hào từ cho mỗi hào. Thí dụ
quẻ Càn, dưới hào sơ (hào 1), Chu Công viết “Tiềm long vật dụng”,
nghĩa là “rồng đă hiện lên cánh đồng, ra mắt kẻ đại nhân th́ lợi”.
Tới đây, ta
đă có phần Kinh. V́ nó xuất xứ từ nhà Chu nên có tên sách là Chu
Dịch. Tuy thế, Dịch Kinh cơ bản vẫn c̣n là cuốn sách bói.
B. Dịch
Truyện
Gồm những
chú giải, biến Dịch Kinh thành cuốn sách triết học cơ bản của Trung
Hoa. Thập Dực, mười cánh rẽ quạt của các quẻ, thật sự chỉ có Thất
Dực: bảy truyện. Ngày xưa, chữ Truyện dùng để chỉ lời giải thích
kinh. Thập Dực gồm 10 thiên nên c̣n gọi là Thập Truyện. Xét theo
giọng văn chỗ rất thâm thuư, chỗ quá tầm thường, th́ có thể tác giả
của chúng có cả Nho gia lẫn Đạo gia với các tŕnh độ cao thấp khác
nhau. Măi tới đời Hán mới xuất hiện danh từ Thập Dực. Do đó, truyền
thuyết về việc Khổng Tử viết Thập Dực có lẽ không có cơ sở. Thập
truyện gồm:
Thoán
truyện, 2 thiên. Tác giả sống thời Chiến quốc (sau Văn Vương có thể
bảy tám trăm năm), đă khiến cho kinh Dịch bắt đầu mang ư nghĩa triết
lư, không c̣n là sách bói.
Tượng
truyện, 2 thiên. Có thể viết trong thời kỳ Tần Thuỷ Hoàng đốt sách
của bách gia chư tử nhưng để yên Chu Dịch v́ xem nó là sách bói. Tác
giả là Nho gia, có lẽ nhân thấy dân chúng ham mê bói toán nên đưa tư
tưởng của Đại học, Trung dung và Luận ngữ vào để phổ biến và giáo
hoá.
Hệ từ
truyện, 2 thiên. C̣n gọi là Đại Truyện. Dài ḍng, phong phú và đa
tạp. Có lẽ do một nhóm môn sinh nhiều đời sau của Khổng Tử ghi chép.
Văn ngôn
truyện, 1 thiên. Ngắn gọn, sâu sắc. Có lẽ do Nho gia viết.
Thuyết quái
truyện, 1 thiên. Nhiều chỗ tối nghĩa, dùng để bói. Nội dung có lẽ có
từ cổ đại, trước thời Khổng Tử. Về sau được môn sinh của ngài chép
thêm vào.
Tự quái
truyện, 1 thiên. Giảng về thứ tự các quẻ. Tác giả có lẽ là một Đạo
gia đời Hán.
Tạp quái
truyện, 1 thiên. Giải thích linh tinh một số quẻ. Tác giả có thể là
một người đời Hán.
Để bạn đọc
có dịp nếm chút mùi vị của Thập Dực, xin đan cử một thí dụ: Quẻ Càn.
Thoán Từ
chỉ có năm chữ: “Càn, Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh”.
Thoán
Truyện giải nghĩa: “Đại tai càn nguyên, vạn vật tư thuỷ, năi thống
thiên; vận hành vũ thi, phẩm vật lưu h́nh. Đại minh chung thuỷ, lục
vị thời thành, thời thừa lục long dĩ ngự thiên. Càn đạo biến hoá,
các chính tính mệnh, băo hợp thái hoà, năi lợi trinh, thủ xuất thứ
vật, vạn quốc hàm ninh”.
Theo Nguyễn
Hiến Lê,
“Nghĩa là:
đức ‘nguyên’ của càn lớn thay, vạn vật đều nhờ nó mà bắt đầu nảy nở,
nó thống nhất thiên đạo (đó là giảng về đức nguyên). Càn làm ra mây
khiến cho mây biến hoá, làm ra mưa, khiến cho mưa thấm nhuần khắp,
mà vạn vật thành h́nh thành sắc, sinh trưởng đến vô cùng (đó là
giảng về đức hạnh).
“Bậc thánh
nhân (đại minh: cực sáng suốt) thấy được cả trước sau, cả sáu hào
của quẻ Càn, mỗi hào có một vị (ngôi) nên thuận thời mà hành đạo,
như cưỡi sáu con rồng (ám chỉ sáu hào dương của quẻ càn) mà thống
ngự cả vùng trời (khuyên chúng ta nên tuỳ thời mà hành động, lúc nào
nên ẩn th́ ẩn, nên hiện th́ hiện, nên tĩnh th́ tĩnh, nên động th́
động). Tóm lại là đạo Càn biến hoá, khiến cho vật ǵ cũng giữ được
tính mệnh trời phú, giữ được cái nguyên khí cho thái hoà (thái là
rất). Bậc thánh nhân đứng đầu muôn vật (theo đạo Càn) th́ vạn nước
đều b́nh an vô sự (đó là giảng về hai đức lợi, trinh)”.
(Nguyễn
Hiến Lê, sách đă dẫn, tr. 47-48).
Quá tŕnh
biến hoá của Kinh Dịch phù hợp với óc thực tế và tính quyền biến của
dân tộc Trung Hoa. Nhân ư thích huyền thoại của dân chúng, họ qui
cho Phục Hi là tác giả, người chiêm nghiệm từ Hà đồ do ngựa thần đội
lên từ sông Hoàng Hà, và Lạc thư trên lưng rùa thần hiện lên ở sông
Lạc, để vạch ra Bát quái. Nhân ḷng quá kính ngưỡng vị vọng thế giá
của người đọc, họ qui cho Khổng Tử biên soạn phần Thập Dực. Nhân
tính ham chuộng bói toán của đại đa số quần chúng, họ lồng đạo lư
vào lời giải các quẻ bói, để vừa phổ biến tư tưởng thánh hiền và
giáo hoá người dân, vừa tránh né “hoạ văn tự”. Bên cạnh đó, trong
khi chiêm nghiệm các quẻ và thông giải chúng dưới ánh sáng của minh
triết, các triết gia cũng nâng cao tầm suy tưởng của ḿnh và biến
Chu Dịch thành một bộ sách triết học, làm cốt lơi cho nhân sinh quan
và vũ trụ quan Trung Hoa.
Đạo với
lẽ thường hằng
Vạn vật
biến dịch. Cũng như các truyền thống triết học Đông phương khác, Đạo
học nh́n mọi sự như đang liên tục biến đổi. Theo Lăo Tử, trong ḍng
chảy sinh hoá đó, cái duy nhất không bị biến đổi chính là sự biến
đổi. Và đó là nguyên lư vĩnh cửu, thường tồn hoặc hoặc qui luật chi
phối quá tŕnh biến dịch. Theo Đạo học, cái đó là “thường”. Nói cách
khác, “thường” là cái thường hằng độc nhất, thực tại duy nhất và tối
hậu. Và sống thực tế tức là sống theo qui luật biến dịch thường hằng
của vạn vật. Sống quân b́nh trong sự hiệp nhất của con người với vũ
trụ. Có lẽ chính ở điểm chủ chốt này mà Will Durant và Ngô Tất Tố
cho rằng Lăo Tử đă lấy cảm hứng từ các Upanishad trong kinh Veda với
khái niệm Tiểu ngă (Atman) của cá thể được giải thoát trên đường t́m
về hiệp nhất với Đại ngă (Brahman) của vũ trụ.
Khi con
người thấy mọi sự đang biến đổi, nó bị cám dỗ đưa mắt nh́n tới quá
bên kia trạng thái biến dịch ấy để t́m kiếm cái ǵ đó thường tồn,
cái có lẽ hiện hữu dưới dạng một thực tại tối hậu nào đó. Nhưng khi
có cảm tưởng t́m được cái đó, con người bị rơi vào trạng thái không
c̣n lưu ư tới những ǵ đang xảy ra ngay trong khoảnh khắc hiện tại.
Nó có khuynh hướng thông giải hiện tại trong liên quan tới quá khứ
bằng cách nh́n căn nguyên của sự việc, hoặc tới tương lai bằng cách
nh́n cùng đích của sự việc.
Đó là trạng
huống sống với ảo giác. Nói như Phật giáo, ảo giác khiến con người
hụp lặn giữa sông mê v́ nó khiến ta xao lăng việc nh́n rơ khổ và
diệt khổ. Nói theo ngôn ngữ triết học hiện đại, sống với ư định trở
thành “một người nào đó” tức là không sống đúng với tiềm năng và bản
tính của ḿnh, và như thế tự biến ta thành một “con người giả”.
Ngang đây có lẽ ta đă hiểu Lăo Tử rất thực tiễn khi cực kỳ chống lại
việc trở thành “một người nào đó”, nhất là thái độ khinh miệt mẫu
người quân tử ngũ thường của Nho giáo, và cổ vũ cho lối sống hồn
nhiên mộc mạc như trẻ thơ.
“Nhân mà
cao th́ làm, nhưng không cho đó là làm. Nghĩa mà cao cũng làm, lại
cho là có làm. Lễ mà cao th́ làm, nếu không được đáp, th́ xăn tay áo
mà lườm. V́ vậy, mất Đạo rồi mới có Đức; mất Đức rồi mới có Nhân;
mất Nhân rồi mới có Nghĩa; mất Nghĩa rồi mới có Lễ. Lễ chỉ là cái
mỏng manh của ḷng trung tín, mà cũng là đầu mối của hỗn loạn. Tri
thức là màu mè của Đạo và là đầu mối của ngu muội”.
Việc quản
lư xă hội cũng thế. Nếu chính quyền cưỡng bách con người trong “tam
cương, ngũ luân”, áp đặt luật pháp chặt chẽ lên con người, tức là
thao tác trái tự nhiên. Và như thế, không thể nào mang lại phúc lợi
cho dân chúng như một toàn bộ; không sớm th́ muộn sẽ thất bại, đưa
tới hỗn loạn. Do đó, từ người dân cho tới vua quan đều nên “vi vô
vi: làm mà như không làm”.
“Dứt thánh
bỏ trí, dân lợi trăm phần. Dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại thảo lành. Dứt
xảo bỏ lợi, trộm cướp không có. Dứt ba khoản đó, có đủ vào đâu. Phải
được như vầy: Ăn ở giản dị và chất phác, ít riêng tây, ít tham dục”.
Trong hai
lời phát biểu vừa trích, ta thấy có một đặc điểm quan trọng của tư
tưởng Đạo học. Thế giới vốn hiện hữu như nó đang là. Nếu có sự hoàn
hảo nào, đó chính là sự hoàn hảo của cái đang là chứ không phải của
cái chúng ta tưởng tượng nó nên là. Nhưng nếu quả đúng như vậy, thế
th́ mọi nỗ lực nhằm biến đổi thế giới chỉ làm cho nó bớt hoàn hảo,
và tệ hơn nữa, chỉ gây nên xáo trộn.
Để t́m thấy
sự hoàn hảo, chúng ta chỉ c̣n cách duy nhất, đó là yên nghỉ trong
tính tự nhiên. Trở về cội nguồn hoàn hảo tức là chuyển động từ tính
không tự nhiên tới tính tự nhiên. Nói cách khác, kẻ thù của sự hoàn
hảo của chúng ta chính là tính không tự nhiên, bao gồm sự cưỡng ép,
những dự tính và đ̣i buộc của xă hội.
Từ cá nhân
người dân cho tới chính quyền, theo Lăo Tử, cứ thao tác tự nhiên
theo lẽ “thường hằng” của biến dịch, v́ có giao dịch mới có sinh hoá,
v́ cuối cùng, khi sự việc đi hết mức độ của nó, tự nó hồi đầu, phản
phục. Đó là lối sống thực tế được Lăo Tử gợi ư. Nhiều người cho rằng
nó “không thực tế” v́ con người không thể rứt bỏ những ràng buộc của
kiếp người. Trong khi loay hoay giải quyết những ràng buộc trong
t́nh thế nan giải của cuộc đời, họ chỉ c̣n cách biến những gợi ư ấy
thành cảm hứng thanh thoát hoặc niềm ước mơ giải thoát.
So với
triết Tây
Trong
truyền thống Do thái-Kitô giáo phương Tây, thế giới này là chốn sa
ngă, v́ thế sống tự nhiên có nghĩa là sống trong t́nh trạng tội lỗi.
Niềm hi vọng cứu rỗi trọn vẹn là được phục hồi trạng thái an lạc nơi
vườn Địa đàng, trong đó Adam t́m thấy chính ḿnh trước khi ăn trái
táo do Eva đưa. Một trong những đáp ứng lư thú cho niềm xác tín ấy
là giáo phái Adamite thời thế kỷ 17. Giáo phái này khoả thân khi cử
hành lễ tế, nhằm tái tạo t́nh huống nguyên thuỷ, trong đó Adam t́m
thấy bản thân.
Như thế,
xét theo viễn cảnh Tây phương, sống tự nhiên là sa ngă. Con người
cần phải kềm hăm nghiêm ngặt một số khía cạnh mạnh mẽ nhất của tính
tự nhiên, như tính dục và bản năng háo thắng; chỉ cho phép chúng
hoạt động trong chu vi hạn hẹp đúng theo qui định.
Quan điểm
của Đạo học hoàn toàn ngược lại. Nó t́m cách vứt bỏ những ǵ lư tính,
nghiêm cấm hoặc đ̣i buộc về mặt xă hội để quay về Đạo, cái là quân
b́nh tự nhiên và sống đời hồn nhiên mộc mạc. Ở đây có điểm tương
đồng với lời nói của Đức Giêsu: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em
không trở lại mà làm nên như trẻ thơ, th́ sẽ chẳng vào được Nước
Trời” (Matthêu, 18:3).
IV. Âm
Dương và Đạo
Chia sẻ nỗ
lực với các nền triết học khác, tư tưởng Trung Hoa t́m cách giải
thích cấu tạo và nguồn gốc của vũ trụ bằng hai luồng. Một dựa trên
một số yếu tố trong phần Dịch truyện của Kinh Dịch và một dựa trên
lư thuyết của Âm Dương gia.
Âm Dương
trong Bát quái
Như đă
tŕnh bày, Bát quái được lập thành bởi sự kết hợp của từng cặp ba
vạch liền và vạch đứt. So với Âm và Dương th́ vạch đứt biểu thị
nguyên lư Âm, vạch liền biểu thị nguyên lư Dương. Thí dụ ba vạch
liền chồng lên nhau là quẻ Càn; ba vạch đứt chồng lên nhau là quẻ
Khôn; vạch đứt nằm giữa hai vạch liền là quẻ Ly; vạch liền nằm giữa
hai vạch đứt là quẻ Khảm, v.v... Quẻ Càn biểu thị cho thuần (tuư)
Dương; quẻ Khôn cho thuần (tuư) Âm; sáu quẻ c̣n lại có lẽ là kết quả
tương giao của hai quẻ Càn, Khôn.
Trong Kinh
Dịch, Hệ từ truyện, Thiên thượng, chương 5, có câu: “Một âm, một
dương, gọi là đạo”. Lăo Tử cũng viết trong Đạo đức kinh, chương 42:
“Trong vạn vật không có vật nào không cơng Âm và bồng Dương; nhân
chỗ xung nhau mà hoà với nhau”. Như thế có nghĩa vạn vật chỉ hiện
hữu b́nh thường và vận hành thông suốt trong trạng thái quân b́nh Âm
Dương. Dấu vết sớm nhất của khái niệm Âm Dương được t́m thấy trong
sách Quốc ngữ, một tác phẩm có lẽ được soạn vào thế kỷ 3 hoặc 4
tr.C.N. Bộ sử này kể chuyện nhân vụ động đất năm 780 tr.C.N., một
học giả nói rằng “Khí dương ẩn phục mà không thể thoát ra, khí âm
nén bức mà không thể bốc lên, nên phát sinh động đất”.
Thái cực
đồ
Như thế, Âm
Dương là hai sức mạnh của tự nhiên giới. Cả hai làm thành một cặp
năng lượng đối lập mà sự tương hoán cũng như tương tác làm nảy sinh
vũ trụ. Cái tối hậu là Thái cực sinh Lưỡng nghi là Âm và Dương hoặc
trời và đất. Âm Dương hỗn hợp sinh Ngũ hành. Ngũ hành là cơ sở phát
triển của Vạn vật. Như ta đă đề cập khi nói tới Chu Đôn Di trong
chương trước với qui luật Vô cực > Thái cực > Âm dương > Ngũ hành >
Vạn vật > Vạn vật sinh sôi nảy nở không ngừng nghỉ.
Quá tŕnh
sinh sản của các hiện tượng được xem là có tính chu kỳ, như một sự
kế tục hằng cửu của sinh và tử: mỗi sự vật hiện hữu một khi chuyển
sang cực đối lập của nó th́ đạt tới đỉnh cao nhất. Phẩm tính chính
của Âm và Dương là làm sáng tỏ quá tŕnh “biến dịch” hằng cửu ấy. Và
biến dịch chính là sự chuyển động của Đạo.
Theo vũ trụ
quan Trung Hoa, hệ thống các mối tương ứng Âm và Dương, như ta có đề
cập trong chương trước, chi phối những loại hiện tượng và những phẩm
tính khác nhau. Âm biểu hiện nguyên lư cái, thụ động, tiếp nhận,
bóng tối và mềm mại. Những tượng trưng của Âm là mặt trăng, nước,
mây, con hổ, con rùa, màu đen, phía bắc, ch́ và các số chẵn, v.v...
Trái lại, Dương biểu hiện nguyên lư đực, chủ động, sáng tạo, ánh
sáng và cứng cỏi. Những tượng trưng của Dương là mặt trời, lửa, con
rồng, màu đỏ, phía nam, thuỷ ngân và các số lẻ, v.v...
Biểu tượng
nổi tiếng nhất tŕnh bày Âm Dương là Thái cực đồ, vốn có nguồn gốc
Đạo học và cùng với Bát quái đồ, được dùng làm biểu tượng cho Đạo
giáo. Từ Vô cực đồ năm ṿng phức tạp về vũ trụ và luyện đan do Trần
Đoàn (?-989), vị đạo sĩ nổi tiếng thời cuối Đường đầu Tống trước tác,
Chu Đôn Di giản lược thành một h́nh tṛn, nửa đen chỉ Âm – Thái âm,
và nửa trắng chỉ Dương – Thái dương, được phân ranh đều nhau bằng
một đường cong dợn sóng có h́nh gần giống chữ S, biểu tượng cho sự
chuyển động liên tục. Trong khu vực đen có một mầm trắng gọi là
Thiếu dương; trong khu vực trắng có một mầm đen gọi là Thiếu âm, với
ư nghĩa trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. Bạn không thể có Âm
mà không có Dương hoặc ngược lại; cái này có sẵn mầm như một h́nh
thức tuôn chảy vào trong cái kia, thành một trạng thái quân b́nh
hoàn hảo, không tĩnh mà động.
Âm Dương
gia
Quân b́nh
của các mặt Âm và Dương của sự sống ấy có ảnh hưởng rất sâu xa và
bao quát mọi khía cạnh tư tưởng và văn hoá của Trung Hoa. Nhưng nó
không có tính độc quyền của Nho giáo hay Đạo học; nó tương hợp với
cả hai hệ thống triết học ấy. Đồng thời khái niệm Âm Dương cũng h́nh
thành hẳn một học phái tên là Âm Dương gia mà các học giả cho rằng
chính học phái này ảnh hưởng sâu sắc lên vũ trụ quan cùng nhân sinh
quan của cả Nho giáo lẫn Đạo học kể từ cuối thời Chiến quốc cho tới
măi về sau.
Nhân vật
đại biểu cho Âm Dương gia là Trâu Diễn (k. 305-240 tr.C.N.). Ông
người nước Tề, chuyên nghiên cứu trời và đất, rất giỏi biện luận nên
có biệt hiệu là Đàm thiên diễn. Trâu Diễn từng giảng học tại cung
Tắc Hạ, một trung tâm học thuật của nước Tề có mục đích chuẩn bị
điển chương cho việc trị thiên hạ. Trung tâm qui tụ cả ngàn chư tử
thuộc các học phái Đạo, Nho, Pháp, Danh, Binh, Âm Dương, v.v...,
trong đó học thuyết Hoàng Lăo của Đạo gia nổi bật hơn cả. Học cung
này cực thịnh suốt gần 150 năm; Tuân Tử từng ba lần giữ chức Tế tửu
tức thủ lănh học thuật ở đó.
Là người
duy nghiệm chủ nghĩa, Trâu Diễn chủ trương “Tiên nghiệm hậu suy:
trước thực nghiệm rồi sau sẽ suy luận ra”. Kế thừa và phát huy
thuyết Ngũ hành, ông đưa ra quan điểm Ngũ hành tương sinh tương
thắng, nhằm t́m hiểu mối quan hệ đa dạng của các hành chất tự nhiên
trong khi chúng tương tác nhau theo từng cặp này và tương khắc nhau
theo từng cặp khác. Ông c̣n cho rằng lịch sử liên tục khai triển và
biến đổi, không chuyển động theo ư chí chủ quan của con người. Tiếc
rằng hai tác phẩm Trâu Tử và Trâu Tử chung thuỷ đă mất; hậu thế chỉ
c̣n t́m thấy một số dấu vết về cuộc đời và tư tưởng của ông trong
sách Sử kư và Lă thị Xuân Thu.
Học phái Âm
Dương gia đạt tới đỉnh cao vào cuối thời Chiến quốc. Khởi đầu, thuật
ngữ Âm Dương gia được dùng để chỉ toàn bộ các lư thuyết t́m cách
giải thích vũ trụ bằng sự kết hợp các năng lượng Âm và Dương. Theo
quan niệm của Âm Dương gia, toàn thể vũ trụ sinh ra từ sự kết hợp
nguyên lư đực và nguyên lư cái – Dương và Âm – được tượng trưng
trong kinh Dịch bằng quẻ Càn thuần Dương và quẻ Khôn thuần Âm; hai
quẻ ấy là nguồn gốc của các quẻ khác. Mỗi quẻ tương ứng với một năng
lượng tự nhiên nhất định. Phái Âm Dương cũng dùng các con số lẻ (Dương)
với các con số chẵn (Âm) bổ sung cho nhau để giải thích vũ trụ. Về
sau, họ lại dùng các con số ấy để thiết lập mối liên hệ giữa các
năng lượng Âm và Dương với Ngũ hành. Ngày nay, có người cho rằng mă
binary kết hợp các 0 và các I để biểu hiện chuỗi mẫu tự, dùng trong
máy điện toán, được người sáng chế ra nó lấy cảm hứng từ các vạch Âm
Dương từ Bát Quái và các hào.
Sang tới
đời Hán, khái niệm ấy được mở rộng về ư nghĩa, khi những đại biểu
của Âm Dương gia cổ vũ cho quan điểm của Trâu Diễn rằng lịch sử thay
đổi là do “chuyển đổi của Ngũ Đức” theo chu kỳ hết thịnh lại suy của
mỗi hành chất Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Có lẽ v́ sảng khoái và tán
dương quan điểm ấy nên từ đó, hết thảy các tân quân, kể từ triều Hán,
khi lên ngôi đều tuyên bố: “Phụng thiên thừa vận hoàng đế: Phụng
mệnh trời nối tiếp vận mệnh lên ngôi Hoàng đế”.
Quân
b́nh Âm Dương
Âm, nguyên
lư cái, và Dương, nguyên lư đực, được xem là hai năng lượng phổ quát,
kết hợp với Ngũ hành để h́nh thành căn bản của vạn vật. Giống như
Đạo phục hồi sự quân b́nh, Âm và Dương cũng thế, cần phải có sự quân
b́nh giữa cái và đực. Truyền thuyết cho rằng ban đầu, thuật ngữ Âm
chỉ cạnh sườn phía bắc của một ngọn núi nơi bề mặt không bao giờ
thấy mặt trời; nó gắn liền với thời tiết tiết xám lạnh và mây mù,
đầy bóng râm. Dương chỉ cánh sườn phía nam có mặt trời chiếu; nó gắn
liền với trời nóng và quang đăng, đầy ánh nắng. V́ là hai cạnh sườn
của một ngọn núi nên chúng bất phân ly và bao hàm nhau. Sự sống
không thể chỉ chan hoà ánh nắng, cũng chẳng thể chỉ tràn ngập bóng
râm, và nghĩ ngược lại tức là suy tưởng chưa thấu đáo.
Đi t́m một
cuộc đời chói chang và không ngớt ánh nắng hoặc âm u và triền miên
bóng râm là điều không tưởng và v́ thế không tránh khỏi dẫn tới thất
vọng bởi đó là nỗ lực 100% đực hoặc 100% cái. Và đây là tâm điểm của
Đạo: ư nghĩa của quân b́nh; vật khi đă đạt tới cực điểm th́ đương
nhiên nó tự điều chỉnh.
Ở một
chương trước, trong khi khảo sát vấn đề Phật giáo chấp nhận khổ năo
như một hiện tượng phổ quát, chúng ta đă thấy rằng triết thuyết ấy
không chút nào tiêu cực hoặc bi quan; nó đơn giản chỉ là t́m cách
sống theo hiện thực. Quân b́nh Âm Dương cũng thế. Nó không bị Đạo
học đưa ra như một phương cách mang tính định mệnh chủ nghĩa; nó đơn
giản chỉ là sự thẩm định theo thực tế hiện hữu của vạn vật.
Tư tưởng
Đông phương như một toàn bộ, hoàn toàn xa lạ với thái độ giả vờ rằng
con người có thể sống một cuộc đời hoàn toàn không có bóng tối hoặc
nếu có, đó chỉ là t́nh trạng ngẫu nhiên xảy ra trong một thế giới
được thiết kế sẽ hiện hữu với hoàn toàn ánh sáng. Quân b́nh giữa
tăng trưởng và suy thoái, hạnh phúc và âu sầu, được và mất, là đặc
điểm cốt yếu của cuộc sống. Nh́n từ viễn cảnh ấy ta có minh triết
trong đó bao gồm việc nhận thức sự quân b́nh ấy, sống hoà điệu với
nó và qua đó t́m thấy niềm hạnh phúc không bao giờ bị tuỳ thuộc vào
ánh nắng chan hoà.
Đạo và
quân b́nh Âm Dương
Quân b́nh
Âm Dương trong cuộc sống bao hàm một đặc điểm quan trọng: Âm tiêu
biểu trạng thái không hoạt động, yên nghỉ và suy gẫm; Dương tiêu
biểu trạng thái hoạt động và sáng tạo. Lư tưởng là quân b́nh hai đặc
điểm ấy của cuộc sống. Đạo học gợi cho thấy rằng bạn không thể hoạt
động hiệu quả nếu không có các thời kỳ trầm tư. Cũng thế, những thời
kỳ trầm tư bất động đương nhiên dẫn tới việc hành động một cách lăo
luyện.
Sự quân
b́nh ấy không đơn giản chỉ là đặc điểm của lối sống mà c̣n phản ánh
một đặc điểm rất căn bản của Đạo: nó khôi phục sự quân b́nh, theo
định luật phản phục. “Vật cực tắc phản: khi vật đạt tới cực điểm, nó
chuyển ngay sang phía đối lập”. Do đó, có sự chuyển động liên tục từ
trạng thái hoạt động tới trạng thái không hoạt động, và cứ thế khứ
hồi.
Bản sắc của
con người cũng liên quan tới Âm và Dương. Dù nam hoặc nữ, chúng ta
đều có các khía cạnh của Âm và Dương. Và điều đó sản sinh quá tŕnh
biến đổi và mâu thuẫn rơ rệt, không thể nào giải quyết. Nhưng theo
Đạo học, cái cốt yếu phải nhận ra là thật sai lầm khi cố sức giải
quyết cuộc tương tranh cá biệt ấy v́ đó chỉ là biểu thị đặc thù của
chuyển động Âm và Dương bên trong mọi sự.
Một đặc
điểm nữa có tính trung tâm trong lối tiếp cận của Đạo học, rằng
chúng ta không có bản ngă cố định. Chúng ta là cái chúng ta đang là
qua quá tŕnh biến dịch tự nhiên. Không bao giờ chúng ta đi tới cái
tôi chân chính hoặc cái tôi đích thực. Cũng giống như vũ trụ, cái
độc nhất cố định bên trong bản ngă chính là quá tŕnh biến đổi của
chính nó. Và như đă nói ở trên, đó là cái “thường hằng”.
So với
triết Tây
Quan điểm
ấy của Đạo học cực kỳ khác với tư tưởng Tây phương. Đối với Plato,
có những H́nh thái lư tưởng (Ideal forms) mà các vật cá thể chỉ là
những bản sao bất toàn của chúng. Trong các tôn giáo độc thần như Do
thái - Kitô giáo và Hồi giáo, có Thượng đế, đấng sáng tạo toàn năng,
tốt lành và độc nhất; bất cứ cái ǵ bất toàn hoặc có thể biến đổi
đều được giải thích bằng cách cho rằng ngài cố ư tạo nên nó như thế,
hoặc do bởi sự hiện hữu của một quyền năng độc dữ tách biệt vốn sản
sinh “vấn đề cái ác”.
Như thế,
tới một ngày nào đó, bản ngă chân chính của bạn sẽ được vén lộ, v́
như lối giải quyết của nhiều nhóm Ngộ giáo Tây phương (Gnosticism)
rằng bạn cốt tuỷ là hằng cửu và bạn chỉ bị mắc kẹt trong thế giới
vật chất, hoặc v́ Thượng đế muốn sau cùng sẽ đưa bạn lên một đời
sống mới trên Thiên đàng, ở đó bản tính chân chính của bạn được vén
lộ qua một quá tŕnh phán quyết chung thẩm với phần thưởng hoặc h́nh
phạt tương ứng.
Đạo học
hoàn toàn khác với các ư tưởng vừa kể. Giống như Phật giáo, Đạo học
cho rằng không có bản ngă cố định, cũng không có bản thể đơn nhất,
cái gọi là “bạn”. Đúng hơn, bạn là một quá tŕnh năng động qua đó
các yếu tố khác nhau, cả Âm lẫn Dương, đang hoà lẫn nhau và tiếp tục
tuôn chảy, không cái nào thế chỗ cho cái nào: trong Âm có Dương và
trong Dương có Âm.
Cũng thế về
“vấn đề khổ năo”. Đông phương không có vấn đề đó. Đó là một hiện
tượng của các tôn giáo Tây phương, phát sinh từ quan điểm tích cực
và vượt trội về nam tính khi nó quả quyết rằng thế giới được thiết
kế là Dương toàn bộ, và v́ thế nó ra sức biện hộ cho sự có mặt của
Âm.
So với cuộc
“phán xét cuối cùng” trong tư tưởng tôn giáo Tây phương, Đạo học có
điểm tương đồng là nó công nhận rằng bên dưới tính nhị nguyên của Âm
và Dương, có sinh lực cơ bản, đó là Khí, và rằng bên dưới cái đó có
Đạo, căn nguyên sáng tạo vạn vật. Sự nhận thức bí nhiệm về Đạo đặt
toàn bộ quá tŕnh biến đổi ấy vào viễn cảnh nhưng không ngăn chặn
quá tŕnh ấy.
Khi nói tới
Khí, ta đă tự thấy ḿnh đang trên đường đi gặp Trang Tử, kẻ chiêm
bao thấy ḿnh hoá bướm nhởn nhơ bay lượn tới độ khi tỉnh giấc, không
biết ḿnh đang là bướm hay bướm chính là ḿnh. Ngoài địa vị làm
người nối tiếp, triển khai và bổ túc tư tưởng của Lăo Tử, Trang Tử
c̣n là một văn hào mà tác phẩm được xem là nguồn gốc của nghệ thuật
Trung Hoa và hầu như toàn bộ văn học Trung Hoa đều chịu ảnh hưởng
của ông.
V. Nam
hoa kinh
Trong
cơi mơ hồ
Tên tuổi
của Trang Tử được gắn liền với Nam hoa kinh. Sử kư của Tư Mă Thiên,
chương Trang Tử liệt truyện, cho biết “Trang Tử người xứ Mông, tên
là Chu [cũng đọc là Châu]”. Địa danh thuộc nước Tống thời Chiến quốc
ấy ngày nay ở gần Thương Khâu, tỉnh Hà Nam. Ông sinh khoảng năm 369
và mất năm 286 tr.C.N, cùng thời với Mạnh Tử (k.372-289 tr.C.N), và
các triết gia Hi Lạp thời cổ đại như Aristotle (384-322), Zenon
thành Citium (k.339-265), và Epicurus (k.341-270).
Trang Tử
xuất thân giới quí tộc sa sút, có lúc làm “Tất viên lại”: viên chức
coi sóc vườn trồng loại cây làm sơn. Sau đó, ông qui ẩn, không màng
tới quan lộc nên túng thiếu suốt đời. Sống nơi xóm nghèo, người ông
gầy ốm xác xơ. Ngoài dạy học và trước tác, có lúc ông phải kiếm sống
bằng các nghề như đan dép, câu cá, bện dây. Nam hoa kinh ghi lại
h́nh ảnh Trang Tử mặc áo vá, giày cột bằng dây gai… nghèo túng tới
độ đi vay lúa c̣n bị người ta t́m cách khất rày hẹn mai.
Tuy sống
nghèo, bản thân Trang Tử thấy ḿnh “Nghèo, chứ không khổ. Kẻ sĩ có
đạo đức, không bao giờ khổ. Áo rách, giày hư là nghèo, không phải
khổ”. Nghĩ như thế nên ḷng ông thanh thản, cao khiết, không chịu để
cho cảnh vinh hoa phú quí làm ḿnh lâm luỵ. Ở mục Lăo Trang Thân Hàn
Liệt truyện trong Sử Kư của Tư Mă Thiên, có đoạn bàn về nhân cách
của ông như sau:
“Uy vương
nước Sở nghe nói Trang Châu là người hiền trong thiên hạ, sai sứ đem
hậu lễ đón, muốn mời ra làm Tướng [quốc]. Trang Châu cười bảo với sứ
giả: ‘Cái lợi của ngh́n vàng quả trọng thật, cái địa vị khanh tướng
quả cũng quí thật. Nhưng riêng ông chả thấy con ḅ tế hay sao? Được
người ta săn sóc, được mặc đồ trang sức văn vẻ để đưa vào Thái miếu.
Lúc ấy dù có muốn được làm con lợn côi há c̣n được nữa hay không?
Ông hăy đi đi, chớ có đến làm nhục ta. Thà ta dong chơi ở chốn bùn
lầy nhơ bẩn c̣n thấy sung sướng hơn là để cho kẻ làm chủ một nước
kia trói buộc được ta…’” (Nguyễn Duy Cần, Trang Tử - Nam hoa Kinh,
Nxb Khai Trí, Sài G̣n, 1963, t. 23).
Theo truyền
thuyết, Trang Tử giao du thân t́nh với Huệ Tử (k.370-318 tr.C.N),
một khuôn mặt đại biểu cho học phái Danh gia. Huệ Tử học rộng, biện
luận giỏi, từng làm Tướng quốc cho Nguỵ Huệ Vương và là người tổ
chức thực tế chính sách ngoại giao “Hợp Tung” thời Chiến quốc. Hai
người thường tranh luận với nhau về rất nhiều chủ đề triết học. Nam
hoa kinh, thiên Thu thuỷ (Nước thu), kể rằng:
“Thầy Trang
cùng thầy Huệ chơi ở trên đập hào.
Thầy
Trang nói:
‘Ḱa
đàn cá lượn lờ bơi chởi, đàn cá mới sướng chứ!’
Thầy
Huệ hỏi:
‘Bác
không phải cá, sao biết cái sướng của cá?’
Thầy
Trang đáp:
‘Bác
không phải tôi, sao biết tôi không biết cái sướng của cá?’
Thầy
Huệ nói:
‘Tôi
không phải bác, không biết bác đă đành. Nhưng bác không phải cá, bác
hẳn là không biết cái sướng của cá.’
Thầy
Trang nói:
‘Xin
nói lại từ gốc. Bác hỏi: ‘Bác làm sao biết cái sướng của cá?’ Thế là
bác đă biết tôi biết mà hỏi tôi. Tôi th́ tôi biết cái đó ở trên
hào’.”
(Nhượng
Tống dịch, Trang Tử - Nam hoa kinh, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2001, t.
178).
Những chi
tiết về cuộc sống của Trang Tử khá mơ hồ v́ phần nhiều là truyền
thuyết. Người sống sau ông phải lượm lặt mỗi nơi một ít, hầu hết chỉ
mang giá trị tư tưởng chứ không thật sự có giá trị sử liệu. Ngay cả
năm sinh năm mất của Trang Tử cũng chỉ là phỏng đoán. Thiên Liệt ngự
khấu trong Nam hoa kinh kể rằng:
“Thầy Trang
sắp chết. Học tṛ muốn chôn thầy cho hậu. Thầy nói:
‘Ta lấy
Trời, Đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích. Các v́
sao làm ngọc trai. Muôn vật làm kẻ đưa đám. Đồ chôn ta há chẳng đủ
rồi sao? C̣n ǵ hơn thế nữa?’
Học tṛ
thưa:
‘Chúng
con sợ diều, quạ, nó ăn thịt thầy.’
Thầy
Trang đáp:
‘Ở trên
th́ làm món ăn cho diều, quạ. Ở dưới th́ làm món ăn cho sâu, kiến.
Cướp đàng ấy, cho đàng này, sao mà thiên [lệch] vậy? Đem bất b́nh mà
b́nh, th́ cái b́nh ấy vẫn bất b́nh. Đem cái không hợp mà hợp, th́
cái hợp ấy vẫn không hợp. ‘Minh’ chỉ là cái bị sai khiến. ‘Thần’ mới
là hợp’. ‘Minh’ không thắng được ‘Thần’, kể đă lâu rồi. Vậy mà kẻ
ngu cậy ở cái vào được với người. Cái công ấy chỉ ở ngoài. Chẳng
cũng đáng thương sao?’”
(Nhượng
Tống dịch, sách đă dẫn, tt. 329-330).
Nam hoa
kinh và Trang Tử
Nam hoa
kinh hay Nam hoa chân kinh, tác phẩm kinh điển Đạo học và là tuyệt
phẩm văn chương thời Tiên Tần, cũng thường được chính thức gọi là
sách Trang tử.
Theo Hán
thư Nghệ văn chí, thoạt đầu sách có 52 thiên. Bản hiện nay đă qua
tay san định và chú thích của triết gia và là nhà Trang học Quách
Tượng (k. 252-312) đời Tấn, nên có lẽ bị ông đúc kết lại thành 33
thiên. Khác với Đạo đức kinh như một tập thơ gồm các câu dài ngắn
khác nhau, Nam hoa kinh được viết bằng tản văn, phần lớn tác giả
dùng ngụ ngôn, chuyện xưa tích cũ, với trí tưởng tượng cực kỳ phong
phú và bút pháp biến hoá không thể lường trước. Kim Thánh Thán
(1608-1661), nhà phê b́nh văn học lỗi lạc cuối đời Minh đầu đời
Thanh xem sách Trang tử là đệ nhất trong “lục tài tử thư” của văn
học Trung Hoa.
Sách được
chia ra làm ba phần, có lẽ do các học giả đời sau, chứ không do các
tác giả.
Nội thiên,
gồm 7 thiên. Căn cứ vào tư tưởng và văn phong, các học giả cho rằng
rất có thể chính tay Trang Tử viết phần này, trừ thiên Nhơn gian thế
và chương Tử tang hộ trong thiên Đại tông sư.
Ngoại
thiên, gồm 15 thiên. Căn cứ vào khí lực và tư tưởng, có thể do Trang
Tử viết một phần. Phần c̣n lại văn khí trung b́nh, lời tầm thường, ư
trùng lặp, tựa như các bài văn sách do kẻ hậu học viết.
Tạp thiên,
gồm 11 thiên. Cũng như phần Ngoại thiên, phần này ư tưởng rời rạc,
lặp lai các ư chính ở Nội thiên. Chắc chắn do kẻ hậu học viết.
Để có cái
nh́n sơ lược về giá trị nghệ thuật của Nam hoa kinh, phần Nội thiên,
chúng tôi trích dẫn ư kiến của Nguyễn Duy Cần trong Trang Tử tinh
hoa, Nxb TP Hồ Chí Minh, tt 64-65. Có lẽ ông đă dựa vào một ư tưởng
trong Thiên hạ, thiên cuối của Nam hoa kinh và ư kiến của các danh
gia thuở xưa như Tư Mă Thiên, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Tô Đông Pha,
v.v… mà tổng hợp như sau:
“Trang Tử
là người biết hàm dưỡng chơn thần rất đầy đủ, cho nên khí phách
ngang tàng phóng dật. Văn ông rất hồn nhiên như hơi mây trong núi
bay ra, như suối trong đất tuôn ra cuồn cuộn, trong trẻo mà nhẹ
nhàng, tự nhiên, không cố cưỡng. Bàn về một lẽ cao siêu tuyệt mù, có
thể cảm mà không thể nói ra bằng những lời nói thông thường nhị
nguyên, cho nên ông phải dùng đến ‘ngụ ngôn’, rồi mượn ‘trùng ngôn’
mà làm cho sáng tỏ ư thêm. Trong đó sự tích tuy có thật mà câu
chuyện giả thác lạ lùng. Đó là cách dùng cụ thể để mà giải thích
trừu tượng. Khi lại dùng đến ‘chi ngôn’, tức là buột miệng nói ra,
bất kể là đúng hay không với lịch sử. Cho nên văn chương của ông
huyễn tướng như hoa gương, trăng nước: hư mà thực, thực mà hư… như
lẽ Đạo muôn màu. Thật là rất khác xa với văn từ của ‘bách gia chư
tử’”.
Đạo và
vũ trụ
T́nh trạng
họp mặt của nhiều tác giả trong Nam hoa kinh không gây trở ngại cho
lối tiếp cận tác phẩm Đạo học ấy, v́ nội dung hai phần Ngoại thiên
và Tạp thiên hầu hết chỉ lặp lại và quảng diễn những ǵ được Trang
Tử phát biểu trong Nội thiên, và một vài thiên trong Ngoại thiên như
Thu thuỷ, Biền mẫu, Khứ cự, v.v… Về mặt tổng quát, toàn bộ Nam hoa
kinh vẫn được xem là kinh điển chính thống của Đạo gia, và tập quán
tá danh trong văn học Trung Hoa thường chỉ nhằm mục đích gây sự chú
ư của độc giả để gia tăng trọng lượng của một tác giả sinh sau nào
đó cùng một mạch tư tưởng với tác giả chính.
Kế thừa tư
tưởng của Lăo Tử, Trang Chu đi vào chi tiết hơn và phát huy tới cực
điểm. Cũng như Lăo Tử, ông viết rằng Đạo là nguồn gốc của thế giới,
không chỗ nào không có. Đạo “vô vi, vô h́nh” hiện hữu từ lúc có trời
đất và tồn tại hằng cửu. Khởi đi từ câu của Lăo Tử, “Đạo pháp tự
nhiên: Đạo bắt chước tự nhiên”, Trang Tử cho rằng Đạo không có giới
hạn, vượt thời gian không gian, và con người không thể cảm biết. Đạo
sinh ra vạn vật, trời đất, đế vương, quỉ thần, v.v... nhưng tự bản
chất của Đạo th́ khôn ḍ.
Quan điểm
“Vạn vật nhất thể” của Trang Tử được ông nói rơ trong câu ‘Trời đất
cùng ta đồng sinh, vạn vật cùng ta đồng nhất’. Đối với Trang Tử, Đạo
và Đức là một. Thuở thái sơ, Đạo sinh Nhất; vạn vật có cái Một ấy mà
có sức sống, tức là Đức. “Điều hoà để ứng với nó tức là Đức; tự
nhiên mà ứng với nó tức là Đạo”. Nói cách khác, Đức là Đạo biểu hiện
trong người và vật qua năng khiếu tự nhiên và cố hữu của mỗi sinh
linh.
Trong vũ
trụ, không có vật nào không có Đạo. Từ vật cực nhỏ tới vật cực lớn
đều có nó, tự sinh, tự hoá ở bên trong. Có thể xem con người với sức
tự sinh tự hoá ấy là một tiểu tạo hoá hay một tiểu hoá công. Loài
người biến hoá vô cùng, nhưng không có phương hướng nhất định v́ tới
cực điểm th́ phản phục, tới chung cuộc lại trở về nguyên thuỷ, tới
lui măi theo ṿng vô tận ấy.
Nguyễn Duy
Cần xem thuyết Vạn hoá Thiên quân – xoay ṿng tṛn theo bánh xe mà
lên cao dần – của Trang Tử,
“có thể
tượng trưng bằng một cái ‘Ṿng ốc’ không thể lẫn lộn với thuyết Luân
hồi của Nhà Phật (tiểu thừa). Thuyết Luân hồi của Phật giáo tiểu
thừa, tựu trung là một h́nh thức của thuyết Tiến hoá, cho nên người
ta quan trọng về quả vị cao thấp; một ảo vọng của Bản ngă. V́ vậy,
đứng về phương diện giải thoát, th́ thuyết Luân hồi phải thua xa
thuyết Vạn hoá B́nh đẳng của Trang Tử”.
(Nguyễn
Duy Cần, Trang Tử - Nam hoa kinh, t. 66)
Trang Tử là
triết gia đầu tiên của Trung Hoa cho rằng trời đất muôn vật do Khí
cấu tạo nên: “Suốt thiên hạ là một khí”. Chính cái Khí ấy làm thành
muôn vật, kể cả con người và mùa tiết. Trong thiên Bắc trí du (Trí
sang bắc) có viết “Cái sống của con người là sự hợp lại của Khí. Hợp
lại th́ sống, tan ra th́ chết”. Thiên Chí lạc (Cực vui) kể:
“Vợ thầy
Trang chết, thầy Huệ sang thăm. Th́ thầy Trang đang ngồi xổm, vỗ bồn
mà hát.
Thầy
Huệ hỏi:
‘Bác ở
cùng người ta đến lúc ḿnh già, chết không khóc, cũng đủ rồi! Lại gơ
bồn mà hát, chẳng cũng quá lắm sao?’
Thầy
Trang đáp:
‘Không
phải thế! Ấy lúc hắn mới chết, riêng tôi đâu có thể không ngậm ngùi.
Nhưng xét ban đầu hắn vốn không có sống… Chẳng những không có sống,
mà c̣n vốn không có h́nh… Chẳng những không có h́nh, mà c̣n vốn
không có khí. Lẫn ở giữa khoảng lờ mờ, biến mà có khí. Khí biến mà
có h́nh. H́nh biến mà có sống. Nay lại biến mà sang chết. Những cái
đó cùng nhau làm Xuân, Thu, Đông, Hạ, bốn mùa thường đi. Người ta
đang nằm khểnh ngủ trong nhà lớn, mà ta lại lu loa theo mà khóc lóc,
tôi tự cho thế là chẳng hiểu về mệnh, cho nên thôi.’”
(Nhượng
Tống dịch, sách đă dẫn, t. 182).
Quan niệm
Khí của Trang Chu có có lẽ ảnh hưởng lên Khí của Mạnh Tử, người sống
cùng thời, và đặc biệt Lư và Khí của Tống nho về sau. Kết hợp với
quân b́nh Âm Dương, Khí của Trang Chu đi vào y học, vơ thuật, dưỡng
sinh, phong thuỷ, v.v…
So với
triết Tây
Vũ trụ quan
của Trang Chu có điểm tương đồng với Anaximenes (?–500 tr.CN.). Ông
là triết gia Hi Lạp chào đời ở Miletus, và là một trong các nhà tư
tưởng vĩ đại thời tiền Socrates. Ông cho rằng nguyên lư đệ nhất và
dạng thức căn bản của vật chất là khí. Khí có thể chuyển biến thành
các chất căn bản khác qua quá tŕnh cô kết và tan loăng.
Ta cũng có
thể thăm ḍ để đối chiếu quan điểm Vạn vật nhất thể của Trang Tử với
thuyết phiếm thần (pantheism). (Xem Đại cương triết học Tây
phương).
Nhận
thức luận
Quan điểm
của Trang Tử về nhận thức của con người có phần gần gũi với chủ
nghĩa tương đối (relativism) của triết học Tây phương. Ông cho
rằng:
Trời đất và
ta cùng sinh, vạn vật và ta cùng một;
Mọi sự đều
bằng nhau: ta và vật, trái và phải, thiện và ác, thọ và yểu, mộng và
tỉnh, v.v.;
Cuộc sống
vốn hữu hạn, tri thức th́ vô hạn. Dùng cái hữu hạn để đuổi theo cái
vô hạn là cực nguy;
Phải vượt
qua cái nh́n thiển cận để có tri thức siêu việt, trong đó hiểu biết
không phải là hiểu biết, mà sống với cái Một trong ḷng ta;
Như thế,
quá tŕnh thấu suốt đi từ “sự có hiểu biết” tới “có sự không hiểu
biết”.
Phần cuối
thiên Đại tông sư của Nội thiên ghi lại câu chuyện của Trang Tử về
một cuộc đối thoại giả tưởng giữa Khổng Tử [Trọng Ni] và môn đệ yêu
quí của ngài là Nhan Hồi:
“Nhan Hồi
nói: Hồi đă tiến. Trọng Ni nói: Thế nghĩa là ǵ? Trả lời: Hồi quên
nhân nghĩa. Nói: Khó đấy! Nhưng c̣n chưa đủ. Ngày khác lại đến gặp
Khổng Tử, thưa: Hồi đă tiến. Nói: Thế nghĩa là ǵ? Thưa: Hồi quên lễ
nhạc. Nói: Khá đấy! Nhưng c̣n chưa đủ. Ngày khác lại đến gặp, thưa:
Hồi đă tiến. Hỏi: Thế nghĩa là ǵ? Thưa: Hồi ngồi quên. Trọng Ni
biến sắc hỏi: Thế nào là ngồi quên? Nhan Hồi thưa: Buông chi thể,
cất thông minh, xa h́nh, bỏ biết, cùng ở đại thông, ấy gọi là ngồi
quên. Trọng Ni nói: Cùng th́ không muốn, hoá th́ không sai, ngươi
quả là người hiền chăng? Khâu đây cùng xin theo sau”. (Nguyễn Văn
Dương dịch, sách đă dẫn, t. 126).
Tuyệt
đối vô chính phủ
Lăo Tử chủ
trương nhà cầm quyền phải bắt chước Đạo, trở về cái động của Đạo,
không làm ǵ cả, để cho người dân tự nhiên làm những ǵ mỗi người có
thể làm. Sang tới Trang Tử, ông đẩy mạnh quan điểm ấy tới cực kỳ vô
chính phủ. Tưởng quốc của ông cũng nhỏ và ít dân như của Lăo Tử,
nhưng ở đó người dân sống tuyệt đối theo bản tính tự nhiên của ḿnh
“đứng ở trong vũ trụ, ngày đông mặc đồ da, đồ lông; ngày hè mặc đồ
sắn đồ vải; mùa xuân cày cấy, h́nh đủ để làm lụng; mùa thu gặt hái,
thân đủ để ăn chơi. Mặt trời mọc th́ dậy; mặt trời lặn th́ nghỉ.
Sống tiêu dao trong khoảng trời đất, mà tâm và ư tự đắc”.
Tánh mỗi
người không khác của mỗi vật, có bản chất khác nhau một cách cá
biệt, nên kẻ khác không thể cưỡng ép cho mọi người giống nhau. Các
chế độ chính trị đừng hoang tưởng mà làm theo lối hữu vi, nghĩa là
định ra tiêu chuẩn chung cho toàn xă hội để cưỡng ép mọi người hành
động theo khuôn khổ, bởi v́ “chân vịt tuy ngắn, nhưng nối thêm th́
vịt lo; chân hạc tuy dài, nhưng chặt đi th́ hạc buồn. Cho nên tính
dài không phải để chặt đi, tính ngắn không phải để nối thêm”.
Quyết liệt
phản đối cách “lấy trị mà trị thiên hạ”, Trang Tử chủ trương muốn
cho thiên hạ thái b́nh thịnh trị th́ cứ lấy sự không trị mà trị
thiên hạ v́ trị thiên hạ tức là làm trái luật tự nhiên, lấy người để
diệt trời. “Ta nghe nói để yên thiên hạ, không nghe nói trị thiên
hạ. Để yên thiên hạ tức là sợ làm cho tính của thiên hạ bị hư, đức
của thiên hạ bị dời. Nếu thiên hạ không bị hư tính, không bị dời đức
th́ đâu cần phải trị thiên hạ” (Thiên Tại hựu).
Đôi điều
suy nghĩ
Trang Tử đă
xua đuổi sứ giả của Sở Uy vương chịu mệnh đến vời ông ra làm khanh
tướng rằng ông thà làm con rùa sống lê đuôi trong bùn c̣n hơn làm
con rùa thần chịu chết để được tôn thờ mấy ngh́n năm nơi miếu đường.
Ông cũng lên án các sách lược chính trị và xă hội ưa can thiệp là
lấy người để diệt trời. Nếu đứng từ khát vọng an bang tế thế của Nho
gia – vốn bị Lăo Trang vừa chống đối vừa khinh miệt, hoặc quan điểm
cứu thế của Do thái - Kitô giáo hay ư hướng dấn thân của trí thức
Tây phương thời hiện đại, bạn hẳn cho lập trường của Trang Tử là yếm
thế và không tưởng.
Có quả thật
như thế không, nếu ta đặt lời ông nói vào thời Xuân thu Chiến quốc
với các quốc chủ chỉ biết tranh bá đồ vương, hoặc đặt nó vào ḷng
con người b́nh thường mà nói theo Khổng Tử, ai cũng lo trước hết cho
thân nhân và bằng hữu của ḿnh. Thêm một bước nữa, nếu ta đối chiếu
những lời ấy với “tâm, tài và trí” của đại đa số “chính khách diễn
viên” vốn xem việc phục vụ nhân quần xă hội chỉ là khẩu hiệu họ dùng
để vận động tham chính, đặc biệt những chính sách chính trị và xă
hội “chống lại con người”, những cuộc cách mạng ra đời trên xương
máu và hy vọng của nhiều thế hệ người dân, mà rốt cuộc chỉ đem lại
khổ sở và bất hạnh cho con người.
Có lẽ,
bước biện chứng kế tiếp của một chủ trương cực đoan, dù nhập thế hay
xuất thế, sẽ đưa tới con đường ở giữa. Thiên Ứng đế vương kể:
“Dương Tử
Cư [Dương Chu] sửng sốt hỏi:
‘Dám
hỏi minh vương trị nước như thế nào?’
Lăo Đam
trả lời:
‘Phép
trị nước của bậc minh vương như thế này: công lao bao trùm thiên hạ
mà coi như chẳng phải tự ḿnh làm. Hoá cả muôn vật mà không đợi
người dân phải thỉnh cầu nhờ cậy. Làm mà không ai kể được tên, khiến
cho mọi vật, vật nào cũng tự vui sướng. Đứng ở chỗ không lường mà
vui chơi nơi miền có mà như không có’”.
Chân
nhân tiêu dao
Khổng Tử cổ
vũ cho mẫu người quân tử, Lăo Tử đề cao bậc thánh nhân, c̣n mẫu
người đạt đạo của Trang Tử là chân nhân. Vũ trụ biến hoá vô cùng
tận. Vạn vật sinh tử như nhau không khác nhịp tuần hoàn của thiên
nhiên nên chúng cũng khác nhau về giá trị phẩm tính và lượng tính.
Sự biến hoá và tính tương đối của người và vật khiến Trang Chu ôm
ḷng hoài nghi cực độ, đi tới tính tuyệt đối trong chủ trương của
ḿnh: tuyệt đối tự do b́nh đẳng, tuyệt đối tôn trọng cá nhân và
tuyệt đối vô vi. Trong trạng thái tuyệt đối đó, con người không kỳ
vọng, không chờ đợi, vô vi, sống tiêu dao theo tháng ngày tới tận
cùng con người thật của ḿnh.
Chân nhân
là người:
Sống hư
tĩnh, không c̣n bản ngă, không nghĩ đến công lao, không sợ làm người
vô danh;
Sống điềm
đạm trước những biến đổi của cuộc đời;
Sống tự
nhiên, không cầu danh, không cầu thân, không bè đảng, không mặc cảm,
v.v...
Ta đọc thấy
trong thiên Đại Tông sư:
“Thế nào là
bậc ‘thật là người’?
Bậc
‘thật là người’ đời xưa không trái số ít, không hùng v́ thành, không
mưu tính mọi việc. Kẻ như vậy lỗi mà chẳng ăn năn, đáng mà không tự
đắc. Kẻ như vậy lên cao không run, vào nước không ướt, vào lửa không
nóng. Trí có thể lên tới được đạo là như thế.
Bậc
‘thật là người’ đời xưa, lúc ngủ không mộng; lúc thức không lo; lúc
ăn không ngon; lúc thở thẳm sâu… Bậc ‘thật là người’ thở bằng gót
chân, c̣n người thường th́ thở bằng cuống họng [và] kẻ [muốn] khuất
phục [người khác] th́ nói ở trong cổ như oạ [ậm ừ nơi cuống họng]!
Kẻ ham muốn sâu th́ cơ trời nóng.
Bậc
‘thật là người’ đời xưa, không biết thích sống; không biết ghét
chết; lúc ra không hớn hở; lúc vào không đập nập; phất phơ mà đi;
phất phơ mà lại, thế mà thôi! Không quên nơi mà ḿnh bắt đầu; không
cần nơi mà ḿnh đến rốt; nhận mà mừng nó; quên mà trở lại nó. Thế
gọi là không lấy ḷng bỏ đạo, không lấy người giúp trời. Thế gọi là
‘thật là người’. Kẻ như vậy, ḷng họ quên; mặt họ lặng; trán họ
phẳng: mát mẻ như mùa thu, ấm áp như mùa đông; mừng giận thông với
bốn mùa, có cách hợp với vật mà không ai biết đến đâu là cùng.”
(Nhượng
Tống dịch, sách đă dẫn, tt. 73-74).
VI. Sống
theo Đạo
Trong phần
này, chúng ta sẽ thăm ḍ chung tư tưởng trong Đạo đức kinh cùng Nam
hoa kinh, từ điểm nh́n tổng hợp và hiện đại, để cố gắng đưa ra một
tổng luận về tư tưởng Đạo học cùng các khía cạnh thực hành của nó.
Từ đó, ta có thể thấy rơ tác động song hành và bổ túc của Nho giáo
và Đạo học trong cuộc sống của người Á đông, nói theo kiểu Trang Tử:
người quân tử rong chơi trong cơi nhân quần xă hội, đạo gia tiêu dao
ngoài cơi nhân quần xă hội.
Vũ trụ,
theo Đạo học, như một toàn bộ trong quá tŕnh biến dịch phản phục và
bị chi phối bởi sự tương tác của Âm và Dương. Trong vũ trụ ấy, mỗi
người được chia sẻ ba sinh lực (tam hoa): Tinh, Khí và Thần, thế
nên, chân nhân, người đạt “tam hoa tụ đỉnh”, là kẻ sống thành đạt
trên con đường Đạo.
Giới hạn
của ngôn từ
Bằng nỗ lực
chiêm nghiệm, con người nối kết tiểu vũ trụ – bản ngă của ḿnh, với
đại vũ trụ – thế giới. Để đạt tới cảnh giới đó, điều thiết yếu là
vứt bỏ mọi khái niệm mang tính nhị nguyên chủ nghĩa, thí dụ chủ thể
và khách thể, nội tại và ngoại tại, có và không, được và mất, v.v...
Nhờ thế, ta có thể cảm giác bản thân hiện hữu trong sự hiệp nhất với
mọi sự.
Một cách
tổng quát, nhiều người thường cho rằng nền tảng chiêm nghiệm của Đạo
gia có tính thần bí, hay huyền học. Chính người Đạo học cũng gọi đó
là “huyền đồng”, sự đồng nhất sâu thẳm và huyền nhiệm với toàn thể
vũ trụ. Trạng thái đó không thể giải thích bằng lư trí mà chỉ có thể
“biết” bằng tự thân nếm trải; nó cực kỳ phù hợp với câu mở đầu Đạo
đức kinh: “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường
danh”. Cái được ta chứng nghiệm luôn luôn vượt ngoài tầm nắm bắt của
ngôn từ.
Ngôn từ chỉ
gợi cho người nghe một số ư tưởng về Đạo chứ không thể diễn tả được
Đạo, v́ Đạo là cái chân chính, hằng cửu trong khi ngôn từ chỉ là
biểu tượng biến thái theo thời đại. Lời gợi ư và người nghe xong
phải quên lời để có thể tự ḿnh đi tới đích. C̣n băn khoăn loay hoay
với lời là c̣n chưa thể bước vào cơi ư. Tựa như phải vượt qua các
con chữ, các tảng màu để đạt tới cảnh giới của nghệ thuật và đi vào
tâm tư của kẻ sáng tạo.
Trong
Đạo học, toàn bộ vũ trụ được t́m thấy trong mỗi cá nhân. Chiêm
nghiệm là phương pháp giúp cho Đạo gia cảm nhận vũ trụ trong ḿnh.
Do đó, về mặt nhất định, con đường sống với Đạo không nằm ngoài cá
nhân, không xa lạ với cá nhân và cũng không nhất thiết hoặc không
liên quan tới sự đánh mất bản ngă. Đúng hơn, con đường ấy cho phép
bản ngă sống hoà điệu với vũ trụ, một cách có ư thức. Người Đạo học
tin tưởng rằng con người chỉ thật sự hiện hữu khi sống đúng với bản
tính của ḿnh. Và như thế là đạt đạo.
So với
triết Tây
Trong “Lời
mở đầu” của cuốn Tractatus (1921), triết gia Áo Ludwig Wittgenstein
(1889-1951), người sống sau các Đạo gia thời Tiên Tần hơn 2.000 năm,
cũng viết rằng ta không thể phát biểu đầy đủ ư nghĩa cái cảm giác bí
nhiệm về thế giới như một toàn bộ.
Khái niệm
rất phổ biến về sự phân chia lớn rộng giữa cái tôi tư duy và thế
giới vật chất ngoại tại trong tư tưởng Tây phương, tiêu biểu là
thuyết nhị nguyên được qui kết một cách đặc thù cho Descartes, không
giống chút nào với khái niệm đồng nhất thể của con người và vũ trụ
trong triết học Đông phương.
Bị liên tục
ám ảnh với cơn cám dỗ xác định bản ngă, cái thường bị xem là đối lập
với vũ trụ, tư tưởng Tây phương có thể xem thần bí chủ nghĩa như một
phương cách đánh mất bản ngă trong một cái bất phân biệt nào đó.
Vấn đề ấy
được Đông phương nh́n theo cách khác. Dù là người Đạo học hay Phật
giáo, họ đều nh́n bản ngă phát sinh từ cái “toàn thể” và nó t́m thấy
sự phô bày tự nhiên của chính nó trong cái “toàn thể” ấy. Bản ngă
của người Đông phương không cố hữu sự hiện hữu tách biệt với vũ
trụ.
Chiêm
nghiệm để tiêu dao
Nếu mọi sự
đều đang trong trạng thái liên tục biến đổi, thế th́ bám víu vào bản
ngă cố định chỉ là ảo giác đầy đau đớn; hành động như thế tự nó đă
bị kết án là thất bại v́ sớm hay muộn, thực tại biến dịch của nó sẽ
hiển lộ.
Như thế,
đối với người Đạo học, vấn đề cốt yếu là chấp nhận biến dịch, và do
đó, cá nhân họ được khích lệ phấn đấu để cho quá tŕnh biến đổi ấy
diễn ra một cách tự nhiên, và để cho bản thân có thể, một cách có ư
thức, trở nên thành phần của ḍng Đạo đang tuôn chảy. V́ thế, theo
Đạo học, mục đích của chiêm nghiệm không phải là để mang con người
tới trạng thái an b́nh, thoát khỏi những biến đổi sâu xa hơn; chiêm
nghiệm chỉ là để làm phát triển một thái độ sống trong đó người
chiêm nghiệm được sống một cách tự nhiên, thuận theo sự biến đổi của
bản thân và cuộc đời.
Đạo đức
học của vô vi
H́nh ảnh
của Đạo gia gợi tới một thuật ngữ chủ yếu của Đạo học là “vô vi”, và
vô vi cũng là định chuẩn để đánh giá một hành động. Như đă nói ở một
phần trên, thoạt nh́n, vô vi mang ư nghĩa “không hành động”, nhưng
với nội dung Đạo học, vô vi không có nghĩa là hoàn toàn không hoạt
động. Thật ra, vô vi, hay đúng hơn, vi vô vi, là hành động được tiến
hành theo hai nguyên tắc:
Không hành
động cố sức, để khỏi phung phí năng lực;
Không hành
động ngược lại với tự nhiên.
Có thể hiểu
vô vi là hành động tự phát, hoặc tự nhiên. Vô vi là loại hành động
được làm theo trực giác; nó không là kết quả của toan tính cân nhắc.
Vô vi phô bày những kỹ năng của trẻ thơ với tính cách hoàn toàn ngu
ngơ trong cảm tưởng và cử chỉ, không nghĩ ngợi xem hậu quả việc ḿnh
làm có thích đáng hay không. Vô vi là hành động dựa trên thực tại,
không dựa trên sự nhớ lại quá khứ, tưởng tượng về hiện tại hay dự
kiến cho tương lai.
Sống giữa
đời, chúng ta thường hành động nghịch với bản tính của ḿnh nhằm
tuân thủ hoặc cổ cũ cho một ư tưởng hoặc một nguyên tắc mà chúng ta
cảm thấy đang “lưu hành hợp lư” trong xă hội. Khi làm như thế, nội
tâm của chúng ta có thể ray rứt giữa ngă ba đường: cảm tính muốn
điều này nhưng lư tính đ̣i hỏi điều nọ, trong khi đó lương tâm lại
thúc giục hành động theo một chiều hướng khác.
Hành động
như thế, nhiều khi chúng ta cảm thấy đă không hữu hiệu cũng chẳng tự
nhiên; nó chỉ là kết quả thoả hiệp giữa các ưu tiên đang đối chọi
nhau. Ngược lại, vô vi là làm một cách tự nhiên và tự phát. Nó chính
là khoảnh khắc chúng ta không dừng lại để tự hỏi không biết ḿnh
hành động như thế này đă thích đáng chưa; chúng ta chỉ thấy là ḿnh
đang làm, thế thôi.
Sống
không khiên cưỡng
Trang Tử
lập luận rằng nếu cảm thấy không thể hành động có hiệu quả th́ đừng
làm. Nếu cảm thấy ḿnh chẳng thể làm được ǵ th́ cứ ở yên, đừng làm
ǵ cả. Ông thấy vô vi là ch́a khoá để thành công. Trong thiên Dưỡng
sinh chủ, Trang Tử đưa ra h́nh ảnh người mổ trâu tinh tiến nghiệp vụ
tới độ không c̣n phải mài dao, v́ “đao pháp” của anh ta đă đạt tới
cảnh giới vô vi:
“Ban đầu
tôi mới mổ trâu, trông thấy không con nào không phải là trâu. Sau ba
năm chưa thấy con trâu nào toàn vẹn cả! Đương lúc này tôi lấy thần
gặp, chứ không lấy mắt trông. Ngũ quan biết nên dừng, mà thần th́
muốn đi, nương vào lẽ trời. Tách gân lớn, lùa khớp lớn, nhân chỗ cố
nhiên của nó. Nghề của tôi, bắp thịt c̣n chưa từng xấn qua, huống
chi là trối [đốt xương] lớn! Nhà bếp họ hằng năm thay dao, v́ là
cắt. Nhà bếp họ hằng tháng thay dao, v́ là chặt. Nay dao của tôi
mười chín năm rồi… Số trâu mổ có mấy ngh́n rồi… Vậy mà lưỡi dao như
mới rèn xong. Những đốt kia có kẽ, mà lưỡi dao này th́ không hay…
Lấy cái không dày, vào chỗ có kẽ, xổng xểnh vậy, đưa dao vào đấy tất
có chỗ thừa. V́ thế mười chín năm mà lưỡi dao như mới rèn xong!”
(Nhượng
Tống dịch, sách đă dẫn, t 50-51)
Đan cử thí
dụ ấy của Nam hoa kinh có lẽ làm cho người ăn chay cảm thấy bứt rứt.
Ta thử đưa ra hai thí dụ khác:
Lúc mới tập
đi xe đạp, ta càng cố vặn người giữ thăng bằng th́ chiếc xe càng
nghiêng, dễ ngă. Ta cố tránh ḥn đá nhỏ giữa đường nhưng sao bánh xe
lại cứ xăm xăm chạy tới cán lên trên nó. Khi đă đạp xe thành thạo,
ta chỉ cần ư động là xe chuyển. Thậm chí đạt tới mức “đi xe”, buông
hai tay khỏi “ghi-đông”, ta vẫn có thể dùng ư để chuyển hông, cho xe
lạng lách theo ư muốn của ḿnh.
Lúc bắt đầu
tập khiêu vũ, ta thường lo lắng sao cho chân bước đúng nhịp nhạc, ăn
ư với người cùng nhảy và không dẫm lên chân người nhảy bên cạnh.
Càng để ư ta càng luống cuống. Khi đă thành thạo, ta không cần để ư
tới những điều đó nữa, th́ đâu vào đó, bước nhảy tự nhiên, uyển
chuyển và lả lướt.
Vô vi là kỹ
năng làm cho mọi sự trông có vẻ dễ dàng. Nó là nghệ thuật hành động
hoàn toàn không tự ư thức.
Vô vi là
sống tự tin và hồn nhiên. Vô vi xảy ra trong trạng thái tiêu dao
quên lăng, khi ta có thể đặt sang một bên mọi nỗ lực có ư thức nhằm
nhớ lại một phương cách thực hiện nào đó. Trong trạng thái vô vi,
“làm mà như không làm”, tâm trí thao tác rất nhanh và rất hữu hiệu,
tới độ ta không có thời giờ bắt kịp nó, và như thế, ta hoàn toàn tín
nhiệm vào những ǵ đang xảy ra.
Không
c̣n phân thiện ác
Trong vô
vi, con người đặt sang một bên mọi khái niệm thiện ác. Đạo đức học
hàm ư sự thẩm định tính hợp lư của hành động và cách thức thẩm định
nó. Phần lớn đạo đức học được tiến hành sau khi diễn ra hành động,
dựa vào các chuẩn mực thông thường và vào t́nh huống đặc thù để phán
xét nó phải hoặc trái.
Những cân
nhắc đạo đức cũng được suy xét bởi kẻ đang dự tính hành động. Các
qui tắc tôn giáo, xă hội và luật pháp, các nẻo “chính tà”, đều xuất
hiện trong lương tâm của con người. Trong khi trăn trở để hiểu rơ
điều ḿnh nên làm, con người lâm vào t́nh thế nan giải về mặt đạo
đức. Và dù được đặt trước hay sau khi hành động, đạo đức học vẫn là
môn học nghiên cứu t́nh thế tới lui đều khó ấy. Tuy nhiên, người Đạo
học thường
không thiên
về đạo đức học theo ư nghĩa vừa kể. Nếu hành động một cách hồn
nhiên, ta không dừng lại để cân đo đong đếm hệ quả hoặc xem xét các
qui tắc ấy;
một khi đă
chạm tới Đạo th́ không cần tới đạo đức học để nghiên cứu những ǵ
xảy ra.
Nho gia và
Đạo gia có hai lối tiếp cận vào đạo đức học khác nhau triệt để. Là
người nhập thế, Nho gia luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng can thiệp
vào cuộc đời để xác định cách ta nên ứng xử theo các đường hướng
hành động nhất định. Nói cách khác, đối với người Nho giáo, “chính
nhân quân tử”, có những hành động nên được thể hiện v́ cái thiện của
xă hội, cho dẫu chúng hoàn toàn đi ngược lại thiên hướng của người
liên hệ. Ngược lại, đối với người Đạo học, “không nệ chính tà”, hoàn
toàn không có vấn đề ấy. Theo họ, một sự can thiệp trong tinh thần
phân biệt như thế sẽ khiến cho con người không thể tri giác trật tự
tự nhiên của Đạo.
Cuộc sống
gây nên cho mọi người những vấn đề khá giống nhau, nhưng Đạo học gợi
ư rằng bằng cách sống tự nhiên, ta có thể giảm thiểu tối đa những
tác động của chúng. Trong một thí dụ minh hoạ tác động của trí khôn
con người, Trang Tử cho rằng cùng chung sự cố té từ xe ngựa xuống
đất, người không uống rượu có khả năng bị thương hơn người say rượu.
Lư do là v́ người say rượu té theo bản tính, có khả năng “đồng nhất”
với sự cố nên phản ứng của anh ta tự nhiên, trong khi người không
uống rượu th́ v́ cảm thấy lâm nguy nên ra sức điều chỉnh tư thế của
ḿnh, một cách có ư thức, do đó dễ bị thương.
Cá nhân
chủ nghĩa
Theo Đạo
học, bản ngă là sư phô diễn trực tiếp Đức, cái là năng lượng của Đạo
trong con người. Mục đích của Đạo là thành tựu sự hiệp nhất mọi sự
bên trong bản ngă bằng cách quay về với Đạo, cội nguồn của bản
thân.
Điều
đáng chú ư là quan điểm ấy đặt trọng tâm trên cá nhân chứ không trên
xă hội. Khi nh́n vào Nho giáo, chúng ta thấy phương cách ứng xử đúng
đắn là chấp nhận Lễ, những qui tắc giao tế được xă hội chấp nhận và
lưu truyền qua rất nhiều thế hệ. Ngược lại, Đạo học bắt đầu với từng
cá nhân và chống lại mọi khuôn mẫu của xă hội. Đối với cuộc đời, hai
lối tiếp cận của Nho gia và Đạo gia khác nhau như thế nên đưa tới
cuộc tranh căi lâu dài và sâu sắc v́ mỗi bên dựa trên các cơ sở có
vẻ đối lập nhau: tự nhiên hay nhân tạo, tự phát hay áp đặt, vô vi
hay hữu vi…
Trong Nam
hoa kinh, Trang Tử quả quyết rằng không nên đưa bất cứ động cơ ngoại
tại nào vào hành động, dù nó mang h́nh thức chấp nhận của xă hội
hoặc do ḷng trông mong được khen thưởng hay chê trách. Lời ấy không
hàm ư rằng hành động của ta nhất thiết sẽ gây tai hại cho người khác
hoặc không nên để ư tới người khác; nó chỉ có nghĩa rằng không nên
lấy sự tác động lên người khác làm nguyên cớ ưu tiên cho quyết định
hành động của ta.
Mười chín
thế kỷ sau, có lẽ thấm nhuần ư tưởng Trang Tử, Bồ Tùng Linh
(1640-1715) trong Thi Thanh hoàng, truyện mở đầu 445 truyện làm
thành Liêu trai chí dị, đă viết lời chỉ nam cho toàn bộ truyện: “Hữu
tâm vi thiện, tuy thiện bất thưởng; Vô tâm vi ác, tuy ác bất phạt:
Làm việc thiện mà có chủ ư th́ không được thưởng; Làm việc ác mà
không có chủ ư th́ không bị phạt”.
Mặc Tử –
người cổ vũ t́nh yêu đại đồng và là đối tượng tư tưởng bị triết gia
Mạnh Tử tự xem có bổn phận truy tận diệt tuyệt – kịch liệt chỉ trích
Nho giáo là chấp nhận nấc thang tự nhiên bằng việc tỏ ḷng tôn trọng
và yêu quí thân nhân, bằng hữu của ta hơn những kẻ khác vốn cũng
được ông cho là xứng đáng không kém với t́nh yêu đó.
Ở cực điểm
đối nghịch với Mặc Tử ta có Dương Chu, một nhà tư tưởng Đạo học tiền
phong. Họ Dương, như chúng ta đă đánh giá, thuộc thế hệ Đạo gia thứ
nhất và là nhà tư tưởng “thủ thân chủ nghĩa” của Đạo học. Ông quả
quyết rằng thật lầm lạc khi ta có hành động làm thương tổn bản thân
cho dù hành động ấy mang lại lợi ích cho toàn thể thế gian, v́ cuộc
sống có hai mục đích: một là giữ cho bản thân đừng bị tổn hại và hai
là sống hết sức lâu dài có thể được.
Vấn đề gây
tranh căi ở đây là có phải từ việc áp dụng thuần tuư các nguyên tắc
của Đạo học mà họ Dương đă rút ra kết luận thuận lư và duy nhất ấy,
và nếu thế th́ nên hiểu nó như thế nào về mặt đạo đức học?
Trang Tử
giữ vững lập trường rằng không có ǵ tốt hoặc xấu một cách cố hữu;
tốt hay xấu đều tuỳ vào t́nh huống cùng bản thân đương sự. Điều đó
không có nghĩa rằng trong Đạo học không có chỗ cho các qui tắc đạo
đức tuyệt đối, đúng hơn, nó đưa tới quan điểm rằng ta phải chuẩn bị
để sẵn sàng đi tới quá bên kia các qui tắc đạo đức.
Trong thiên
Tề vật luận, Trang Tử viết rằng hễ hai người đă bất đồng, tranh luận
không ai hơn được ai, th́ hoàn toàn không có khả năng phân xử tuyệt
đối công bằng, v́ dù có nhờ người thứ ba phân xử th́ kẻ trọng tài ấy
cũng hoặc bị ràng buộc vào quan điểm không bên này th́ bên nọ hoặc
có quan điểm của riêng ḿnh.
“Nhờ kẻ
đồng với ngươi quyết định điều đó, nó đă đồng với ngươi, quyết định
sao được? Nhờ kẻ đồng với ta quyết định điều đó, nó đă đồng với ta,
quyết định sao được? Nhờ kẻ khác với ta cùng ngươi quyết định điều
đó, nó đă khác với ta cùng ngươi, quyết định sao được? Nhờ kẻ đồng
với ta cùng ngươi quyết định điều đó, nó đă đồng với ta cùng ngươi,
quyết định sao được? Vậy th́ ta cùng ngươi, cùng người đều không thể
biết được nhau, mà c̣n đợi kẻ kia sao?”
(Nhượng
Tống dịch, sách đă dẫn, t. 44).
Nói cách
khác, không thể mang tính tuyệt đối vào vấn đề lựa chọn đạo đức
trong liên quan tới quá tŕnh lập quyết định hoặc tiêu chuẩn thẩm
định, v́ không người nào không có quan điểm cá biệt về bất cứ sự
việc nào.
Tự phát
và mộc mạc
Tựa như
nước không bao giờ chảy ngược, ta nên sống trong trạng thái thuận
ḍng, ít đề kháng nhất. Do đó, theo Đạo học, sống lư tưởng là sống
mộc mạc, không tham vọng và thoát ra ngoài mọi ham muốn. Tuy nhiên,
trạng thái thoát khỏi mọi ham muốn đó có thể bị lâm nguy v́ giáo
dục: mức độ gia tăng tri thức có khuynh hướng đưa tới gia tăng ḷng
ham muốn và tham vọng. Bởi thế, trong Đạo học, có triển khai một bộ
phận tư tưởng chống lại sự thăng tiến tri thức và giáo dục.
Mộc mạc tự
nhiên của con người được gọi là phục: quay về, và đặc điểm của nó là
vô vi: hành động tự phát; nó phản ánh sự hoà điệu một cách tự nhiên.
Tính tự nhiên của vô vi sản sinh mộc mạc và liêm khiết – nó là hành
động trong đó cái toàn bộ bản ngă như nhất của ta dấn sâu vào. Nó
được lèo lái bởi tâm trí vô thức cả trước khi tâm trí ư thức kịp
thời lư tính hoá nó. Và đó dường như là nỗ lực phấn đấu của người
Đạo học nhằm t́m lại sự liêm khiết vốn tuôn trào tự nhiên mà con
người đă đánh mất cùng với tuổi thơ của ḿnh.
Tính mộc
mạc và tự nhiên ấy đưa tới sự nhận biết về mọi vật đang sống và về
địa vị cao cả của loài người trong thiên nhiên. Trạng thái ấy khá
giống với Phật giáo; nó khích lệ ḷng thấu cảm hết thảy chúng sinh.
Bản thân Trang Tử mơ thấy ḿnh là bướm; khi tỉnh giấc ông hoang mang
đặt cho ḿnh một câu hỏi thú vị: Làm sao tôi biết được tôi đang là
người mơ thấy ḿnh hoá bướm hoặc tôi đang là bướm mơ thấy ḿnh hoá
người?
Thẩm
thấu của Đạo học
Đạo học với
quan niệm sống mộc mạc theo năng lượng tự nhiên của Khí chu lưu
trong vũ trụ và giữ sự quân b́nh Âm Dương, đă thẩm thấu mọi khía
cạnh của cuộc sống. Có rất nhiều học giả đồng ư với nhau rằng cốt
lơi của văn hoá Trung Hoa là Đạo học. Có thể nêu ra một số thí dụ
như:
Tôn giáo.
Tư tưởng Đạo học bắt gặp Phật giáo khi đạo Phật lan tới Trung Hoa.
Nó chung chia với Phật giáo cuộc truy tầm sự thức ngộ “vô ngă”,
trong khi đánh mất cái chúng ta gọi một cách qui ước là “bản thân”
trong viễn cảnh rộng lớn hơn. Cuộc gặp gỡ và chung chia đó đưa tới
Thiền Tông, cái sẽ được chúng ta đề cập chi tiết trong một chương
sau. Đạo học c̣n có mặt rơ nét trong học thuyết về Lư và Khí của
Tống nho, như đă tŕnh bày trong chương vừa rồi.
Hội hoạ và
văn chương. Thanh thoát và không cố hữu một bản ngă. Đặt chính xác
và đúng chỗ một nét chấm phá trong bức tranh phong cảnh hoặc gợi lên
tính mộc mạc thi vị của trải nghiệm trong mấy câu thơ, vài con chữ
hoặc một h́nh ảnh; cả hai cái ấy đều xuất phát từ sự nhạy cảm mang
thiên hướng tự nhiên mà Trang Tử khích lệ. Trong nghệ thuật Trung
Hoa hiện hữu nhiều khía cạnh của quân b́nh. Khi vẽ tranh phong cảnh,
có nhu cầu quân b́nh giữa sơn (dương) và thuỷ (âm). Đôi khi nhà hoạ
sĩ đưa ra, rất cân nhắc, ấn tượng về quá tŕnh biến đổi liên tục
trong phong cảnh, thí dụ những vết rạn do bởi quá tŕnh len lỏi của
rễ cây trong kẽ đá qua bao nhiêu thời đại. Đặc biệt con người nhỏ
nhoi và nhà cửa lác đác, được đặt rất cẩn trọng trên một nền phong
cảnh bao quát, như thể theo một qui tắc phong thuỷ nhất định, để
phản ánh sự cân bằng hợp lư trong ḍng năng lượng đang tuôn chảy.
Nói chung, nghệ thuật thi hoạ mang cảm giác hài hoà và có tính tổng
thể của một ḍng biến dịch.
Y lư.
Phương pháp bắt mạch theo Quan, Xích và Thốn trên cổ tay người bệnh
chủ yếu là thăm ḍ sự vận hành của Khí trong nội thể với lục phủ ngũ
tạng của người bệnh và mức thiên lệch Âm Dương để định bệnh. Các vị
thuốc thảo mộc làm thành thang thuốc cũng dựa trên sự quân b́nh Âm
và Dương. Một thí dụ cụ thể nhất cho khía cạnh này là ngành châm cứu
nhằm khai thông các huyệt đạo của người bệnh để Khí chu lưu thông
suốt.
Phong
thuỷ. Xem xét môi trường tự nhiên và các nỗ lực làm cho nó phù
hợp với năng lượng tự nhiên của Khí. Ở một đoạn dưới, ta sẽ bàn
nhiều hơn tới khía cạnh này.
Ẩm thực.
Một số thực phẩm, thí dụ thịt, được xem là Dương, và những thức
khác, thí dụ rau củ quả, là Âm. Ta có thể t́m thấy bảng phân loại
chi tiết này trong các sách nói về lối ăn uống dưỡng sinh theo
phương pháp Oshawa, tên của một bác sĩ người Nhật, thí dụ đường là
dương, muối là âm. Khi tŕnh bày một đĩa thức ăn, hoặc hơn nữa,
trong một bữa ăn, có nhu cầu phải quân b́nh âm dương giữa các thực
phẩm nấu thành món ăn hay làm thành bữa ăn. Người Việt thường dùng
ba hoặc bốn món trong một bữa ăn: canh, kho, luộc hay xào, có thịt
cá và có rau hay củ quả. Ngay cả trong một món ăn, điển h́nh món
canh chua của người Nam bộ, đă có sự hài hoà giữa chua ngọt, nóng
lạnh, âm dương.
Dưỡng
sinh. Trong cuộc sống thường ngày, không để cho quá nóng hoặc
quá lạnh, quá khô hoặc quá ẩm. Luôn luôn bảo dưỡng và điều hoà Khí
lực, không để xúc động thái quá. Thái cực quyền trong tŕnh độ luyện
tập để bảo vệ sức khỏe, được gọi là vơ dưỡng sinh. Nếu quan sát
người diễn tập thành thạo một bài Thái cực quyền, ta sẽ thấy nó đặt
trên hai nguyên tắc. Một là giữ cho chuyển động liên tục để vận hành
của Khí không bị ách tắc hoặc gián đoạn. Hai là trong mỗi tư thế đều
có khinh có trọng, giữ đúng quân b́nh Âm Dương. Người luyện tập Thái
cực quyền chuyển động theo một chuỗi liên tục các cử động, tránh
tuyệt đối sự vận dụng tư duy hoặc ư thức, để bản thân thẩm thấu ḍng
tuôn chảy tự nhiên của năng lượng vật lư và cảm xúc. Ra đời từ
khoảng thế kỷ 14, Thái cực quyền của họ Dương đă và đang cùng với
của các họ Trần, Triệu, v.v… đă chứng tỏ sự linh nghiệm của nó qua
quá tŕnh luyện tập của hàng chục thế hệ trong và ngoài Trung Hoa từ
sáu bảy trăm năm nay.
Vơ thuật.
Cũng giữ hai nguyên tắc về Khí và Âm Dương của Thái cực quyền, nhưng
người luyện tập càng nhiều, vơ công càng cao th́ từ những cử động
mộc mạc, thanh thoát và như nhất, sẽ nâng vơ thuật lên mức vơ đạo.
Âm được hiểu là thủ, thoái, tấn… Dương được hiểu là công, tiến,
chuyển… Ngay trong quá tŕnh của một đ̣n thế cũng bao hàm quá tŕnh
diễn biến Âm và Dương. Thêm nữa, khái niệm về Khí có ảnh hưởng sâu
sắc lên vơ thuật trong phương pháp luyện nội công. Nếu không có khí
công, người luyện vơ không thể đạt tới tŕnh độ cao đẳng. Với các vơ
phái gốc Đạo học như Vơ Đang, một bài thảo quyền cước hay binh khí
Bát quái hay Ngũ hành, Thái cực, v.v... là sự liên tục của các
“đường thảo”, chứ không phải chỉ là sự kết hợp các “thế vơ” như của
Thiếu Lâm vốn có gốc tích từ Kerala, Ấn Độ.
Thư
pháp. Ḥn non bộ, v.v...
Như thế,
với Đạo học, chúng ta có một nền văn hoá Á đông phấn đấu và sống
quân b́nh một cách tự nhiên, nhằm phản ánh trung thực triết thuyết
nằm bên dưới nó. Ở đây, không đơn giản là vấn đề qui ước xă hội,
cũng không phải là một nền đạo đức sản sinh như là hậu quả của các
nguyên lư tiềm ẩn và vượt thời gian. Đúng hơn, nó là nỗ lực nhằm
phản ánh siêu h́nh học – hiểu theo cảm giác về một dạng cấu trúc
tiềm ẩn và về ư nghĩa của thực tại – trong cuộc sống hằng ngày, và
qua đó, tạo nên t́nh trạng khả thi cho tính tự nhiên trong lối sống
và phẩm cách của con người.
Nền
chính trị tối thiểu
Ở một đoạn
trên, chúng ta đă nh́n từ quan điểm của Lăo Tử về một chính quyền
được thánh nhân lănh đạo với quốc sách cứ để mặc dân sống mộc mạc,
tới chủ trương vô chính phủ của Trang Tử. Chúng ta cũng đă nói tới
chủ đề chính của Đạo đức kinh và sự phê b́nh của tác giả về tính
chất nhân tạo trong nền văn hoá của người Á đông và trong cuộc sống
xă hội. Cả Lăo Tử lẫn Trang Tử đều đồng thuận rằng tự nhiên là một
quá tŕnh độc lập với sự can thiệp của chính quyền. Như thế, Đạo học
c̣n t́m kiếm điều ǵ đó sâu xa hơn và hợp lư cho thực tại cuộc sống
đang diễn ra chung quanh và đang bị người của cơ chế xă hội và định
chế chính trị đề quyết rằng trí lực sẽ tác động tích cực và hữu
hiệu.
V́ lấy cá
nhân làm khởi điểm, Đạo học nh́n các tổ chức và các luật lệ áp đặt
của xă hội là những tác nhân làm hư hoại các khao khát tự nhiên và
năng lượng của người dân. Nhà nước lư tưởng là một nhà nước càng ít
can thiệp vào cuộc sống của người dân càng tốt. Có lẽ nguyên tắc
chính quyền thụ động tối đa ấy được rút ra từ sự quan sát rằng các
nhà cai trị có khuynh hướng hành động v́ lợi ích của bản thân và
thân nhân bè bạn chứ không phải v́ lợi ích của thần dân.
So với
triết Tây
Ở đây, ta
thấy có điểm tương đồng rơ ràng nhất khi so sánh quan điểm chính trị
của Đạo học với chủ trương vô chính phủ của Tây phương. Trong số các
nhà tư tưởng ấy, ta bắt gặp khuôn mặt vô chính phủ của Proudhon thế
kỷ 19, hoặc thậm chí Leo Tolstoy, văn hào Nga. Hay ngay cả dự phóng
của Karl Marx trong chế độ cộng sản với xă hội vô giai cấp, sau giai
đoạn chính phủ chuyên chính của giai cấp công nhân, tới thời kỳ
chính quyền như một bộ phận sinh hoạt hành chánh tối thiểu.
Ta cũng có
thể thăm ḍ tính chất của xă hội dân sự và vai tṛ của các tổ chức
phi chính phủ trong xă hội học và chính trị học hiện đại, để thấy sự
đóng góp tự phát của người dân, như một đối trọng và điều hướng
những chính sách “tích cực can thiệp” của chính quyền và sức nặng
tŕ trệ của cái gọi là truyền thống xă hội. Cái khác biệt cơ bản với
quan điểm tự nhiên của Lăo Trang là xă hội dân sự chỉ hoạt động hữu
hiệu khi nó được công nhận là một định chế, với đầy đủ pháp chế.
Địa lư
phong thuỷ
Nếu chiêm
nghiệm là phương thế nội tại để cảm nhận và sống trong hoà điệu th́
về mặt ngoại tại, có một phương thế hiển nhiên khác là phong thuỷ.
Theo nghĩa
đen, Phong là gió và Thuỷ là nước, hai thành tố tự nhiên, tiêu biểu
cho mọi thành tố khác của một quang cảnh. Theo nghĩa bóng, phong
thuỷ chỉ chung mạch đất, hướng gió, đường nước chảy, v.v… Thuật ngữ
phong thuỷ được dùng chuyên biệt trong khoa địa lư, một môn học cho
rằng khung cảnh chung quanh có quan hệ thiết yếu tới cát hung hoạ
phúc của người sống và sự siêu thoát cùng khả năng phù trợ của người
chết.
Khoa địa lư
phong thuỷ ban đầu đặt căn bản trên thuyết Ngũ hành và về sau, chú
trọng hơn tới Âm Dương, Bát quái. Do đó, nguồn gốc của nó không hẳn
là Đạo học mà bắt nguồn từ các phạm trù trừu tượng của Kinh Dịch như
Thái cực, Âm Dương, Khí, Ngũ hành, Long mạch, v.v... Nói chung, phần
lớn người Á đông, đặc biệt tại Trung Hoa, tin rằng con người sống
th́ có nhà cửa, gọi là Dương cư hay Dương trạch, chết th́ có nơi
chôn cất, gọi là Âm phần hay Âm trạch. Khi đang sống, nếu ngôi nhà
bạn đang ở đắc cách, sẽ giúp bạn hanh thông, thịnh đạt trong công
việc. Sau khi chết, nếu ngôi mộ của bạn đắc cách, vong linh bạn được
nghỉ yên và con cháu sẽ nhờ thế mà vượng phát.
Thông
thường, hai tiêu chí của đắc cách là Long mạch linh hoạt uyển chuyển
theo h́nh thể chạy dài của sông núi chung quanh và đường chu lưu
thông suốt của Khí. Đặc biệt nếu h́nh thể núi non chung quanh mộ địa
bị phá cách, tả Thanh long hữu Bạch hổ, tiền Chu tước hậu Huyền vơ
khắc kỵ nhau, ḍng họ của bạn có nguy cơ bị diệt tộc.
Theo di chỉ
khảo cổ, ư thức phong thuỷ đă có từ 6.000 năm trước tại Trung Hoa.
Ban đầu có lẽ do vị trí nhà cửa thuận giao thông và tiện pḥng ngự.
Về sau, ngày càng được nâng cấp lên thành bộ môn chuyên biệt của các
nhà địa lư. Trong cuốn sách cổ Táng kinh, tá danh Quách Phác, có
viết: “Khí theo gió ắt tản mác, hạn v́ nước, ắt ngưng lại. Người xưa
muốn tụ lại khiến cho nó đừng tản mác, làm khiến nó ngưng lại, nên
gọi là phong thuỷ. Phép coi phong thuỷ, hơn hết là đắc thuỷ, kế đến
là giữ gió”.
Nếu xét
theo cách người xưa chọn nơi ở thông gió và tươi tốt, th́ ta thấy
phong thuỷ là một nghệ thuật về không gian cư trú thoáng đăng hoặc
cảnh sắc khoảng khoát nên thơ nơi mộ địa, rồi dần dà bị mê tín hoá
và duy tâm hoá. Xét theo quan điểm khoa học hiện đại, th́ môn địa lư
từ xưa đă biết vận dụng sự tương tác và chuyển hoá giữa vật chất và
năng lượng để xây dựng lư thuyết về kiến trúc xây dựng. Họ phát biểu
theo ngôn từ thời đó với những lập luận dựa vào năm yếu tố Ngũ
quyết: Long, Huyệt, Sa, Thuỷ và Hướng, trên nền tảng quân b́nh Âm và
Dương (sáng – tối, nóng – lạnh, ấm – mát, v.v...). Như thế, hiểu về
phong thuỷ tức là biết cách thiết kế môi trường sinh hoạt thuận với
luồng chảy của năng lượng và do đó, thụ hưởng tối đa tiện ích của
nó.
Đối với vị
trí của ngôi nhà và thậm chí đồ đạc bên trong cũng thế. “Dương cư”
có thể chịu sự tác động do bởi ḍng chảy của năng lượng vũ trụ, nói
theo Đạo học là Khí. Các phần của nơi ta ở liên quan tới tuổi tác,
nghề nghiệp, sức khỏe thể lư, t́nh trạng tâm lư và lề lối sinh hoạt
thường ngày của người sống trong đó. Những yếu tố ấy có lẽ không có
ǵ là thần bí, và một thầy địa lư giàu kinh nghiệm, có kiến thức
vững vàng, sẽ cho bạn những lời khuyên hữu ích, tạo bầu không khí
tích cực cho không gian sống để bạn thưởng ngoạn tối đa sự phong phú
của cuộc đời.
Về phương
diện triết học, phong thuỷ nỗ lực mang các khía cạnh kiến trúc nhân
tạo của cuộc sống vào sự cân bằng tự nhiên, hàm chứa trong cụm từ
“quân b́nh Âm Dương”. Ngôi mộ của cha ông được đặt trong một khung
cảnh đẹp và thoáng sẽ giúp thân nhân có cảm giác ủi an, tích cực và
được gia tăng t́nh cảm, ư chí để cùng sống phấn đấu bên nhau. Ngôi
nhà toạ lạc giữa khung cảnh thanh thoát, đồ đạc được bố trí chính
xác và cân đối, sẽ hội tụ và phát toả năng lượng tích cực, làm cho
người sống trong đó cảm thấy thoải mái và gây được thú vị, thiện cảm
tự nhiên cho người mới đặt chân vào nhà.
Tóm lại, có
thể nói rằng phong thuỷ là một thí dụ điển h́nh cho thấy triết học
Đông phương không cách ly với các khía cạnh cụ thể của cuộc nhân
sinh, không phân biệt giữa thế giới hàn lâm và thực tiễn đời sống.
Qua phong thuỷ, chúng ta có những lư luận và kỹ thuật thực tế nhằm
cải thiện phẩm chất và năng lượng có sẵn trong cuộc sống của ḿnh,
và đồng thời, nó c̣n cho thấy kết quả trực tiếp của việc biết cách
áp dụng các khái niệm vốn mang tính siêu h́nh tự căn bản.
VII. Đạo
giáo
Chữ “giáo”
trong Nho giáo đặt nặng khía cạnh giáo hoá, phát xuất từ một truyền
thống triết học lấy lễ nghĩa của con người và xă hội làm căn bản,
c̣n chữ “giáo” trong Đạo giáo có ư nghĩa đặc thù của một tín
ngưỡng.
Đạo giáo là
một tôn giáo bản địa, có thời từng được phong là quốc giáo và thấm
sâu vào cuộc sống tâm linh cùng lễ tế của người Trung Hoa. Và nói
như Lỗ Tấn trong thư trả lời Hứa Thọ Tường ngày 20.8.1918 rằng “Căn
rễ Trung Hoa hoàn toàn ở Đạo giáo”.
Lịch sử
thành lập
Người thành
lập Đạo giáo là Trương Thiên sư, tên thật là Trương Đạo Lăng, tác
giả của 24 thiên Đạo kinh. Kinh sách Đạo giáo kể rằng ông có cơ
duyên sở đắc Thái b́nh kinh và là cháu 9 đời của Trương Lương. Theo
nghiên cứu của Nguyễn Duy Hinh th́:
“Lịch sử ra
đời Đạo giáo được ghi lại trong sử sách Trung Quốc khá phức tạp và
nhiều khi mâu thuẫn nhau về nhân vật, quan hệ, truyền thừa và thời
điểm.
Nói chung
vào khoảng cuối thời Đông Hán (cuối thế kỷ II sau công nguyên) có
nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân thường được phát động dưới ngọn cờ
tôn giáo. Năm 141 xuất hiện Ngũ Đấu Mễ Đạo của Trương Lăng và năm
184 xuất hiện Thái B́nh Đạo của Trương Giác. Hai h́nh thức này được
xem là h́nh thức tổ chức đầu tiên của Đạo giáo, thường được mệnh
danh là Đạo giáo sơ kỳ, Đạo giáo tảo kỳ tức là Đạo giáo thời kỳ
đầu.
Ngũ Đấu Mễ
Đạo (v́ tín đồ nhập đạo phải nộp 5 đấu gạo) do Trương Lăng (Trương
Đạo Lăng) lập năm 141 ở Tứ Xuyên ngày nay. Trương Lăng (34-156) sinh
ở Giang Tô, tinh thông kinh sử, là Thái học thư sinh, rồi làm huyện
lệnh ở Tứ Xuyên năm 26 tuổi. Sau đó bỏ quan đi luyện Cửu thiên thần
đan ở núi Vân Cẩm tỉnh Giang Tây. Sau 3 năm th́ luyện thành đan nên
núi này đổi tên thành Long Hổ sơn (thuật ngữ luyện đan Long là
dương, Hổ là âm, âm dương hợp thành nguyên thần). Long Hổ sơn sau
này thành tổ đ́nh phái Long Hổ do con cháu Trương Lăng nối tiếp nhau
làm thiên sư, thành một phái chính trong lịch sử Đạo giáo.
Nhưng sau
đó Trương Lăng trở vào Tứ Xuyên đến Hạc Minh sơn học đạo, năm 141
tuyên bố được đạo kinh [Thái b́nh kinh] mới bắt đầu truyền giáo, lập
Ngũ Đấu Mễ Đạo, tự xưng Thái Thanh Huyền Nguyên. Đạo giáo ra đời.
Trương Lăng
chết, con là Trương Hành (?–179) nối nghiệp; Trương Hành chết, con
là Trương Lỗ (?– 216) nối nghiệp. Sử gọi ba ông là Tam Trương và gọi
Ngũ Đấu Mễ Đạo là Tam Trương Đạo giáo. Ngũ Đấu Mễ Đạo chữa bệnh bằng
bùa chú, thu mỗi người 5 đấu gạo và tổ chức tín đồ thành 24 trị (đơn
vị hành chính tôn giáo như giáo khu. NDH) có chức sắc (tế tửu) cai
quản, làm cơ sở cho cuộc nổi dậy năm 191.”
(Nguyễn
Duy Hinh, Người Việt Nam với Đạo giáo, nxb Khoa học Xă hội, Hà Nội,
2003, tt 52-53).
Kể từ
Trương Lăng, Đạo giáo tiếp tục cha truyền con nối, theo phả hệ được
ghi nhận cho tới gần đây với Thiên sư đời thứ 63 là Trương Ân Phổ
(1904-1969).
Riêng
Trương Giác (?-184), c̣n gọi là Trương Giốc, lập Thái B́nh đạo, một
chi phái của Đạo giáo, và là lănh tụ giặc Hoàng Cân thời Đông Hán.
Người Cự Lộc, nay là Ninh Tấn, Hà Nam, ông thờ đạo Hoàng Lăo và Thái
b́nh kinh. Hơn mười vạn nông dân, đầu đội khăn vàng, đi theo ông với
câu khẩu hiệu: “Trời xanh đă chết, trời vàng ra đời, đúng năm Giáp
Tí, thiên hạ đại cát”, khắp năm châu, quận. Cuộc khởi nghĩa của
Trương Giác tuy chỉ kéo dài được 10 tháng, nhưng tạo cảm hứng cho
các phong trào nông dân khởi nghĩa về sau. Bạn đọc có thể bắt gặp
biến cố này trong phần đầu Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán
Trung.
Nguồn
gốc của Đạo giáo
Đạo giáo có
từ ba nguồn gốc:
Các tục lệ
sùng bái quỉ thần, sử dụng bùa phép, thần chú, bói toán, v.v... có
từ thời Ân Chu cổ đại.
Phương tiên
đạo chuyên tu thành tiên, cầu thuốc tiên và luyện đan dược thời Tiên
Tần.
Học thuyết
Hoàng Lăo vốn chủ trương dùng thanh tĩnh vô vi làm cơ sở lư luận trị
quốc. Như đă nói ở một đoạn trên, học thuyết này nổi tiếng nhất
trong bách gia chư tử tại học cung Tắc Hạ ở nước Tề thời Chiến
quốc.
V́ thế, Đạo
giáo có thời c̣n được gọi là đạo Hoàng Lăo. Lăo tức là Lăo Tử như
chúng ta đă biết. Hoàng ở đây có ư chỉ Hoàng Đế Hiên Viên Thị, một
nhân vật có trước cả Nghiêu Thuấn, mà theo truyền thuyết đă thống
nhất dân tộc Trung Hoa để từ đó xuất hiện nền văn hoá sáng lạn của
dân Hoa Hạ ở đồng bằng sông Hoàng Hà, tiền thân của Hán tộc. Hoàng
Đế (vua vàng), theo truyền thuyết cũng là người phát minh lịch pháp,
thiên văn, toán số, âm luật và y học… Ngoài việc xem Hoàng Đế là
thuỷ tổ của dân tộc, người Trung Hoa c̣n thần thánh hoá ông, xem ông
vừa sinh ra đă là thần minh và sống lâu tới 110 tuổi. Đối với người
Tàu, Hoàng Đế là một loại “Thượng đế”. Họ lập lăng mộ của ông ở ít
nhất bốn tỉnh khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất là hoàng lăng ở
Kiều Sơn, Thiểm Tây.
Vai tṛ
của Lăo và Trang
Sở dĩ
Trương Lăng tôn Lăo Tử làm giáo chủ với tước phong Thái thượng Lăo
quân có lẽ v́:
Họ Trương
cần một giáo chủ vị vọng, có uy tín, ngang với Phật Thích Ca hoặc
Khổng Tử;
Tuổi tác
của Lăo Đam không kém Đức Phật. Về sau, giáo đồ c̣n bịa chuyện đức
Như Lai là hoá thân của Lăo Tử;
Cuộc đời
của Lăo Tử mơ hồ nên các đạo sĩ dễ thêm thắt, vẽ vời;
Lời của Lăo
Tử giảng rằng Đạo ở khắp mọi nơi, hoá sinh ra vạn vật và là nguồn
gốc của vũ trụ, thuận tiện cho Trương Lăng triển khai rằng Đạo tan
ra thành khí, tụ h́nh lại thành Thái thượng Lăo quân, tức là Lăo Tử,
hoá thân của Đạo.
Đạo đức
kinh có rất nhiều đoạn huyền bí trong đó quan niệm về Đạo rất có
tính tôn giáo, cùng với lư luận và tông chỉ của Đạo gia về thanh
tĩnh vô vi và dưỡng sinh cung cấp lớp sơn trang sức rất tốt để các
đạo sĩ, phương sĩ và tín đồ rộng đường tuỳ nghi giải thích.
Tới triều
đại Đường (619-907), Đạo giáo được phong là quốc giáo. Đường Thái
tông Lư Thế Dân thờ Lăo Tử, tuyên bố rằng Lư Nhĩ chính là tổ phụ của
ḿnh. Ông phong Lăo Tử làm Thái thượng Huyền nguyên Hoàng đế, sau đó
lại mấy lần gia phong làm Đại thánh tổ Cao thượng Đại đạo Kim khuyết
Huyền nguyên Thiên hoàng Đại đế. Sang triều đại Tống, tuy Lăo Tử
được phong tiếp là Thái thượng Lăo quân Hỗn nguyên Thượng đức Hoàng
đế, nhưng các vua Tống không c̣n thờ Lăo Tử, mà bắt đầu thờ Ngọc
Hoàng Thượng đế với đầy đủ gia thất và triều thần trên thượng giới.
Địa vị của
Trang Tử không cao sang bằng nhưng cũng cực kỳ tôn quí. Sách Chân
cáo thời Nam triều, thế kỷ thứ bảy, do Đào Hoàng Cảnh chép lại theo
lời thần tiên công bố rằng Trang Tử sau khi uống đan dược, giữa ban
ngày lên trời, được bổ làm Thái cực vi biên lang. Vua Đường Huyền
Tông phong ông là Nam hoa chân nhân. Sang đời Tống Chân Tông, ông
được phong là Vi diệu Nguyên thông chân quân.
Từ bùa
chú phương thuật
Lúc Trương
Đạo Lăng mới lập, Đạo giáo được gọi là Ngũ đấu mễ đạo v́ người muốn
nhập đạo phải nạp năm đấu gạo, thành tâm hối cải tu theo đạo và dùng
lời chú phù thuỷ chữa bệnh hoặc cầu đảo. Sang đời Đông Tấn Nam Bắc
Triều, nó được gọi là Thiên sư đạo. Từ đó trở đi, các đạo sĩ đời sau
đều tôn xưng đạo của Trương Lăng là Chính nhất đạo, và vị tổ sư sáng
lập là Chính nhất B́nh khí tam thiên chi sư.
Kể từ cháu
nội của Trương Lăng là Trương Lỗ, Đạo giáo được định chế hoá chặt
chẽ hơn với các đạo sĩ, chân nhân, đạo quán và các địa điểm thờ
phượng, nghi lễ phụng vụ cùng một hệ thống thần linh từ Ngọc hoàng
Thượng đế tới Tây Vương Mẫu, Cửu thiên Huyền nữ, Quan Thánh Đế Quân,
Thổ thần, Long Vương, Hà Bá, Diêm Vương, các kim đồng ngọc nữ,
v.v... Ngoài thượng giới, âm ti, dưới sông biển, c̣n có cảnh tiên lơ
lửng nơi rừng xanh núi thẳm giữa cơi trần hoàn.
Nói chung,
Đạo giáo chứa đựng nhiều huyền học, được thể hiện bằng huyền thuật
hơn bất cứ tôn giáo nào khác khiến nó có năng lượng cá biệt, kích
thích người b́nh dân. Theo với thời gian, Đạo giáo bị phân hoá thành
những chi phái đa dạng với những nhân vật nổi tiếng như Trần Đoàn
Lăo tổ, Lă Động Tân, Vương Trùng Dương, Trương Tam Phong, v.v... Lúc
b́nh thường đau ốm, kẻ hoang mang mê tín có thể đến các đạo sĩ xin
phương thuốc chữa bệnh. Gặp thời thiên tai cộng với nhân họa, suốt
quá tŕnh lịch sử Trung Hoa, Đạo giáo từng là nơi nương dựa và là
niềm hứng khởi cho một số hội kín hay phong trào nông dân nổi dậy
như giặc Hoàng Cân (Khăn vàng), Bạch liên hội, Thiên địa hội, loạn
Quyền Phỉ, các bang hội kín, v.v... Ngày nay, người hành nghề phù
thuỷ vẫn tiếp tục được gọi là thiên sư.
Tới đạo
nghĩa làm người
Tuy thế,
Đạo giáo không hoàn toàn chỉ có bùa chú phương thuật mà c̣n chú
trọng tới đạo nghĩa làm người. Kẻ đóng góp tư tưởng quan trọng nhất
về phương diện này là Cát Hồng.
Cát Hồng
(283-343) là học giả Đạo giáo và nhà luyện đan nổi tiếng thời Đông
Tấn. Năm 16 tuổi, ông đọc khắp bách gia chư tử và nổi tiếng về Nho
học. Năm 20 tuổi, ông làm tướng dẹp loạn được phong là Phục ba tướng
quân. Kế đó, Cát Hồng từ quan để đi t́m dị thư, luyện đan và tu
tiên. Về sau, nghe tin ở Giao Chỉ có mỏ đan sa, ông xin đi làm Câu
Lậu lệnh ở đó để tiện việc hái thuốc luyện đan. Khi đi ngang Quảng
Châu, bị quan Thứ sử giữ lại, ông dừng chân ở núi La Phù luyện đan
và viết sách. Mấy năm sau, qua đời.
Tác phẩm
chính của Cát Hồng là hai cuốn Bảo phác nội thiên 20 quyển và Bảo
phác ngoại thiên 50 quyển. Chủ trương lấy thần tiên dưỡng sinh làm
nội, lấy Nho thuật xử thế làm ngoại, ông nhấn mạnh rằng tín đồ Đạo
giáo phải lấy trung hiếu, hoà thuận, nhân tín làm gốc; nếu không tu
đức mà chỉ dựa vào phương thuật th́ không thể trường sinh. Bảo phác
nội thiên của ông ghi chép cụ thể về phương pháp luyện đan là bộ
sách tập đại thành về thuật luyện đan thời Nguỵ Tấn và cũng là tác
phẩm quan trọng nghiên cứu về luyện đan thời Trung Hoa cổ đại.
Nội dung
tư tưởng
Nhà nghiên
cứu văn học Lưu Hiệp (465- 532), tác giả bộ Văn tâm điêu long đă đúc
kết Đạo giáo thành một công thức gồm ba tŕnh độ: “trên (th́) lấy
tiêu chuẩn là Lăo Tử, dưới nữa thuật (đạo) thần tiên, thấp nữa tập
theo (đạo) Trương Lăng”.
Được xem là
một đạo thoát tục và tu tiên với hàng ngũ tăng lữ là đạo sĩ, chân
nhân, có thể tu tại gia hay ở trong rừng sâu núi cao, tư tưởng của
Đạo giáo đặt cơ sở trên bốn điểm:
Thanh tĩnh
vô vi, không tranh đua với đời v́ ít ham muốn, coi tín ngưỡng thần
tiên là trọng tâm, lấy phương sĩ thần học làm phương tiện, kết hợp
với tư tưởng Hoàng Lăo thời Chiến quốc làm lư thuyết chủ đạo. Thần
tiên mà Đạo giáo thờ phượng có khi đă đắc quả thần linh, có khi chỉ
là người phàm tục nhưng đậm đà màu sắc nghệ thuật và cảm tính tự
nhiên. Thế giới thần tiên của Đạo giáo gồm có nơi toạ lạc của thần
minh trên Thiên cung, và dưới đất là nơi cư trú của người đắc đạo
thành tiên như Đông thiên phúc địa, gồm ba ngọn núi thần ngoài biển
khơi là Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu, nơi có tiên ở và
thuốc trường sinh. Đó cũng chính là nơi được cả Tần Thủy Hoàng lẫn
Hán Cao Tổ đều tin là có thật.
Coi trọng
sự sống. Đạo giáo cho rằng có thể tu luyện để được sống lâu trường
thọ rồi thành tiên đắc đạo. Căn cứ vào các kinh điển như Đạo đức
kinh và Âm phù kinh, và hai bộ sách Bảo phác Nội Ngoại thiên, Đạo
giáo đưa ra nhiều cách tu dưỡng sinh và luyện đan mà chúng ta sẽ đề
cập ở đoạn dưới. Đạo giáo xem bản thân con người là tiểu đỉnh đô (ḷ
luyện nhỏ) trong đại đỉnh đô (ḷ luyện lớn) là trời đất.
Để giải
quyết t́nh thế khổ năo của cuộc nhân sinh, Đạo giáo đề cao thuyết
tương đối, vượt lên trên vật và ta, coi đúng và sai cũng như nhau,
như Trang Tử đă nói trong Nam hoa kinh về Siêu vật ngă. Từ đó, con
người tiêu dao ngoại vật để tự ḿnh t́m giải thoát cho bản ngă trong
đồng nhất với vũ trụ.
Phát huy
thuyết Thiên đạo trong Thái b́nh kinh, khuyên con người nên tu nhân
tích đức, làm điều thiện với tôn chỉ cứu độ ḿnh và cứu độ người
khác.
Các
thuật tu luyện dưỡng sinh
Về mặt thực
tế, hai mục đích cơ bản của Đạo giáo là chữa bệnh và bất tử. Các
phương cách cấp thời để chữa bệnh có thể là các phương pháp đả thông
kinh mạch để tác động lên nguồn khí lực của bệnh nhân, kể cả việc
trừ tà, bùa chú dành cho loại tín đồ dân dă. Nhưng chủ yếu, đối với
giới chân nhân, đạo sĩ vẫn là các phương pháp tu luyện: nội đan để
luyện khí và ngoại đan để luyện thuốc.
Đan điền:
Phát huy hiệu quả của Hạ đan điền, một huyệt trừu tượng, nằm ở phía
dưới rốn khoảng một thốn (lóng giữa của ngón tay giữa). Đó là nơi
quê hương giao hội của nước cùng lửa và liên quan mật thiết tới sinh
mệnh con người. Ngoài huyệt chủ yếu ấy, c̣n có hai huyệt phụ là
Trung đan điền ở dưới tim và Thượng đan điền ở giữa lông mi.
Đạo dẫn:
Vận động thân thể, phối hợp với các phương pháp hành khí, xoa bóp để
làm cho cơ thể khỏe mạnh, hoặc trị bệnh.
Hành khí:
Dùng thở hít để hỗ trợ cho Đạo dẫn. Phải ngưng thần, không suy nghĩ,
thở đều và nhẹ, đưa khí vào mũi, giữ lại lâu rồi từ từ thở ra, hoặc
hít sâu xuống rồi giữ ở Hạ đan điền, để đả thông kinh mạch và phế
phủ.
Hoàn đan:
Luyện khí chân nguyên thuần dương trong người để không bị tiêu hao
theo tuổi trời.
Hoả hầu:
Luyện thần, dùng ư thức để kiểm soát hô hấp, vận chuyển thần khí
trong người.
Huyền tẫn:
Giữ ǵn căn cơ của Huyền tẫn, huyệt quan trọng nhất, nguồn gốc của
sinh mệnh, tựa như cất giữ tinh khí của thận.
Luyện khí
hoá thần: Dùng ư thức điều chỉnh phân bố nguyên khí để tăng cường
cho nguyên thần, cái hợp thành bởi Âm và Dương, từ hữu vi tới vô vi,
từ ư thức tới tự nhiên, để có thể căi lăo hoàn đồng và chuẩn bị giai
đoạn luyện thần hoàn hư.
Luyện thần
hoàn hư: Đạt tới cảnh giới lư tưởng, luôn luôn an định tịch tĩnh, ở
vào cơi hư không tṛn đầy, vô vi, viên thông vô ngại, đạt tới giải
thoát.
Luyện tam
hoa tụ đỉnh: Đây là giai đoạn cuối của luyện nội đan. Tinh Khí Thần
là ba nguyên tố của con người. Luyện cho Tinh hoá Khí, Khí hoá Thần,
rồi cả ba tụ lại nơi huyệt Bách hội ở đỉnh đầu. Chỉ đạo sĩ có tŕnh
độ nhất định mới có khả năng luyện mà không bị tẩu hoả nhập ma.
Ngoại
đan: Luyện các đan dược, dùng để bồi dưỡng cơ thể, trợ lực cho nội
đan.
Nội quan:
Tập trung tinh thần, nh́n vào tâm của ḿnh để làm sạch tâm, ổn định
ư, giữ vững tinh thần, để không bệnh tật và chẳng già lăo.
Nội thị:
Tập trung tư tưởng nh́n vào ngũ tạng của ḿnh để tâm trí điều hoà,
nguyên khí sung măn, mạnh khỏe trường thọ.
Phục khí:
Thông qua hô hấp tự nhiên, hít vào thanh khí, thở ra uế khí, khiến
nội tạng điều hoà, nguyên khí được bồi bổ và máu huyết chu lưu để
trị liệu bệnh tật.
Phục thực:
Ăn thực phẩm hay uống đan dược để đạt trường sinh, thí dụ các thức
như hoàng tinh, bách hợp, câu kỷ, tùng tử, phục linh, hà thủ ô,
v.v...
Pḥng
trung: Phương pháp dùng để giữ nguyên khí khi sinh hoạt tính dục
(sexual intercourse). Sẽ bàn ở đoạn dưới.
Thai tức:
Luyện tới độ như đứa bé đang nằm trong bụng mẹ, không hít thở bên
ngoài mà sống nhờ nội khí bên trong.
Thổ nạp: Hô
hấp nhẹ nhàng điều hoà, thở uế khí ra, hít thanh khí vào.
Thủ nhất:
Giữ vững hồn và thần trong thân để không bị ngoại giới quấy rầy, tới
độ thân xác và thể phách cùng làm một.
Tịch cốc:
Không ăn ngũ cốc và thịt nhưng vẫn uống thuốc và ăn các thứ khác.
Đồng thời thực hành công phu thực khí, đạo dẫn để làm sạch ruột và
dạ dày.
Tĩnh công:
Ngồi tĩnh toạ hay nằm ngoạ thiền, loại trừ suy nghĩ tạp niệm để vào
cơi an tịnh, dùng tịch tĩnh điều dưỡng chân khí, tu luyện cho thân
tâm thanh tĩnh.
Toạ vong:
Tu luyện bằng cách ngồi yên lặng, khử bỏ trí tuệ để cầu tâm và vật
tương ứng nhau, hầu đạt tới cảnh giới quên cả vật và ta.
Trúc cơ:
Giai đoạn đầu tiên của tu luyện nội đan, phục hồi cơ thể, bổ sung
Tinh Khí và Thần.
Trần
Đoàn Lăo tổ
Lăo tổ là
tiếng dùng để tôn xưng bậc đại thượng thừa trong Đạo giáo, một vị
“thần tiên sống” kiệt xuất. Trong lịch sử Đạo giáo, chỉ có ba người
nhận được danh xưng ấy; một là Hoa Dương Lư Kỳ, tương truyền thọ tới
mấy trăm tuổi; hai là Thuần dương Lăo tổ Lă Động Tân, nhân vật có
thật, quê ở Vĩnh Lạc, Hà Trung, về sau tu thành tiên trong Bát Tiên;
và ba là Trần Đoàn. Cả ba vị này sống cùng thời và có đi lại mật
thiết với nhau.
Trần Đoàn
(?-989) tên tự là Đồ Nam, sinh vào cuối đời Đường và sống vào đầu
đời Tống. Xuất thân nhà rất nghèo tới độ không nhớ rơ năm sinh, và
sử sách không thể ghi chính xác chánh quán của ông là Hà Nam hay Tứ
Xuyên. Nhưng nhờ tài trí của kẻ “Rồng trong loài người” nên ông đă
có những cống hiến lớn lao cho khí công và lư luận của Đạo giáo,
triết học Nho giáo cùng chính trị khai quốc nhà Tống. Năm 931 nhà
Hậu Đường, sau khi thi rớt và tỉnh mộng Nho gia, Trần Đoàn vân du
sơn thuỷ, kết bạn với cao nhân xử sĩ bốn phương. Đến núi Vơ Đang,
ông ở lại tu luyện 20 năm, tịch cốc nhưng mỗi ngày vẫn uống một chén
rượu.
Thông hiểu
Kinh Dịch, giỏi tướng pháp, bói toán, chán công danh, gởi t́nh chốn
sơn thuỷ, nhưng vẫn canh cánh bên ḷng chí lớn về chính trị, nên ông
thường kết giao với chí sĩ và hiệp sĩ giang hồ. Tống Thái Tổ Triệu
Khuônd Dẫn tán tụng ông là “Cao nhân một đời” và ban cho ông hiệu Hi
Di tiên sinh, sau nhiều lần được ông giúp đỡ và khuyên bảo trong
việc “mời người hiền sĩ ở xa, trừ lũ nịnh thần ở gần, giảm nhẹ thuế
má cho dân, trọng thưởng ba quân”. Trần Đoàn là vị đạo cao, học
rộng, cống hiến chủ yếu trên cả ba lănh vực Dịch học, Lăo học và Nội
đan học. Theo truyền thuyết, ông là người sáng tạo ra khoa Tử vi Đẩu
số, dùng lá số dựa vào các thời điểm chào đời, lập thành 12 cung, để
thăm ḍ vận mệnh trọn đời, và nhân đó giáo hoá chủ nhân của lá số về
đạo lư, khích lệ người đời sống với niềm tin “đức năng thắng số”.
Thành tựu
Nội đan của Trần Đoàn là công phu ngủ, giấc ngắn nhất là vài ba
tháng, dài nhất là vài ba năm. Theo Lă Động Tân, đây là “công phu ẩn
cư vào giấc ngủ, trong giấc ngủ vẫn luyện nội đan tự dưỡng, công phu
này gọi là Thai tức”. Tương truyền ông thọ 118 tuổi, có thuyết cho
rằng ông sống tới 190 tuổi. Trần Đoàn rất thích Dịch, tay chẳng rời
sách và là nhà Dịch học vĩ đại. Vô cực đồ và Tiên thiên đồ do ông
soạn ra cho rằng vạn vật nhất thể, chỉ có “nhất đại lư pháp” vượt
lên trên vạn hữu là tồn tại. Tư tưởng ấy về sau được các danh Nho
đời Tống phát triển thành Lư và Khí của Tống nho.
Bản Vô cực
đồ tập trung khái quát vũ trụ quan và lư luận nội đan của Trần Đoàn,
gồm đầy đủ các thuật luyện nội đan và ngoại đan, được đề cập tới ở
phần trên. Nó gây ảnh hưởng rất lớn, đặt cơ sở lư luận bước đầu cho
sự h́nh thành phái Nội đan Đạo giáo Tống Nguyên. Tuy gọn gàng nhưng
đồ h́nh ấy thể hiện được tŕnh tự phát triển của vạn vật, vừa khái
quát được việc tu luyện thân thể của con người, theo nguyên lư:
“Thuận th́ sinh người, nghịch th́ sinh đan”. Về sau, Chu Đôn Di theo
Vô cực đồ mà giản lược thành Thái cực đồ dành cho người sơ cơ, như
chúng ta thấy hiện nay.
Ngoài hai
đồ h́nh trứ danh vừa kể, Trần Đoàn c̣n để lại nhiều tác phẩm như
Dịch long đồ, Chỉ huyền thiên, Chính dịch tâm pháp chú, Tam Phong
ngụ ngôn, Cao Dương tập, Điếu đàm tập, v.v...
Trong
đời thường và văn học
Đời sống
của con người đi qua cuộc hành tŕnh dài được Đức Phật mô tả ngắn
gọn là sinh, lăo, bệnh, tử. So với ngày nay, thời đại tuy có khác
nhưng nói chung, vẫn khó tránh khỏi những giai đoạn ấy. Và v́ là một
tín ngưỡng, Đạo giáo có chức năng đáp ứng nhu cầu cá nhân khi gặp
những biến cố ấy.
Trước hết
về hoài băo trường sinh. Truyện kể Tần Thuỷ Hoàng sai phương sĩ Từ
Phúc dẫn theo vài ngàn nam nữ đồng trinh lên thuyền ra biển khơi t́m
tiên và thuốc tiên. Họ đi măi chẳng thấy tiên đâu, cuối cùng lưu lạc
tới một nơi ngày nay là quần đảo Nhật Bản. Thời Hán Vơ đế, có các
phương sĩ được vua sủng ái; họ chuyên làm các việc cầu tiên, hái
thuốc, trừ quỉ, luyện đan.
Trong sinh
hoạt dân dă, ta có thể thấy các nghi lễ của Đạo giáo dành cho người
yếu nhược, đau ốm, từ trần, làm thành các tập tục như chữa bệnh bằng
đan dược, trừ tà, trục khí hoặc cầu đảo, trai giới, tang ma, v.v...
Bạn có thể t́m thấy đầy đủ các nghi lễ ấy trong Hồng lâu mộng, một
tác phẩm thấm đẫm cuộc sống tâm linh Đạo học cũng như mô tả khá chi
tiết các nghi lễ, pháp thuật của Đạo sĩ Trung Hoa thuở ấy.
Thời xưa,
nhiều người cho rằng bệnh tật là do ma quỉ quấy nhiễu. Muốn lành hẳn
bệnh, một đằng phải dùng bùa chú để đẩy lùi chúng, một đằng phải cử
hành nghi thức trai đàn để sám hối tội lỗi của ḿnh, cầu siêu cho
linh hồn bị oan khuất. Kinh điển của Đạo giáo ghi đầy đủ các nghi lễ
và pháp thuật do các đạo sĩ, pháp sư hay thiên sư cử hành. Ta cũng
thấy có dấu vết của chúng trong một số nghi lễ trai đàn và giải oan
của Phật giáo dân dă.
Cho đến
nay, không phải hết thảy nghi lễ của Đạo giáo đều đă đi vào dĩ văng.
Có rất nhiều người hiện đại, khi thiếu tự tin trong cuộc sống hoặc
không t́m được lời giải khoa học đầy đủ cho trường hợp bệnh tật của
ḿnh, cũng t́m đến các tập tục của Đạo giáo. Đặc biệt trong nghi lễ
ma chay tang chế, thường phải mời cho được nhà sư hay thầy pháp tới
tụng kinh siêu độ. Tại Trung Hoa, ngay trong các thành phố lớn, vẫn
c̣n rất nhiều toà nhà dán lá bùa viết ḍng chữ: “Khương Thái công
tại thử, chư tà hồi tị: Khương Thái công ở đây, các tà ma hăy tránh
đi”.
Ảnh hưởng
nhiều mặt của Đạo giáo trong văn học đối với tác phẩm Hồng lâu mộng
th́ như ta đă kể. Ngoài ra, c̣n có rất nhiều tác phẩm khác, đặc biệt
là Phong Thần diễn nghĩa, kể lại cuộc tương tranh quần tiên giữa
phái Xiển giáo và Triệt giáo trong bối cảnh chiến tranh diệt nhà
Thương, lập nhà Chu. Cho đến nay, tác phẩm ấy vẫn chưa gặp người
giải mă. Bên cạnh đó là Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, tuy tác
giả mượn chuyện ma nói chuyện người nhưng vẫn bàng bạc không khí Đạo
giáo.
C̣n một tác
phẩm đă được giải mă là Tây du kư của Ngô Thừa Ân, kể về cuộc song
hành bổ túc và tương tác của Đạo giáo và Phật giáo trên con đường
phù trợ chúng sinh giải thoát, đồng thời phản ánh quá tŕnh tu tập
cam go của người đi theo Đạo. Từ nửa sau thế kỷ 20, các tác phẩm vơ
hiệp hiện đại của Kim Dung mà chắc chắn tác giả có lấy cảm hứng từ
tư tưởng Lăo Trang, đă nhấn mạnh vị trí của Khí trong sinh mệnh con
người, đặc biệt với bộ Tiếu ngạo giang hồ, đă làm nổi bật vai tṛ
của Đạo giáo trong văn hoá Trung Hoa.
Nguồn
cơn làm giặc hay khởi nghĩa
Trong quá
tŕnh lịch sử của Trung Hoa, hầu như triều đại nào cũng phải đối phó
với những cuộc nổi loạn của tín đồ Đạo giáo thuộc Ngũ đấu mễ đạo và
nhiều chi phái Đạo giáo khác nhau, với thành phần tham dự chủ yếu là
nông dân và thủ lănh giáo phái. Trong đó, có thể kể ra các cuộc lớn
như sau:
Thời Đông
Hán, có giặc Hoàng Cân, như đă nói ở trên.
Thời Tây
Tấn, khoảng năm 303 và 304, Lư Hùng đánh chiếm Thành Đô, Tứ Xuyên.
Thời Đông
Tấn, Lư Tuấn nổi loạn 10 năm ở vùng trải dài từ Triết Giang tới
Quảng Đông, Quảng Tây.
Thời Tuỳ và
Đường, Di Lặc giáo nổi loạn nhiều nơi.
Thời Ngũ
Đại và Bắc Tống, đạo Ma-ní (có gốc từ Ba Tư) rồi hậu thân của nó là
Minh giáo nổi loạn nhiều nơi, kéo dài cả trăm năm.
Thời Nguyên
và Minh có rất nhiều giáo phái nổi loạn, nổi bật nhất là Bạch Liên
giáo kéo dài khi mạnh khi yếu suốt mấy trăm năm. Chưa kể Vô vi giáo,
Tam hoàng Thánh tổ giáo, v.v...
Thời Thanh
có các phong trào phản Thanh phục Minh, nổi bật nhất là Thiên địa
hội, rồi tới Thái b́nh thiên quốc, Thanh trà môn giáo, Đại thừa
giáo, và loạn Quyền phỉ, v.v...
Có một lập
luận mang tính chính thống, sai sự thật và cố t́nh xuyên tạc rằng sở
dĩ nổ ra những cuộc nổi loạn ấy chẳng qua v́ nông dân ít học và mê
tín, bị khích động bởi những đầu lĩnh cơ hội chủ nghĩa, lợi dụng tôn
giáo. Các nghiên cứu lịch sử cách mạng cho thấy nguồn cơn và tâm lư
của những người tham dự hoàn toàn không giống như thế, nếu không
muốn nói là có tính cực kỳ chính nghĩa.
Chịu ảnh
hưởng của hai nguồn tư tưởng Nho giáo và Đạo học, người Trung Hoa
một đằng trọng tôn ti trật tự và sống theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín, một đằng muốn được “thanh tĩnh vô vi” để yên phận làm ăn, càng
ít dính líu tới chính trị càng tốt. Thế nhưng một khi đi liền với
thiên tai là nhân họa do tệ nạn vua quan đă bất lực, c̣n liên tục
nhũng nhiễu và trường kỳ áp bức, th́ thảm trạng lên tới mức không
c̣n chịu đựng nổi. Trong t́nh thế sinh kế bị xáo lộn sâu xa, các giá
trị đạo lư cổ truyền bị xâm phạm, người thời ấy – và có lẽ người mọi
thời – đối diện với cái chết trước mắt của thể xác và tinh thần, chỉ
c̣n cách duy nhất là nổi dậy để trong chuyển động tạo khác biệt đó,
họ đẩy nhanh quá tŕnh diễn tiến hầu có cơ may tới gần lối thoát.
Theo qui luật Đạo học “Vật cùng tắc biến, biến tắc thông”, và với họ
lúc ấy, sự thẩm định “Danh khả danh” chỉ có giá trị tuỳ thuộc vào
cung cách viết sử chính thống, trong đó kẻ thắng được gọi là vua,
c̣n kẻ thua bị coi là giặc.
Niềm tin
tiềm ẩn trong các phong trào nổi dậy cúa tín đồ Đạo giáo ấy và tác
động của chúng trong ḍng lịch sử cũng cho thấy ảnh hưởng chủ đạo
của tư tưởng Đạo học lên sử quan của người Trung Hoa. Lịch sử không
phải tiến một mạch theo đường thẳng hoặc gập ghềnh theo đường cong;
nó mang tính phản phục, hết thăng tới trầm theo một chu kỳ khách
quan và nằm ngoài ư chí của con người. Trong câu mở đầu kiệt tác
phẩm Tam Quốc Chí, tác giả La Quán Trung đă tóm gọn sử quan ấy rằng
“Phàm cái đại thế thiên hạ, phân liệt lâu lâu ắt lại hợp, hợp lâu
lại chia”.
Pḥng
trung tính dục
Ngay từ
thuở xa xưa, trong Kinh Dịch chúng ta đă thấy có sự phân chia phái
tính đối cực một cách căn bản trong tự nhiên. Thiên nhiên được nh́n
theo giống đực và giống cái, và điều đó cho thấy rơ ràng trong Đạo
học, tính dục đóng vai tṛ rất quan trọng. Âm và Dương, h́nh thức
nhị nguyên căn bản của năng lượng sáng tạo, biểu hiện cho cái và
đực. V́ Âm không thể hiện hữu mà không có Dương nên, về mặt luận lư,
ta không thể không nghĩ rằng quan hệ tính dục giữa hai người khác
phái tính có khả năng giúp cho cả hai nhận biết Đạo, luồng chảy tự
nhiên và quân b́nh của sự sống.
Cổ đại tiền
bối của các chân nhân và đạo sĩ là Trang Tử, một người có vợ. Lăo Tử
Lư Nhĩ chắc chắn cũng thế, v́ nếu không Lư Thế Dân đă chẳng tự nhận
là hậu duệ. Như vậy, hôn nhân không gây trở ngại cho quá tŕnh tu
luyện giải thoát. Rơ ràng toàn bộ cơ sở tư tưởng của Đạo gia không
phủ định cuộc sống gia đ́nh, và sinh hoạt t́nh dục có thể được xem
là tự nhiên. Điều này trái ngược với Phật giáo vốn khích lệ cuộc
sống tu viện.
Tuy thế,
trong cung cách của người Đạo giáo về sau, chúng ta thấy sinh hoạt
tính dục mà họ gọi là pḥng trung, trở thành “có vấn đề”. Đối với
họ, trong cuộc t́m kiếm trường thọ, điều cốt yếu là phải bảo tồn
năng lượng được họ gọi là nguyên Khí. Người ta sợ rằng trong hành
động giao hợp, đàn bà vốn Âm sẽ hút hết cái Dương, khí Dương của đàn
ông. Cụ thể, người ta cho rằng hành động phóng xuất tinh dịch khi
giao hoan là một dạng làm ṛ rỉ khí Dương của đàn ông. Thế nhưng họ
cho rằng việc kích thích ham muốn và hưng phấn tính dục lại có lợi
v́ làm tăng thêm khí Dương. Và như vậy, vấn đề c̣n lại là làm sao
người nam bảo quản được Khí.
Với chủ
trương không để cho thoát khí nhằm ưu tiên kéo dài tuổi thọ, quả
thật Đạo giáo đă thật sự có vấn đề về tính dục. Và nó đưa ra hai
giải pháp:
Bảo khí.
Vẫn duy tŕ quan điểm quan hệ tính dục tối đa để làm dồi dào khí
Dương nhờ hưng phấn, nhưng tới thời điểm cuối th́ giữ lại tinh dịch
để không bị thất thoát khí Dương. Từ cái nh́n hiện đại, rơ ràng quan
điểm này làm trầm trọng thêm sự bất b́nh đẳng giới tính, tuy nhiên
những người Đạo giáo chấp nhận nó không bao giờ để tâm tới lư luận
ấy. Đối với họ, người nam phải bằng mọi giá, bảo tồn và duy tŕ sự
sống trong cuộc t́m kiếm trường thọ.
Tiết dục.
Nam nữ giao hợp là chuyện b́nh thường của hoà hợp âm dương, bằng
không sẽ dẫn đến bệnh úng tắc, không có lợi cho tuổi thọ. Nếu tiết
độ th́ ổn thoả và tăng tuổi thọ. Nếu ham mê vô độ, sẽ gây tổn hại
tính mệnh, dẫn đến cái chết nhanh chóng. Do đó, phải nắm vững “Pḥng
trung thuật”, tiết dục, tránh những lúc no say, mệt mỏi, quá vui
buồn lo sợ và các lúc rét buốt, nóng nực, mưa to, gió lớn, v.v...
Tóm
lại, cho dù theo quan điểm bảo khí hay tiết dục, người Đạo giáo xem
quan hệ tính dục là điều tự nhiên. Sách Hán thư Nghệ văn chí có chép
tám loại tác phẩm pḥng trung, được gọi là Thuật nam nữ hợp khí,
hoặc Hoàng xích (vàng đỏ).
VIII.
Đạo học và các triết thuyết khác
Ngay từ
thời Tiên Tần, trước ngày Tần Thuỷ Hoàng thống nhất đất nước, Trung
Hoa đă nở rộ bách gia chư tử với t́nh trạng các triết thuyết và tôn
giáo không tự cô lập, mà giao du và hỗ tương ảnh hưởng không nhiều
th́ ít. Điển h́nh là thái độ của Khổng Tử không bao giờ bài xích các
truyền thống khác, hoặc những trao đổi của Trang Tử và Huệ Tử trong
Nam hoa kinh hay cuộc quần anh hội của bách gia chư tử kéo dài 150
năm tại học cung Tắc hạ của nước Tề.
Trừ 15 năm
bị “đốt sách chôn học tṛ” dưới triều đại Tần, sang đời Tây Hán, dù
Nho giáo được phong làm quốc giáo, t́nh trạng vẫn kéo dài ổn thoả
như thế. Kế đó, với sự du nhập và lan rộng của Phật giáo, ba nền
triết học chính – Nho giáo, Đạo học và Phật giáo – cùng hiện hữu và
làm cho nhau phong phú thêm tới một mức độ đáng kể.
Đặc biệt,
không một Nho gia nào dám phủ nhận sự kiện Đạo học đă cung cấp rất
nhiều ư tưởng triết học bổ sung cho Nho giáo. Trên qui mô lớn, Nho
giáo tiếp tục quan tâm tới người dân trong bối cảnh xă hội của nó,
tới xă hội như một toàn bộ và tới cách thức xă hội nên được tổ chức
như thế nào. Trong khi đó, Đạo học quan tâm nhiều hơn tới cách thức
cá nhân nhận biết cuộc sống của nó trong ḍng đời đang biến đổi. Đạo
học, ngoài mối quan tâm chủ yếu đó ra, nếu đi kèm theo có những vấn
đề văn hoá, chính trị và xă hội, th́ đó chỉ là những hệ quả thứ
yếu.
Trong quan
điểm về trạng thái biến đổi liên tục của thế giới và phủ định bản
sắc cá nhân cố định, ta thấy Đạo học dù đặt luận cứ của ḿnh trên
nền tảng hoàn toàn khác, vẫn có điểm tương đồng với vô thường và vô
ngă của Phật giáo. Cùng tồn tại bên nhau từ hai ngàn năm nay và tuỳ
cấp độ mà luôn luôn biến đổi theo với thời đại khác nhau, cả ba nền
triết học chính ấy ảnh hưởng lên nhau và lên tư tưởng cùng văn hoá
Trung Hoa. Ta đă thấy rơ điều đó trong phần nói tới Nho giáo, và sẽ
thấy rơ hơn ở phần nói tới Thiền Tông, trong đó có đề cập tới Phật
giáo Trung Hoa.
IX. Đạo
tại Việt Nam
Nước ta
thời xưa đất nhỏ dân ít, sống bằng nghề nông và chài lưới. Tính từ
năm 111 tr.C.N, Hán Vơ đế sai Lộ Bác Đức đem quân sang xâm lăng Nam
Việt tới lúc Ngô Vương đánh đuổi quân Tàu về bắc năm 939 sau C.N.,
Giao Châu bị Bắc thuộc ba đợt, xen ở giữa là khởi nghĩa thắng lợi
với vương triều của Trưng Nữ Vương (40-43) và nhà Tiền Lư
(544-602).
Nhờ sức
sống của dân tộc và ư chí độc lập, dân Việt thu hồi được chủ quyền,
nhưng suốt 1.050 năm ấy, lối sống của dân Nam, dù đă theo lẽ thường
mà bản địa hoá các giá trị du nhập, nói chung vẫn không khỏi bị thẩm
thấu bởi sách lược Trung Hoa hoá, đặc biệt về mặt tư tưởng và tôn
giáo qua nỗ lực “khai hoá” của quan lại qua cai trị và ảnh hưởng của
người Tàu di dân, sang buôn bán hay tránh nạn loạn lạc ở chính
quốc.
Về Đạo
học
Tuy từ thời
nhà Hán, đă có Đạo gia bên Tàu sang lập đạo quán, nhưng có lẽ trong
lần Bắc thuộc thứ ba dưới thời nhà Đường (618-907), triều đại xem
Lăo Tử là tổ phụ và Đạo giáo là quốc giáo, Giao Châu chịu ảnh hưởng
của tư tưởng Lăo Trang rộng răi nhất. Viên thái thú nổi bật thời đó
là Cao Biền, người đắp thành Đại La bên bờ sông Tô Lịch. Theo Trần
Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, trang 73, th́:
“Sử chép
rằng Cao Biền dùng phép phù thuỷ khiến Thiên lôi phá những thác
ghềnh ở các sông để cho thuyền bè đi được. Thiên lôi ấy có lẽ là Cao
Biền dùng thuốc súng chăng?
Tục lại
truyền rằng Cao Biền thấy bên Giao Châu ta lắm đất đế vương, thường
cứ cỡi diều giấy đi yểm đất, phá những chỗ sơn thuỷ đẹp, và hại đến
nhiều long mạch”.
Niềm tin
vào phong thuỷ có ảnh hưởng sâu xa trong văn hoá Việt Nam. Ta thường
bắt gặp câu chuyện về “mả kết, mộ đắc cách” trong chuyện kể về các
danh nhân, thí dụ như của Lê Quí Đôn, ba anh em Tây Sơn, v.v...
Thông thường, những gia đ́nh khá giả đều nhờ thầy địa lư t́m cuộc
đất tốt cho âm phần hay định vị trí tốt cho dương cư. Sử sách c̣n
lưu lại danh tính một thầy địa lư nổi tiếng là Tả Ao, được xưng tụng
c̣n giỏi hơn các thầy Tàu.
Sau khi
nước Nam thu hồi độc lập, triều Lư cho mở khoa thi tam giáo Nho Phật
Đạo, để tuyển người có văn học ra làm quan. Ảnh hưởng của tư tưởng
Lăo Trang rơ nét nhất trong lối sống được tiêu biểu qua thơ văn ca
ngợi cảnh nhàn của hầu hết văn thi sĩ người Việt làm khi c̣n là quan
chức hay lúc về hưu trí. Xuất th́ làm người quân tử, xử th́ thành
bậc ẩn sĩ. Trong đó ta có khuôn mặt tiêu biểu như Nguyễn Bỉnh Khiêm,
kế đó là Nguyễn Trăi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát,
Chu Mạnh Trinh, v.v... Ảnh hưởng Đạo học cũng rơ nét trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du. Cách riêng thú hát Ả đào, đă có từ thời nhà
Trần, và hiện nay c̣n các bài ca trù được sáng tác bởi các nhà thơ
trong thế kỷ 19.
Dấu vết của
ma quỉ và thần tiên cũng được t́m thấy trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ, học tṛ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một tác phẩm mà về
mặt văn chương có thể nói là có nhiều nét đặc sắc hơn Liêu trai chí
dị của Bồ Tùng Linh. Ta c̣n t́m thấy tiên và ma trong Việt điện u
linh tập của Lư Tế Xuyên (1329?), Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh
(1453-1516) và Kiều Phú (1450-?). Cổ tích có câu chuyện Từ Thức lên
cơi tiên giao duyên với tiên nữ, sau đó, về lại trần gian thấy quang
cảnh đă đổi khác cả trăm năm. Truyện thơ có Bích câu kỳ ngộ, không
ghi tên tác giả.
Về học
thuật, ta cũng có một ít đóng góp. Qua những sưu tầm được cho tới
nay, có thể kể Đạo gia Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) về Sấm trạng
Tŕnh, Lê Quí Đôn (1726-1784) với Thái Ất dị giản lục (1747), và
Trần Cao Vân (1866-1916) với Trung thiên dịch, Trung thiên đạo (Bản
của Lương Vĩnh Thuật và Trần Công Định, Tựa của Bửu Cầm, in ở Hoa
Kỳ, 1995, không ghi nhà xuất bản), v.v...
Nội dung
nhu thuận của Đạo học cũng góp phần tạo thành tính uyển chuyển và
bền bỉ của dân tộc Việt Nam. H́nh ảnh tượng trưng cho tính cách
người phương Nam là cành tre mềm dẽo, chẳng ngại chịu uốn cong trước
sức mạnh của mưa băo và áp lực nhưng không để cho ḿnh bị găy gục.
Khi đă chịu đựng tới tận cùng giới hạn, cành tre tự nhiên “phản
phục”, quật trở lại với sức mạnh tận lực của nó và như thế hất tung
những ǵ đang đè trĩu nó.
Vơ cổ
truyền Việt Nam cũng thấm nhuần tính khí ấy. Nó lấy Đạo học làm căn
bản, chung lư thuyết với Vơ Đang Trung Hoa. Ta có các vơ phái thuần
tuư của người Nam nổi tiếng như Vơ Kinh của ḍng họ Nguyễn Hữu tại
Huế, B́nh Định Nam phái với Hồ Ngạnh, vơ Tân Khánh với Phan Văn Hùm,
Sa long cương với Trương Thanh Đăng, v.v... Các bài quyền cước và
binh khí được kết hợp bằng các “đường thảo” chứ không phải các thế
rời như Thiếu Lâm, Karate, Taekwondo, Aikido, Judo, v.v... Đồng
thời, vơ ta lấy chu lưu của khí làm nền tảng vận hành, từ âm nhu
hướng tới quân b́nh Âm Dương và dựa vào uyển chuyển mà biến hoá, kể
cả cách sử dụng binh khí. Thí dụ ta gọi các gậy dài, gậy ngắn là
roi, quyền không đánh mà đi: “múa roi, đi quyền”. Thiệu của các
đường thảo quyền và vũ khí là những bài thơ trường đoản cú Hán pha
nôm, tiêu biểu là bài quyền trấn môn Ngọc Trản chung của mọi vơ
phái.
Về Đạo
giáo
Thông qua
tín ngưỡng, đặc biệt trong công thức Tam giáo đồng nguyên Nho Phật
Đạo, Đạo giáo đă có ảnh hưởng sâu rộng trong sinh hoạt tôn giáo lễ
bái của người Việt với các thể hiện như lễ tế, sấm ngữ, thiên thư,
đạo kinh, đạo sĩ và cơ sở thờ tự.
Đọc trong
tiểu sử của Cát Hồng, ta thấy có nhắc tới mỏ đan sa của Giao Châu
tại Câu Lậu, mà theo Đại Nam nhất thống chí, nơi đó nằm trong huyện
Thạch Thất, cách phủ Quốc Oai 20 dặm về phía tây. Chắc chắn thời đó,
có không ít đạo sĩ Tàu thường xuyên lui tới nước ta để thu thập đan
sa.
H́nh thức
du nhập đầu tiên của Đạo giáo vào nước ta là đạo thần tiên với các
phương sĩ ở cuối thời nhà Hán, chủ yếu là luyện đan. Các tiên ông
như Đổng Phụng cứu mạng Sĩ Nhiếp, và Yên Kỳ Sinh với di tích thăng
thiên ở núi Yên Tử, hoặc thứ sử Trương Tân (năm 201), người theo đạo
Hoàng Lăo. Thời ấy, việc tu tiên cũng đă phát triển khá mạnh. Mâu Tử
đề cập nhiều tới Đạo giáo khi ông viết cuốn Lư hoặc luận để chứng
minh với những trí thức đông đảo đang vây quanh Sĩ Nhiếp rằng Phật
giáo tốt hơn Nho giáo và Đạo giáo.
Sau đó, là
các h́nh thức khác của Đạo giáo. Các nhân vật truyền thuyết thời vua
Hùng trong Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh tập đều trở thành
tiên. Ta có Tứ bất tử (hoặc Tứ phủ) gồm Tản Viên, Chử Đồng Tử, Thánh
Gióng và Liễu Hạnh. Riêng Chử Đồng Tử, một nhân vật được kể là người
Phật giáo nhưng động thái nhuốm màu sắc đạo thần tiên.
Thời Bắc
thuộc, có tới 92 đạo quán làm cơ sở thờ tự của Đạo giáo như Thông
thánh quán và Khai nguyên quán, v.v... Câu chuyện chung quanh việc
lên ngôi vua của Lư Công Uẩn cho thấy việc sử dụng sấm kư và tác
động của nó. Ảnh hưởng của bài thiên thư Nam quốc sơn hà bên bờ sông
Như Nguyệt chứng tỏ ḷng tin có tính Đạo giáo rất cao của quân sĩ
dưới quyền Lư Thường Kiệt.
Từ thời Lư
Trần, các khoa thi tam giáo cho thấy xă hội rất coi trọng Đạo giáo,
xem tương đối ngang hàng với Phật giáo và Nho giáo. Đời Trần, có
những nhân vật thông hiểu Tam giáo và phương thuật như Trần Nhật
Duật, Trần Hưng Đạo, Lê Pháp Quan, v.v... Không ít cung điện hoàng
thành được đặt tên theo Đạo thần tiên như Bồng lai, Cực lạc. Tuy
thế, hầu như chưa bao giờ Đạo giáo là quốc giáo hoặc bị biến thành
công cụ chính trị cho các vương triều.
Trong cuốn
Lăo Tử - Đạo đức kinh, t. 11, Nguyễn Tôn Nhan đă tóm tắt các ư kiến
của học giả Đào Duy Anh như sau:
“Đầu thời
Lê, Lê Thái tổ ra lệnh cấm các ‘vu trùng tả đạo’ chứng tỏ từ thời
Trần-Hồ các phương thuật của Đạo giáo đă phát triển rộng răi trong
dân gian. Theo dă sử th́ trong cuộc khởi nghĩa của nông dân thời Lê,
thời Nguyễn và cả nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp, người ta đă dùng
Đạo giáo để hiệu triệu nhân dân. Vai tṛ của Đạo giáo trong những
cuộc nổi dậy của nhân dân nước ta cũng giống như ở Trung Quốc. Đạo
giáo thần tiên cũng lại giống như ở Trung Quốc, thỉnh thoảng vẫn
được các nhà quyền quí dùng làm phương pháp cầu trường sinh bất tử
hay được các phần tử Nho học bất đắc chí tránh đời hay trốn đời dùng
làm thuật giữ ḿnh và đưỡng sinh.
Trong giới
Nho học thường có tục cầu cơ hay phù kê, hoặc để hỏi tiên thánh về
việc đi thi, gọi là cầu khoa, hoặc là để hỏi về số mạng và công
danh. Thuật phù kê [cầu cơ bút bằng một khúc cây do hai người ngồi
đồng cùng cầm] lại có quan hệ chặt chẽ với việc lập thiện đàn mà
việc này trong phần tư thế kỷ 20 đă thành một phong trào rộng răi do
các nhà văn thân ái quốc lợi dụng đàn tiên đàn thánh để tuyên truyền
chính trị.
Xem thế th́
thấy Lăo học hay Đạo giáo đă có ảnh hưởng rất sâu sắc trong xă hội
Việt Nam”.
Từ chân núi
đền Hùng với đền Ngọc Hoa cho tới khắp nước, Đạo giáo được biến thể
và Việt hoá, vẫn sinh động suốt mấy ngàn năm nay trong sự thờ phượng
của dân gian, đáp ứng khuynh hướng cầu viện tha lực của dân dă. Tuy
chỉ dùng đạo kinh của Tàu, nhưng Đạo giáo Việt Nam từng có một hệ
thống đạo quán, tịnh xá, phủ đền với các đạo sĩ thuộc giới trí thức.
Trong 14 năm đô hộ (1414-1427), với dụng ư diệt trí thức của Đại
Việt, tháng 9 năm 1415, Hoàng Phúc nhà Minh đă cho bắt giải nhiều
nhà nho, nhà sư và đạo sĩ, v.v... về Yên Kinh.
Từ nam
chí bắc, có nhiều cơ sở Đạo giáo nổi tiếng, thu hút nhiều khách hành
hương hằng năm như Động Tam Thanh, Chùa Hương, Điện Ḥn Chén, Chùa
Bà Nha Trang, Núi Bà Đen Tây Ninh, Đền Bà Chúa Xứ Châu Đốc… Ngay tại
Hà Nội, có các đền Trấn Vũ, Ngọc Sơn, phủ Tây Hồ, Phủ Giày... tại
Sài G̣n có Đền Đức Thánh Trần và nhiều điện, miếu.
Các cơ sở
vật chất dùng làm nơi thờ tự hoặc tu tập của của Đạo giáo thường kèm
các chữ như động, quán, viện, cốc, thất, v.v. Hầu như các chùa tên
có chữ “Thiên” đều vốn là nơi thờ tự của Đạo giáo nên trong chùa, có
nhiều tranh tượng mang yếu tố Đạo giáo. Nhiều nghi lễ của Phật giáo
Bắc Tông như giải oan, cầu siêu, trừ tà, bùa chú, gọi hồn, v.v... có
gốc tích phần nào từ nghi lễ thờ phượng của Đạo giáo. Có chùa c̣n
dựng Điện trong khuôn viên của ḿnh, hoặc lập bàn xin xăm ở một mé
trong chánh điện.
Về phản ánh
của nghi lễ Đạo giáo trong văn học, ta có Văn tế thập loại chúng
sinh của Nguyễn Du, và nhiều bài văn tế khác của Nguyễn Đ́nh Chiểu,
Nguyễn Văn Thành… Và ngay cả Lục Vân Tiên, nhân vật kiểu mẫu của
người dân Nam bộ; chàng trai họ Lục ấy cư xử theo Nho giáo nhưng lại
xuất thân từ Đạo giáo. Trong văn học dân gian, ta có truyện thơ Phạm
Công Cúc Hoa, các bài hát chầu văn trong Đạo Mẫu, câu đối, giáng
bút...
Cách riêng
phương nam có đạo Cao Đài, một tôn giáo thành lập vào đầu thập niên
30 của thế kỷ 20, với chủ trương Tam giáo Đồng nguyên và Ngũ chi
hiệp nhất. Trong sinh hoạt tại Thánh thất trung ương ở Tây Ninh hoặc
tại tịnh xá của khoảng 30 chi nhánh khác, ta có thể bắt gặp thoang
thoảng phong vị Đạo giáo trong hiệp thông với cơi thiêng liêng bằng
cơ bút, cùng nghi lễ thờ phượng, phương cách tu tập, thí dụ tịnh
cốc, luyện Tam hoa tụ đỉnh, thuật tu tiên, đạo y và đạo hiệu của
giới chức sắc và tín hữu. Vị giáo tông vô vi của đạo Cao Đài là Lư
Thái Bạch, một thi hào mà theo truyền thuyết là hậu duệ của Lăo Tử.
Trải rộng
hơn hết là các phủ, đền, điện khắp các tỉnh, nhất là ở Bắc và Trung
bộ, với các thần linh cá biệt như Cửu Thiên Huyền Nữ, Liễu Hạnh Công
chúa, Thượng Ngàn Công chúa, Sơn thần Tản Viên, Tiên Dung Chử Đồng
Tử, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lăo, v.v... Hằng năm, đạo Mẫu hoặc Thiên
tiên Thánh giáo có các ngày huư nhật và các nghi lễ như ngồi đồng,
hầu bóng, sai hồn, gọi hồn, xin xăm, đoán quẻ, v.v... Len lỏi vào
dân gian nước ta không thiếu các đạo sĩ dưới dạng thầy cúng, thầy
phù thuỷ, thầy địa lư, các tông phái sử dụng ma thuật, với các tà
thần như bà chúa, âm hồn, v.v... Ngoài ra, ta c̣n có một vơ phái
thường được gọi là Thần quyền, tập luyện và chiến đấu chủ yếu theo
sự hướng dẫn của bùa chú.
Tư liệu
tham khảo
Đào Duy
Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, 1998.
Don
Reisman (Senior editor), Religions of the World, Third Edition, Nxb
St. Martins’s Press, New York, 1993.
Henri Maspero, Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc, Lê Diên dịch,
Nxb Khoa học Xă hội, Hà Nội, 2000.
Hồ
Thích, Trung Quốc triết học sử, Huỳnh Minh Đức dịch, Nxb Khai Trí,
Sài G̣n, 1970.
John
Bowket (edited), The Oxford Dictionary of World Religions, Nxb
Oxford University Press, New York, 1997.
Lao
Tử & Thịnh Lệ (chủ biên), Từ điển Nho Phật Đạo, Mai Xuân Hải biên
tập bản dịch, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2001.
Mel
Thompson, Eastern Philosophy, Nxb NTC/Contempory Publishing, Hoa Kỳ,
2005.
Một
số Từ điển Triết học bằng Anh ngữ.
Ngô
Đức Thịnh, Đạo Mẫu ở Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1996.
Ngô
Tất Tố, Kinh Dịch trọn bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991.
Nguyễn Duy Cần, Lăo Tử - Đạo đức kinh, Nxb Khai Trí, Sài G̣n, 1968.
Nguyễn Duy Cần, Trang Tử - Nam hoa kinh, Nxb Khai Trí, Sài G̣n,
1968.
Nguyễn Duy Cần, Trang Tử tinh hoa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992
Nguyễn Duy Hinh, Người Việt Nam với Đạo giáo, Nxb Khoa h ọc Xă hội,
Hà Nội, 2003
Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch, đạo của người quân tử, Nxb Văn Hoá, Hà
Nội, 1976.
Nguyễn Quyết Thắng, Từ điển tác gia Việt Nam, Nxb Văn Hoá, Hà Nội,
1999.
Nguyễn Tôn Nhan, Bách khoa toàn thư: Văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb
Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2000.
Nguyễn Tôn Nhan, Lăo Tử - Đạo Đức Kinh, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1999.
Nguyễn Tôn Nhan, Liệt Tử - Xung hư chân kinh, Nxb Văn học, Hà Nội,
1999.
Nhượng Tống, Trang Tử - Nam hoa kinh, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2001.
Phan
Bội Châu, Chu Dịch, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1996.
Phùng Hữu Lan, Đại cương triết học sử Trung Quốc, Nguyễn Văn Dương
dịch, Nxb Thanh Niên, Tp Hồ Chí Minh, 1999.
Trần
Công Định, Nhà cách mạng Trần Cao Vân với Trung thiên dịch Trung
thiên đạo, Hoa Kỳ, 1994
Trần
Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nxb Văn hoá Thông tin tái bản, Hà Nội,
1999.
Will
Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nguyễn Hiến Lê dịch, Nxb Văn hoá
tái bản, Hà Nội, 1997.
Ghi chú:
Đây là chương 7 của cuốn Đại cương triết học Đông phương, sắp xuất
bản.
|
|